GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 9

TRANG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z5547940853696_c22e1de8ba6efc311887a62f5e563901.jpg Z5547940811788_25a94d4644ada0ae8a28a704440d8808.jpg Z5547940810742_117d36aa84d633f50a06fff45e988b07.jpg Z5547929511935_166ec05c4d6c1475f0eb506d54b29b71.jpg Z5547929456682_261a5bed5fad4a97d7dba4b3ec3699d2.jpg Z5547929448801_126266d54659f74f38252045ee8a1acc.jpg Z5547929432436_7e13bc07c3a7a3d8354de847005f90f5.jpg Z5547929424023_6d8abea7541817a8bd661b044a148b2a.jpg Z5547922612174_13666a638e8142e7c46809c9ba6eeba5.jpg Z5547922611148_793b00be8f3385a236984507ea1413b4.jpg Z5547922592137_6e0c82d7662daef7d6093eb879f1c9a2.jpg Z5547922584614_25fd4f958afbba6a7a1e4a5b5ba14fc5.jpg Z5547940768588_fcb6f157dacd8274e8a9169ac6cd4c22.jpg Z5547940757126_7dd7723249b1fa5bcaac7fc0f61a7730.jpg Z5547921981851_835f3a4d0676ff63f0b1af949b5de289.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WELLCOME

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10

    DANH NGÔN VỀ ĐỌC SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH

    GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY

    284 anh hùng hào kiệt của Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phùng Thu Hương
    Ngày gửi: 16h:38' 29-06-2024
    Dung lượng: 553.9 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    248 ANH HÙNG HÀO KIỆT CỦA VIỆT NAM
    Edit by MimoBile Team!
    Vũ Thanh Sơn
    Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net

    LỜI GIỚI THIỆU
    PHAN BỘI CHÂU
    TĂNG BẠT HỔ
    VƯƠNG THÚC QUÝ
    PHAN CHU TRINH
    HUỲNH THÚC KHÁNG
    NGÔ ĐỨC KẾ
    ĐẶNG VĂN BÁ
    NGUYỄN AN KHƯƠNG
    ĐẶNG TỬ KÍNH
    NGUYỄN THƯỢNG HIỀN
    PHẠM VĂN NG
    HỒ HỌC LÃM
    TRẦN HOÀNH
    ĐẶNG THÁI THÂN
    TRẦN KỲ PHONG
    NGUYỄN THẦN HIẾN
    TRẦN CHÁNH CHIẾU
    NGUYỄN HÁO VĨNH
    ĐẶNG THÚC LIÊNG
    LÊ CƠ
    ĐẶNG NGUYÊN CẨN
    LÊ KHÁNH
    HỒ SĨ TẠO
    LÊ THỊ ĐÀN
    NGUYỄN QUANG DIÊU
    MAI LÃO BẠNG
    NGUYỄN QUỲNH L
    LÊ VĂN HUÂN
    ĐẶNG ĐOÀN BẰNG
    BÙI CHÍNH LỘ
    NGUYỄN THỨC CANH
    NGUYỄN THỨC ĐƯỜNG
    LÝ LIỄU
    ĐỘI PHẤN
    HỒ PHI HUYỀN
    TÔN THẤT DOÃN

    VÕ HOÀNH
    HOÀNG TĂNG BÍ
    TRẦN QUÝ CÁP
    TRƯƠNG GIA MÔ
    BÙI LIÊM
    LÊ ĐÌNH CẨN
    HOÀNG XUÂN HÀ
    LƯƠNG VĂN CAN
    NGUYỄN QUYỀN
    PHẠM TƯ TRỰC
    PHAN TUẤN PHONG
    NGHIÊM XUÂN QUẢNG
    LÊ VÕ
    N' TRANG LƠNG
    HOÀNG TRỌNG MẬU
    NGUYỄN KHẮC CẦN
    NGUYỄN THẠC CHI
    THÁI PHIÊN
    VUA DUY TÂN
    LÊ ĐÌNH DƯƠNG
    LÊ NGUNG
    NGUYỄN THỤY
    PHAN THÀNH T
    LÊ CHÂU HÀN
    LÊ CHÂU NAM
    TÀI LIỆU BIÊN SOẠN CHÍNH

    LỜI GIỚI THIỆU
    Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net

    Bộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” bao gồm 5 tập với tổng cộng gồm 1000 trang
    của tác giả Vũ Thanh Sơn viết về chân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà văn, nhà báo Vũ
    Thanh Sơn đã tập trung khắc họa lại tương đối đầy đủ và toàn diện về chân dung của 284 Anh hùng
    hào kiệt của Việt Nam từ cuối Thế kỷ XIX đến đầu Thế kỷ XX. Trong đó nhiều nhân vật mà các cuốn
    sách đã xuất bản từ trước đến nay chưa hề được đề cập đến. Bằng công trình của mình không những
    tác giả đã đóng góp phần bổ sung cho những thiếu vắng của lịch sử nước nhà (đặc biệt là về nhân vật
    và sự kiện) mà còn góp phần tuyên truyền, giáo dục những tấm gương tiêu biểu cho sự nghiệp cách
    mạng của dân tộc - đó là sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.
    Chân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận đại được tác giả Vũ Thanh
    Sơn tập trung khắc họa ở 3 nhóm chính tương ứng với ba thời kỳ sôi động của lịch sử Việt Nam, đã có
    biết bao anh hùng, nghĩa sĩ hô hào nhân dân vũ trang đánh đuổi giặc Pháp:
    Đó là thời kỳ đầu tranh chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (từ khi liên quân Pháp
    - Tây Ban Nha nổ súng tại bán đảo Sơn Trà, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
    1/9/1858).
    Là phong trào Cần Vương với nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của văn thân chông Pháp (18851896) phát triển rộng khắp từ Nam ra Bắc.
    Và còn là đấu tranh chống Pháp đầu thế kỷ XX với ý thức của hệ tư tưởng mới với các phong
    trào chống thuế ở Quảng Nam, phong trào Duy tân, Đông du dưới sự lãnh đạo của Phan Bội Châu,
    Phan Chu Trinh...).
    Trong cuộc kháng chiến không cân sức này có biết bao anh hùng, hào kiệt đã ngã xuống, nhưng
    ý chí quật cường chống giặc Pháp, cùng những lời tuyên bô đanh thép trước giây phút bị hành hình vẫn
    mãi sáng chói, rạng ngời lên chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đó là những câu nói đến nay ta
    đọc lại vẫn rung động như Tổng đốc Nguyễn Tri Phương tuyên bố: “Bây giờ nếu ta chỉ miễn cưỡng lay
    lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa”; Bình Tây đại nguyên soái Trương Định tuyên
    bố: “Chúng ta thề sẽ đánh mãi và không ngừng, khi ta thiếu tất cả ta sẽ bẻ nhánh cây làm cờ, lấy gậy
    gộc làm vũ khí cho binh lính ta”; hay Nguyễn Trung Trực trước giờ giặc hành hình vẫn dõng dạc tuyên
    bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”... và còn rất nhiều,
    rất nhiều lời tuyên ngôn đanh thép khác.
    Nhìn chung, các nhân vật lịch sử tác giả đề cập đến trong bộ sách đều xứng đáng được
    tôn vinh. Họ có thể là những quan lại, hay những nhà chí sĩ có tinh thần yêu nước. Mặc dù, mỗi người
    ở cương vị khác nhau, vị thế xã hội và hoàn cảnh xuất thân không giống nhau nhưng tất cả những con
    người ấy đều có chung mục đích cao cả nhất là không quản ngại hy sinh gian khổ, kiên quyết đấu tranh

    chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập cho đất nước.
    Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” với quý vị độc giả.
    NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

    PHAN BỘI CHÂU
    Phan Bội Châu trước năm 1900 có tên là Phan Văn Son, hiệu Hải Thụ, sau hiệu là Sào Nam.
    Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông còn có nhiều tên hiệu, bút danh như Thị Hán, Thiên Phú,
    Độc Tinh Tử, Cây Sung...
    Ông sinh năm 1867 trong một gia đình nhà nho nghèo quê ở làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễu,
    huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tháng 10/1900,
    sau khi cụ thân sinh mất, Phan mới có điều kiện hoạt động cách mạng.
    Năm 1901, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí chiêu tập nghĩa binh đánh thành Nghệ An, việc
    không thành. May nhờ có Tổng đốc Đào Tấn che chở, nên không bị thực dân Pháp bắt.
    Năm 1903 Phan Bội Châu đến kinh thành Huế đọc sách ở Quốc Tử giám, đã gặp Phan Chu
    Trinh. Từ đó về sau, hai người còn gặp nhau vài lần nữa, trao đổi chính kiến với nhau. Hai ông thống
    nhất với nhau là muốn cứu nước thì phải mở mang dân trí, coi trọng giáo dục, đưa thanh niên đi du
    học ở nước ngoài, mở mang việc tuyên truyền văn hóa mới. Phan Chu Trinh rất khâm phục con người
    và tài trí của Phan Bội Châu.
    Tháng 2/1905, Phan Bội Châu ra Bắc gặp Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn Can bàn việc phát
    triển Duy tân hội và tổ chức Đông du. Việc Đông du được thực hiện ngay, chuyến đi này ông đem theo
    bốn học sinh trong đó có hai con trai của cử nhân Lương Văn Can là Lương Nghị Khanh và Lương
    Lập Nham (Lương Ngọc Quyến)
    Ngày 25/02/1905, Phan Bội Châu sang Trung Quốc gặp Lương Khải Siêu và Tôn Dật Tiên, Tại
    đây ông viết '”Việt Nam vong quốc sử” ( Lịch sử mất nước Việt Nam), lời tựa do Lương Khải Siêu
    viết.
    Tháng 7 năm 1905. Phan Bội Châu về nước tiếp tục đưa thanh niên sang Nhật. Tháng 9 năm
    1905 (tháng 8 năm Ất Tỵ) Phan Bội Châu về nước sau đó gặp gỡ Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, Phan
    Bội Châu về nhà cử nhân Nguyễn Văn Đảng ở làng Nội Duệ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bàn việc tổ
    chức các nhóm “ Minh xã” “Ám xã” và lập các hội Nông, Công, Thương, Học.
    Tháng 3 năm 1907 trường Đông Kinh Nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, thì văn thơ yêu nước của
    Phan Bội Châu được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường số 4 Hàng Đào và các phân hiệu và
    trong các buổi diễn thuyết bình thơ văn cho đông đảo công chúng nghe. Trên cơ sở hiểu biết về trường
    Khánh Ưng Nghĩa thục ở Nhật Bản mà Phan Bội Châu trao đổi sĩ phu Hà Nội, Lương Văn Can,
    Nguyễn Quyền, Đỗ Cơ Quang, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc... đã quyết định thành lập trường Đông
    Kinh Nghĩa thục.
    Văn thơ Phan Bội Châu sôi sục tinh thần cách mạng đã từ trường Đông Kinh Nghĩa thục nhanh
    chóng phát triển trong nhân dân, trở thành một phong trào.
    Từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, Phan Bội Châu và nhiều chí sĩ Việt Nam lại nhìn
    sang Nhật Bản, mong được sự viện trợ “một nước da vàng tiên tiến” để ca ngợi sự nghiệp Minh Trị
    Duy tân của Nhật và việc Nhật đánh bại Sa hoàng Nga, chủ trương đưa Nhật Bản theo con đường Duy
    tân.
    Việt Nam Duy tân hội sau khi được thành lập cũng đề ra phương châm tranh thủ sự viện trợ của
    nước ngoài. Phan Bội Châu đích thân đi Nhật và phát động phong trào Đông du. Ông cho rằng Nhật
    Bản là một nước Châu Á cùng máu đỏ, da vàng và cùng có một nền văn hóa như Việt Nam, “thường
    lấy việc lợi hại khuyên răn ta, họ nhất định sẽ vui vẻ giúp đỡ chúng ta” .

    Nhưng tới giữa năm 1908, đầu năm 1909, Pháp và Nhật cấu kết với nhau giải tán các tổ chức
    học sinh Việt Nam tại Nhật Bản như “ Công Hiến hội” “Đông Á Đổng văn thư viện”... trục xuất lưu
    học sinh Việt Nam khỏi Nhật, Phan Bội Châu, Cường Để cũng bị trục xuất. Bấy giờ Phan Bội Châu
    mới nhận thức được rằng không thể dựa vào Nhật Bản, nên ông chuyển hướng sang đảng cách mạng
    Trung Hoa và những nước những dân tộc trên thế giới "có căn bệnh giống ta”.
    Năm 1911 cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công, Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng
    thống. Đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam.
    Năm 1912 Phan Bội Châu tuyên bố giải thể hội Duy tân thành lập Việt Nam Quang phục hội.
    Tháng 1 năm 1914, thực dân Pháp thỏa thuận với nhà cầm quyền Quảng Đông bắt Phan Bội Châu giải
    về Đông Dương giao cho thực dân Pháp. Tuy ở trong tù nhưng Phan Bội Châu vẫn tìm mọi cách liên
    lạc với các đồng chí chỉ đạo công việc của cách mạng như đối với cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ tháng
    5 năm 1916, Phan Bội Châu cũng đã ủy quyền cho Nguyễn Thượng Hiền tới đại sứ Đức và đại sứ Áo
    ở Xiêm La nhận tiền để mua vũ khí cho quân cách mạng Việt Nam. Ông bị giam ở núi Quan Âm mãi
    đến năm 1917, quân cách mạng tấn công Quảng Đông, Long Tế Quang bỏ chạy ông mới được giải
    thoát.
    Từ năm 1920 trở đi Phan Bội Châu về Hàng Châu cộng tác vói tờ “Bình sự tạp chí” ông đi lại
    nhiều ở Trung Quốc.
    Ngày 30/6/1925, Phan Bội Châu tới một bưu điện Thượng Hải gửi tiền cho một du học sinh
    đang học ở Đức, thì bị một kẻ phản bội chỉ điểm báo cho mật thám Pháp bắt cóc. Chúng bí mật giải
    ông về Hồng Kông , rồi từ đó đưa ông về Hải Phòng trên tầu Ăng Co, rồi bị áp giải về Hà Nội giam ở
    nhà lao Hỏa Lò. Để tránh dư luận lên án và bí mật hãm hại ông theo bản án tử hình vắng mặt đã có
    sẵn, chính quyền thực dân bưng bít và đặt cho ông một cái tên giả là Trần Văn Đức. Song âm mưu của
    chúng đã bị bại lộ. Quần chúng nhân dân kịch liệt lên án phản đối, đòi trả tự do cho ông.
    Trước sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước phản đối nhà cầm
    quyền Pháp kết án Phan Bội Châu. Hội đồng bảo hộ Pháp phải họp ngay tại phủ Thống sứ để xét lại
    cái án đó. Toàn quyền Varen phải gửi điện về Pháp xin ân xá cho ông.
    Ngày 22/12/1925, toàn quyền Varen phải ký giấy trả tự do cho nhà cách mạng lão thành Phan
    Bội Châu. Ngày 29/12/1925, Tổng thống Pháp cũng phải ký uỷ quyền cho Varen tuyên bố tha bổng
    Phan Bội Châu, sau đó an trí ông ở Huế. Tại nơi an trí Phan Bội Châu không hoạt động chính trị được
    nhưng ôngđặc biệt quan tâm đến thời cuộc. Phan Bội Châu mất ngày 29 tháng 10 năm 1940.

    TĂNG BẠT HỔ
    Tăng Bạt Hổ tên thật là Tăng Doãn Văn, hiệu là Sư Triệu, sinh năm Mậu Ngọ (1858). Ông quê ở
    An Thường, xã Ân Thạch, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
    Ông là người học hành thông minh, thông hiểu kinh sách, từmg luyện tập võ nghệ, cường. Năm
    Ất Hợi (1876) dưới triều Tự Đức, ông vừa 18 tuổi đã thay anh đi lính, trước năm 1883 đã thăng suất
    đội.
    Nghe tin vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương, Tăng Doãn Văn bỏ quân ngũ kêu gọi đồng đội
    chiêu mộ nghĩa quân lập chiến khu tại núi Kim Sơn gọi là Tổng dinh chống Pháp. Lực lượng nghĩa
    quân của Tăng Doãn Văn phát triển nhanh, thực dân Pháp và bọn tay sai biết ông là người đứng đầu
    phong trào Cần vương ở tỉnh Bình Định đã đánh phá căn cứ của ông rất ác liệt.
    Tháng 8 năm Bính Tuất (1888) tên Việt gian Nguyễn Thân kéo quân vào Bình Định, đóng quân
    tại đồn Lại Giang xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn để tiến đánh đồn Tổng Dinh và lực lượng kháng
    chiến ở Kim Sơn. Phán đoán trước ý đồ của giặc, ông mật ước với Thống trấn Bùi Điền lợi dụng đêm
    tối tấn công vào đồn Lại Giang trrước. Tướng Bùi Điền lầm tưởng Lại Giang là Lộc Giang thuộc xã
    Ân Tường, huyện Hoài Ân vào đêm đó lực lượng phân tán, ông bị quân địch phản công nên bị thiệt
    hại nặng nề, đối phó với giặc rất khó khăn.
    Mùa xuân năm 1887, Tăng Doãn Văn cùng một số đồng chí sang Xiêm La toan tính cầu viện cứu
    nước. Khi đi đến dốc Đót giáp với cao nguyên An Khê tỉnh Bình Định gặp con cọp đứng chắn đường,
    mấy người đi theo ai nấy run như cầy sấy. Tăng Doãn Văn không chút sợ hãi, ông nhìn thẳng vào con
    cọp nói: “Này chúa Sơn lâm! Ta đi đây là vì đại nghĩa, chứ không phải việc riêng tư nào khác. Xin
    chúa Sơn lẩn tránh ra một bên để cho kẻ vong quốc này lên đường cho sớm!”
    Con cọp như hiểu được lời ông liền tránh sang một bên, nhường đường cho ông đi qua. Những
    người cùng đi vô cùng cảm phục ông và tôn ông là Tăng Bạt Hổ. Từ đó ông mang tên này.
    Tăng Bạt Hổ ở Xiêm La vài tháng rồi sang Trung Quốc. Ông tới nhiều vùng của hai tỉnh Quảng
    Đông, Quảng Tây gặp gỡ Việt kiều để gây dựng cơ sở. Khi Tăng Bạt Hổ ở Trung Hoa, người Pháp
    xem ông là một phái viên rất đắc lực của Tôn Thất Thuyết bấy giờ đang bị an trí ở Triều Châu. Tăng
    Bạt Hổ có tài nguỵ trang, ông đi về thường xuyên giữa Quảng Đông và Hế biết được biến động chính
    trị ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Dương (Indonexia) nơi mà Tăng Bạt Hổ đã đến
    tận nơi khảo sát tình hình chính trị, kinh tế.
    Trong những chuyến từ Trung Quốc về nước Tăng Bạt Hổ còn đem theo các sách Tân thư, Tân
    văn của Trung Hoa và Nhật Bản về nước. Tăng Bạt Hổ đã có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn
    Thượng Hiền.
    Về nước một thời gian, nhưng cơ hội chưa đến Tăng Bạt Hổ thấy chỉ có con đường đi Nhật như
    Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi đã nói. Để đỡ tốn tiền, ông xin làm thuỷ thủ cho một tàu buôn sang
    Nhật.
    Tháng 10/1904, Tăng Bạt Hổ từ Nhật trở về nước gặp Phan Bội Châu. Ông cùng Phan Bội Châu
    bàn thành lập phong trào Đông du với sự có mặt của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền.
    Tháng giêng năm Ất Tỵ (1905) Tăng Bạt Hổ vừa là người đưa đường, người phiên dịch tháp
    tùng Phan Bội Châu sang Nhật.
    Tháng chạp năm 1905 ông từ Nhật về mang theo thư của Phan Bội Châu nhan đề “Khuyên Thanh
    niên Du học”. Sau đó ông lại cùng Nguyễn Quyền xúc tiến thành lập Đông kinh nghĩa thục.

    Mùa Đông năm Đinh Mùi (1908), ông từ Bắc Kỳ trở vào miền Trung, ông dừng chân tại Huế cổ
    động cho phong trào Đông du thì lâm bệnh. Bệnh ông quá nặng, thuốc thang không giảm, ông mất trên
    thuyền. Các đồng chí an táng ông trên bờ sông Hương.

    VƯƠNG THÚC QUÝ
    Vương Thúc Quý sinh năm Nhâm Tuất (1862) là con trai độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu,
    người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
    Vương Thúc Quý từ nhỏ đã là người học giỏi, tài hoa. Vùng Nam Đàn có bốn người học giỏi
    nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được mệnh danh là “Tứ hổ” thì làng Kim Liên chiếm tới
    ba người là Vương Thúc Quý, Nguyễn Sinh Sắc, Trần Văn Lương, chỉ còn ại Phan Bội Châu người
    làng Đan Nhiệm:
    Uyên bác bất như San
    Thông minh bất như Sắc
    Tài hoa bất như Quý
    Cường ký bất như Lương
    Nghĩa là:
    Không ai hiểu biết rộng như Phan Văn San (tức Phan Bội Châu)
    Không ai thông minh như Nguyễn Sinh Sắc
    Không ai tài hoa như Vương Thúc Quý
    Không ai nhớ giỏi như Trần Văn Lương
    Khoa thi Hương năm Tân Mão (1891), Vương Thúc Quý đi thi đậu cử nhân. Mang nặng mối thù
    nhà, nợ nước, ông không ra làm quan, cũng không đi thi Hội ở nhà dạy học, cùng Phan Bội Châu hoạt
    động cách mạng cứu nước.
    Ngày 14 tháng 7 năm 1901, lợi dụng ngày Quốc khánh nước Pháp có nhiều người đi lại trong
    thành Nghệ An, Vương Thúc Quý, Trần Hải đã theo Phan Bội Châu chỉ huy khoảng 20 người, bí mật
    tập trung trong thành Nghệ An định dùng giáo mác để cướp vũ khí giặc rồi đánh úp tỉnh thành Nghệ
    An. Việc không thành vì tên Nguyễn Điềm phản bội mật báo với thực dân Pháp. Tổng đốc Nghệ An
    Đào Tấn hết lòng che chở, nên Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Hải và những người tham gia
    đều thoát nạn.
    Năm 1904 Phan Bội Châu thành lập hội Duy tân ở Quảng Nam, năm 1905 phát triển ra Nghệ
    An, Vương Thúc Quý trở thành người tích cực hoạt động cho hội Duy tân. Ông tổ chức cho nhiều
    thanh niên Nghệ An xuất dương sang Nhật du học và vận động tài chính cho Hội. Năm 1907, trường
    Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội, Vương Thúc Quý thành lập phân hiệu Đông Kinh
    nghĩa thục ở làng Sen xây dựng tủ sách Tân thư.
    Giữa năm 1907 Vương Thúc Quý trên đường ra Hải Phòng để sang Nhật. Ông tới Nam Định, bị
    ốm nặng phải trở về quê nhà. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngày 19 tháng 7 nãm 1907, Vương Thúc
    Quý cố gắng ngồi dậy, bảo người bên cạnh đưa giấy, bút, viết mấy chữ : “Phụ thù vị báo, thử si1;”
    (Nghĩa là: thù cha chưa báo được đời này thật uổng, rồi trút hơi thở cuối cùng.

    PHAN CHU TRINH
    Phan Chu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây Hồ, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện
    Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Quảng Nam.
    Năm 1900, Phan Chu Trinh thi đỗ cử nhân, năm sau thi hội đỗ Phó Bảng, được bổ làm Thừa
    biện bộ Lễ. Năm 1903 kết giao với Phan Bội Châu.
    Năm 1904 Phan Chu Trinh từ quan tham gia cuộc vận động Duy tân. Năm 1905 ông vào Bình
    Định cùng với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng viết Chí Thành thông thánh. Năm 1905 sang Trung
    Quốc rồi sang Nhật trao đổi chính kiến với Phan Bội Châu, nhưng ông không đi theo con đường vũ
    trang của Hoàng Hoa Thám và Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh muốn lợi dụng chiêu bài khai hóa của
    thực dân Pháp để đấu tranh hợp pháp, trước hết là mở mang trường học để khai hóa dân trí.
    Năm 1906, Phan Chu Trinh ra Bắc gặp Lương Văn Can bàn việc mở một trường học tại Hà Nội
    để làm kiểu mẫu, rút kinh nghiệm mở các trường trong toàn quốc. Sau khi gặp Lương Văn Can, Phan
    Chu Trinh bí mật dời Hà Nội lên Phồn Xương gặp Hoàng Hoa Thám.
    Đầu năm 1907 Phan Chu Trinh trở về Quảng Nam cùng các ông Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc
    Kháng thực hiện chủ trương khai hóa dân trí đã bất chấp sự cấm đoán của bọn cầm quyền Bảo hộ
    Pháp và chính quyền Nam triều, các ông đã đi vận động mở nhiều trường học ở Quảng Nam như
    trường An Phước (Hoa Phụng), Tân Thạnh (Hòa Phước), Hòa An (Hòa Phát) đều thuộc huyện Hòa
    Vang ra đời. Sau khi hàng chục trường học ở Quảng Nam ra đời thì tại Hà Nội, ông cử Lương Văn
    Can, Đốc học Nguyễn Quyền cùng nhiều nhà nho khác đã thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà
    Nội. Lương Văn Can đã mời Phan Chu Trinh ra dạy ở trường Đông Kinh nghĩa thục. Phan Chu Trinh
    đã nhiều lần diễn thuyết về phong trào Duy tân trước công chúng Hà Nội tại trường Đông Kinh nghĩa
    thục và các phân hiệu như ở Chèm, Hà Đông. Ông cổ động cho lối sốngHà Nội. Phan Chu Trinh rất
    quan tâm đến việc đào tạo cán bộ chuyên môn cho từng ngành nghề khuyến khích việc học nghề. Trong
    phong trào Duy tân, Phan Chu Trinh chủ trương không tán thành bạo động vũ trang mà ông chủ trương
    cải cách là "khai thông dân trí, mở rộng dân quyền" trái ngược với chủ trương bạo động của Phan Bội
    Châu. Từ chủ trương cải cách của Phan Chu Trinh đã dẫn tới cuộc đấu tranh "xin xâu, chống thuế ở
    Trung Kỳ".
    Phan Chu Trinh với chủ trương ''Pháp - Việt đề huề” đã có nhiều hoạt động trong giới Việt kiều
    và vận động các chính khách tư sản, hội Nhân quyền và Chính phủ Pháp thực hiện những cải cách ở
    Đông Dương trong khuôn khổ cải lương tư sản.
    Ông bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Phan Chu Trinh khi ở Côn Đảo làm rất nhiều thơ,
    trong đó có bài:
    CÔN LÔN TỨC CẢNH
    Biển dân đời đổi mấy thu đông
    Cụm núi Côn Lôn đứng vững trông
    Bốn mặt dày vò oai sóng gió
    Một mình che chở tội non sông
    Cỏ hoa đất nở cây trăm thước
    Rồng cá trời riêng cả một vùng
    Nước biếc non xanh thiêng chẳng nhĩ
    Gian nan xin hộ khách anh hùng

    Năm 1911 ra tù ông sang Pháp, hoạt động trong Việt kiều yêu nước. Năm 1912, Phan Chu Trinh
    gặp Phan Văn Trường sang Pháp từ trước. Đầu năm 1914 ông và Phan Văn Trường thành lập ''Hội
    người Việt Nam yêu nước" tại Pháp. Tháng 4/1914 ông và Phan Văn Trường bị bắt vì bị vu cho là
    "Mật thông với kẻ thù của nước Pháp" (nước Đức). Phan Chu Trinh cũng đưa con là Phan Châu Dật là
    con thứ ba và là con trai duy nhất sang Pháp học. Trong thời gian Phan Chu Trinh bị giam ở ngục Săng
    đê, Châu Dật được phép mỗi tuần đến thăm cha hai lần chờ ở phòng khách thăm tù. Tháng 4/1914
    chúng phải thả hai ông vì không có đủ chứng cứ buộc tội.
    Ngày 3/2/1925 Phan Chu Trinh diễn thuyết lần cuối cùng ở hội Nhân quyền Paris. Ngày
    28/5/1925 ông cùng Phan Văn Trường đi Mác Xây rồi về Sài Gòn.
    Tháng 6/1925 Phan Chu Trinh về đến Sài Gòn. Ngày 24/3/1926, Phan Chu Trinh đột ngột qua
    đời tại Sài Gòn.

    HUỲNH THÚC KHÁNG
    Huỳnh Thúc Kháng thuở nhỏ tên là Huỳnh Hanh hiệu Minh Viên, sinh năm Bính Tý (1876), ở
    làng Thanh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay là
    xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông nhà nghèo, học giỏi.
    Năm Canh Tý (1900) ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm Giáp Thìn (1904), ông 29 tuổi, đỗ
    đầu kỳ thi Hội (Hội nguyên) rồi đỗ Tiến sĩ Đệ Tam giáp ở kỳ thi Đình. Ông được giới sĩ phu và nhân
    dân xếp là "Tứ Hổ" ở đất Quảng (bốn người học giỏi là Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn
    Đình Hiên, Phạm Liệu). Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ, nhưng không ra làm quan, mà ờ nhà đọc tân
    thư, giao du với các nhà yêu nước như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh.
    Đầu năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng tham gia "Duy tân tự cường" cùng Phan Chu Trinh, Ngô Đức
    Kế. Khác với Phan Bội Châu theo chủ trương bạo lực cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng vận động phát
    khởi phong trào Duy tân cải cách văn hóa xã hội theo hướng ''khơi dân trí, chấn dân khí, hào dân sinh"
    (khẩu hiệu và mục tiêu của phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh đề xướng), Huỳnh Thúc Kháng
    không phản đối đường lối “bạo động xuất dương cầu ngoại viện" của Phan Bội Châu, cũng không hoàn
    toàn tin theo đường lối "bất bạo động, bất ngoại vong" của Phan Chu Trinh. Nếu Phan Chu Trinh tỏ ra
    là người cực đoan thì Huỳnh Thúc Kháng lại là người có vai trò: "điều hòa mâu thuẫn" giữa hai
    đường lối của hai nhà yêu nước họ Phan.
    Ngay sau khi thi đỗ tiến sĩ, Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan, tháng 10 năm Giáp Thìn
    (1904), Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đi khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam cổ
    động cho phong trào Duy tân. Tháng 2 năm Ất Tỵ (1905), Huỳnh Thúc Kháng lại cùng Phan Chu
    Trinh, Trần Quý Cáp thực hiện cuộc "Nam du". Đn nơi nào ba nhà Duy tân cũng "cổ xúy tân học không
    chán''.
    Ông cùng các bạn tù bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn, Sài Gòn chờ đi Côn Đảo. Huỳnh Thúc
    Kháng bị giam ở Côn Đảo từ năm 1908. Tháng 2/1921 ông được tha.
    Tháng 12/1926 ông vận động thành lập một công ty tập hợp những người yêu nước tìm vốn kinh
    doanh để tài trợ cho những hoạt động chính trị.
    Tháng 4/1927, công ty Huỳnh Thúc Kháng được thành lập ở Đà Nẵng với sự tham gia của nhiều
    nhân vật như Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Xương Thái... chuyên ngành in và báo chí. Huỳnh Thúc
    Kháng lấy tư cách là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, đã xin phép xuất bản tờ Tiếng Dân mà ông
    làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.
    Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Tờ báo được coi như cơ quan ngôn luận của
    Viện dân biểu Trung Kỳ, nhưng trên thực tế, cụ Huỳnh đã sử dụng tờ báo này làm diễn đàn đòi một số
    quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ những cải cách có tính chất tư sản và hợp pháp.
    Sau những lần xô xát với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Châu tại kỳ hợp thường niên ngày
    2/10/1928, Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt đường lối phản dân chủ của bọn thực
    dân và ông tuyên bố từ chức. Việc ông từ chức đã dẫn theo sự ly khai của hàng loạt các dân biểu tiến
    bộ. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Huỳnh Thúc Kháng đã gần 70 tuổi. Được sự tin cậy của
    Hồ Chủ tịch, ông đã giữ chức Quyền Chủ tịch nước (và cũng là Quyền Thủ tướng) trong hơn 5 tháng,
    giữa lúc đất nước vẫn bị nạn đói đe dọa và có nguy cơ mất vào tay giặc Pháp và bọn Việt Quốc, Việt
    Cách, tay sai của Tưởng Giới Thạch. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, ông đi
    thanh tra ở tỉnh Quảng Ngãi với tư cách là đại diện Chính phủ. Ông đột ngột mắc bệnh rồi qua đời tại

    nhà một người dân dùng làm trụ sở Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ (chợ Chùa) ngày
    21 tháng 4 năm 1947.

    NGÔ ĐỨC KẾ
    Ngô Đức Kế hiệu Tập Xuyên, sinh năm Kỷ Mão (187 (có sách viết ông sinh năm Mậu Dần
    (1878). Ông người xã Trảo Nha, tổng Đoài, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh, nay là thôn
    Nam Sơn, thị trấn Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (Có sách viết nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc. tỉnh Hà
    Tĩnh). Ngô Đức Kế bẩm tính thông minh, học giỏi từ nhỏ. Khoa thi năm Đinh Dậu (1897), khi mới 19
    tuổi, ông đỗ cử nhân, khoa thi năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901), đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ khi
    mới 23 tuổi.
    Ngô Đức Kế không ra làm quan, đề xuất lối học mới, vận động bỏ khoa cử, hô hào thực nghiệp.
    Ngô Đức Kế có mặt ngay từ khi Duy tân hội được thành lập, hoạt động trong phái "Minh Xã". Phái
    này hoạt động công khai, hợp pháp chuyên lo mở trường học, lập hội buôn, mở xưởng thủ công nghiệp
    để chấn hưng kinh tế đưa phần lớn tiền lãi vào quỹ hội Đông du. Ngô Đức Kế cùng em trai là Ngô
    Đức Thiệu mở một hiệu buôn ở Nghèn. Đến khoảng năm 1906, ông lại cùng với Đặng Nguyên Cẩn,
    Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân thành lập Triêu Dương Thương điếm ở Vinh chuyên lo buôn bán đường
    mật, tơ lụa. Khi Phan Bội Châu xuất dương, ông cùng với các đồng chí đảm nhiệm cổ vũ phong trào
    Đông du. Thương điếm cũng là trạm liên lạc của hội Duy tân, có quan hệ với các hiệu buôn khác cùng
    mục đích vận động Duy tân như Hồng Tân Hưng, Quảng Hương Long, Quảng Nam Hiệp thương công
    ty. Năm 1907, Đông Kinh nghĩa thục thành lập, Ngô Đức Kế ở Vinh nhưng cũng tham gia ban Tu thư
    của trường cùng với Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Chu Trinh. Ban này chia làm hai
    bộ phận: biên soạn và dịch thuật. Ngô Đức Kế ở ban biên soạn. Ông đã soạn được nhiều sách, trong
    đó có các cuốn: "Quốc dân độc bản", "Nam quốc giai sự”, "Nam quốc địa dư", "Quốc văn giáo khoa
    thư", "Luân lý giáo khoa thư"...
    Đầu năm Mậu Thân (1908) cuộc xin xâu nổ ra ở Quảng Nam, Quảng Ngãi rồi lan đến Nghệ
    Tĩnh. Các Hội viên hội Duy tân như Nguyễn Hàng Chi, Trịnh Khắc Lập đứng lên lãnh đạo và hô hào
    đồng bào "xin xâu". Ngô Đức Kế cùng một số yếu nhân như Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Bá, Lê Văn
    Huân... đều tích cực tham gia. Các ông bị nhà cầm quyền bắt vào tháng 3, tháng 4/1908, bị đưa về gi ở
    nhà lao Hà Tĩnh. Tòa án Nam triều do Án sát Cao Ngọc Lễ, Lãnh binh Ngụy Tác Hạ theo lệnh của
    công sứ Pháp Đuxê (Doucet) đã tuyên án tử hình Nguyễn Hằng Chi, Trịnh Khắc Lập. Ngô Đức Kế, sau
    đổi làm tội đồ (đi đày) chung thân, rồi giảm xuống 13 năm đày ra Côn Đảo.
    Ở Côn Đảo Ngô Đức Kế đã gặp Huỳnh Thúc Kháng và hai ông đã trở thành bạn thân thiết cũng
    như với Đặng Nguyên Cẩn và Phan Bội Châu. Bốn nhà chí sĩ cùng có một tâm huyết đánh đuổi giặc
    Pháp, cùng gắn bó với nhau trong sự nghiệp văn chương trong dòng thơ văn yêu nước.
    Hết hạn đi đày, năm 1921, Ngô Đức Kế về quê nghỉ ngơi ít lâu, rồi cuối năm 1922 ra Hà Nội
    chủ trương báo Hữu Thanh, nguyên là cơ quan Ngôn luận của Hội Trung Bắc nông công thương tương
    tế, lúc mới lập do nhà thơ Tản Đà làm chủ bút. Ông còn mở hiệu đối trướng ở phố Hàng Điếu, Hà
    Nội. Ngô Đức Kế là nhà cựu học tiếp cận được với trào lưu mới, ông giao tiếp nhiều, kiến văn rộng,
    Năm 1926, Ngô Đức Kế mở "Giác quần thư xã", xuất bản một số thơ văn của Phan Bội Châu,
    Phan Tây Hồ di thảo... Ông đọc sách Bách khoa toàn thư, viết cuốn "Đông Tây vĩ nhân" trong đó có
    Tôn Dật Tiên, Găngđi.
    Ngô Đức Kế làm sách chưa được bao lâu thì ông ốm nặng và mất vào ngày 10 tháng giêng năm
    Kỷ Tỵ (10/12/1929), tại Bạch Mai, Hà Nội.

    ĐẶNG VĂN BÁ
    Đặng Văn Bá tự Thanh Bình, hiệu Nghiêm Giang, sinh năm 1873, người làng Phất Lão, nay là
    xã Thanh Bình, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
    Ông thi đỗ cử nhân khoa Canh Tý(1900), nên thường gọi là Cử Đặng. Ông tham gia Duy tân hội
    và phong trào Đông du từ năm 1905 thuộc phái "Ám xã". Ông có quan hệ mật thiết với Lê Võ và Trần
    Văn Bỉnh một người Thiên chúa giáo yêu nước cùng tham gia Duy tân hội với ông. Đặng Văn Bá thuộc
    phái “Ám xã” tức là phái vũ trang bạo động. Ba ông có dự mưu khởi nghĩa vũ trang từ năm 1905, ông
    và Lê Võ chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ, Trần Văn Bỉnh là người có năng khiếu
    về c học, từng nghiên cứu cách chế tạo súng đạn lo việc quân giới.
    Khoảng năm Bính Ngọ ( 1906), năm Đinh Vị (1907), Đặng Văn Bá muốn khởi sự ở Trung Kỳ,
    ông đã đầu tư tiền bạc giao cho ông Trần Văn Bỉnh đưa hơn 10 đệ tử đến tỉnh Phương Lâm (Sau đổi là
    tỉnh Hòa Bình) ở xứ Bắc Kỳ là nơi đồng bào dân tộc có nhiều súng cũ hỏng, nơi có rừng núi hiểm trở
    thành lập xưởng đúc súng. Trong khoảng nửa năm. Trần Văn Bỉnh chế tạo súng đã dùng được, nhưng
    còn thiếu đạn, Ông Bỉnh đang nghiên cứu chế tạo thì lâm bệnh nặng rồi mất. Đặng Văn Bá cùng Lê Võ
    tiếp tục chiêu mộ quân, xây dựng căn cứ hoàn chỉnh việc chế tạo súng đạn, thì năm 1908 nổ ra cuộc
    xin xâu, chống thuế từ Quảng Nam lan ra Hà Tĩnh, Nghệ An, Đặng Văn Bá cũng bị thực dân Pháp bắt
    với Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, các ông bị đầy ra Côn Đảo.
    Trần Văn Bỉnh mất, Đặng Văn Bá bị mất, số vũ khí tinh xảo do Trần Văn Bỉnh chế tạo ra cũng
    mất theo. Sau một năm giam cầm trong nhà tù với cảnh “ngậm đắng, ăn cay đợi bữa luôn” giữa “Sóng
    khoá chân thần sau mặt khuất, Biển dăng hơi quỷ khiến người nôn” của cảnh tù đày Côn Đảo, địa ngục
    trần gian, Đặng văn Bá đã khẳng định:
    Trải nhiều gian khổ thêm can đởm (đảm)
    Biệt cảnh quê hương rối mộng hồn.
    Lá rụng một đêm theo gió cuốn
    Non sông khắp xứ thu vòng tròn.
    Ông bị đày 1 năm rồi 2 năm, 3 năm, tìm mưu tính kế bao lần các sĩ phu không vượt được ngục
    vẫn phải âm thầm sống trong tù đày. Các sĩ phu yêu nước lại động viên nhau: Chớ ngại tóc sương
    khắp mái.
    Đến năm 1921 (Có tài liệu viết năm 1916) ông được tha. Ông về ở Sài Gòn. Năm 1925 Phan
    Bội Châu bị an trí ở Huế thì ông về Huế cùng ở với Phan Bội Châu, sau một thời gian ở Huế, ông về
    quê, mất năm 1931. Đặng Văn Bá sáng tác nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm. Xin giới thiệu một số bài
    để thấy rõ tâm tư cùng hoài bão của một ngư̖yêu nước, căm thù giặc sâu sắc:
    TÍCH NIÊN KIM NHẬT ĐÁO CÔN LÔN
    Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn
    Nhữ khổ hàm tân bất đãi luân
    Cựu mục thần châu ba lãng viễn
    Bức nhân quỷ khí hải đào hôn
    Thường đa gian khổ tăng can đảm
    Biệt cửu gia sơn nhiễu mộng hồn
    Nhất dạ thu phong tồi lạc nghiệp
    Thiên sơn vận hái kiến triêu đôn

    Dịch thơ:
    NGÀY NÀY NĂM TRƯỚC ĐẾN CÔN LÔN
    Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn
    Ngậm đắng ăn cay đợi bữa luôn
    Sóng khỏa châu Thần trong mặt khuất
    Biển giăng hơi quỉ khiến người nôn
    Trải nhiều gian hiểm thêm can đảm
    Biệt cách quê hương rối mộng hồn
    Lá rụng một đêm theo gió cuốn
    Non sông khắp xứ thấy vừng tròn.
    Huỳnh Thúc Kháng dịch
    (Theo Thi tù tùng thoại,
    Nxb Nam Cường, Sài Gòn, 1951).

    NGUYỄN AN KHƯƠNG
    Nguyễn An Khương người làng Mỹ Hòa (Quán Tre) huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định, nay thuộc
    thành phố Hồ Chí Minh. Ông là thân phụ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh.
    Khi Phan Bội Châu và các đồng chí phát khởi phong trào Duy tân, thì Nam kỳ là nơi phong trào
    phát triển nhất. Ngoài số thanh niên xuất dương, còn có các nhân sĩ yêu nước, các phú hào, các đại
    điền chủ ủng hộ tài chính.
    Trong số những người tham gia Duy tân hội ở Nam Kỳ ( Nam Kỳ gọi là Minh tân) phải kể đến
    các nhân vật Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư, Gilbert Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến...
    Nguyễn An Khương là chiến sĩ cách mạng, thủ lĩnh phong trào Duy tân ở Nam Kỳ. Ông vận
    động nhiều thanh niên xuất dương, quyên góp tiền bạc cho phong tràoo Khi trường Đông Kinh nghĩa
    thục thành lập ở Hà Nội, ông là người đầu tiên hưởng ứng và tích cực mở trường nghĩa thục ở Na...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama