GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
5 centimet tren giay

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:24' 07-03-2024
Dung lượng: 854.3 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:24' 07-03-2024
Dung lượng: 854.3 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Năm centimet trên giây
Tải ebook miễn phí tại https://www.epub.vn
Giới thiệu
Mình đáng bị bỏ lại đơn độc thế này lắm. Tại sao mình không thể đem lại hạnh phúc cho ai hết,
dù chỉ một chút, dù chỉ một người?
5cm/s không chỉ là vận tốc của những cánh anh đào rơi, mà còn là vận tốc khi chúng ta lặng lẽ
bước qua đời nhau, đánh mất bao cảm xúc thiết tha nhất của tình yêu.
Bằng giọng văn tinh tế, truyền cảm, 5 centimet trên giây mang đến những khắc họa mới về tâm
hồn và khả năng tồn tại của cảm xúc, bắt đầu từ tình yêu trong sáng, ngọt ngào của một cô bé và cậu
bé. Ba giai đoạn, ba mảnh ghép, ba ngôi kể chuyện khác nhau nhưng đều xoay quanh nhân vật nam
chính, người luôn bị ám ảnh bởi kí ức và những điều đã qua…
Khác với những câu chuyện cuốn bạn chạy một mạch, truyện này khó mà đọc nhanh. Ngón tay
bạn hẳn sẽ ngừng lại cả trăm lần trên mỗi trang sách. Chỉ vì một cử động rất khẽ, một câu thoại, hay
một xúc cảm bất chợt có thể sẽ đánh thức những điều tưởng chừng đã ngủ quên trong tiềm thức, như
ngọn đèn vừa được bật sáng trong tâm trí bạn. Và rồi có lúc nó vượt quá giới hạn chịu đựng, bạn
quyết định gấp cuốn sách lại chỉ để tận hưởng chút ánh sáng từ ngọn đèn, hay đơn giản là để vết
thương trong lòng mình có thời gian tự tìm xoa dịu.
Tác giả
Shinkai Makoto
Sinh năm 1973 tại Nagano. Đạo diễn, biên kịch, tiểu thuyết gia nổi tiếng của Nhật Bản, được
mệnh danh là “ảo thuật gia của những nỗi buồn”, cả trên màn ảnh rộng lẫn trên những trang văn.
5 centimet trên giây, ra mắt năm 2007, là hình thức văn chương của bộ anime cùng tên và tiếp
bước nó, lại một lần nữa lay động sâu sắc tâm hồn độc giả.
Phim hoạt hình xuất sắc nhất – Giải thưởng Điện ảnh Châu Á – Thái Bình dương năm 2007.
Bộ phim 5 Centimet trên giây đã giành Giải thưởng lớn Bạch Kim Lancia tại The Future Film
Festival – Liên hoan Quốc tế về Phim hoạt hình và Công nghệ mới – tại Ý dành cho Phim hoạt hình
xuất sắc nhất năm 2008.
Câu chuyện hấp dẫn không chỉ là câu chuyện cuốn bạn chạy một mạch, mà có khi lại khiến bạn
khó lòng đọc nhanh. Ngón tay bạn hẳn sẽ ngừng lại cả trăm lần trên mỗi trang sách này. Chỉ vì một
cử động rất khẽ, một câu thoại, hay một xúc cảm bất chợt có thể sẽ đánh thức những điều tưởng
chừng đã ngủ quên trong tiềm thức, như ngọn đèn vừa được bật sáng trong tâm trí bạn. Và rồi có lúc
nó vượt qua giới hạn chịu đựng, bạn quyết định gấp cuốn sách lại chỉ để tận hưởng chút ánh sáng từ
ngọn đèn, hay đơn giản là để vết thương trong lòng mình có thời gian tự tìm xoa dịu.
Mục lục
Chuyện thứ nhất: Hoa anh đào
Chuyện thứ hai: Phi hành gia
Chuyện thứ ba: Vận tốc năm centimet trên giây
Lời tác giả
Nói lại những điều còn ở phía trước
Chuyện thứ nhất: Hoa anh đào
1
“Này, trông cứ như tuyết rơi ấy nhỉ,” Akari nói. Chuyện đã mười bảy
năm rồi, đó là hồi chúng tôi vừa bước vào lớp Sáu. Hai đứa vẫn thường đi
bộ dọc khu rừng nhỏ trên đường về nhà, cặp sách nặng trĩu vai. Dạo ấy là
mùa xuân, hoa anh đào đang độ mãn khai. Vô vàn cánh hoa lặng lẽ chao
lượn trên không trước khi phủ trắng con đường nhựa dưới chân. Không khí
ấm áp, trời nhẹ và trong như được màu xanh gột rửa. Cách đấy không xa là
tuyến tàu điện Odakyu và tuyến đường dành cho tàu cao tốc, nhưng những
âm thanh ở đó dường như không thể chạm tới chúng tôi. Cả khu rừng chỉ
vọng vang tiếng chim ca hót đón chào mùa xuân. Ngoài chúng tôi, xung
quanh không còn ai nữa. Thật chẳng khác gì một bức họa xuân tuyệt đẹp.
Phải, ít nhất trong kí ức của tôi, cảnh tượng hôm ấy có thể nói là đẹp
như tranh. Hoặc như phim. Mỗi lần cố chạm tay vào kỉ niệm xưa cũ, tôi
luôn có cảm giác mình đứng hẳn ra ngoài, tách rời khung tranh mà ngắm lại
tuổi thơ. Cậu nhóc tròn mười một và bên cạnh là cô nhóc cùng tuổi, cao xấp
xỉ nhau. Thế giới chứa chan ánh sáng ôm ấp trọn vẹn bóng dáng họ. Phải,
bức họa lúc nào cũng chỉ lưu giữ được bóng dáng, và lúc nào cô bé cũng
chạy bứt lên trước. Chút cô đơn thoáng qua cõi lòng cậu bé thuở ấy ghi
khắc trong tôi đến tận hôm nay và khiến tôi, dù đã lớn vẫn còn cảm thấy
buồn man mác.
Tóm lại là lúc đó, Akari ví những cánh hoa bay rợp trời với tuyết rơi.
Tôi khó lòng hình dung tương tự. Bởi với tôi, anh đào mãi mãi là anh đào,
và tuyết chỉ có thể là tuyết.
“Này, trông cứ như tuyết rơi ấy nhỉ...”
“Ừm, thế hả? Giống tuyết thật sao?”
“Mà thôi, chẳng có gì.”
Akari ngắt lời tôi, tiến lên hai bước rồi xoay phắt người lại. Dưới ánh
nắng, mái tóc màu hạt dẻ của em bắt sáng lấp lánh. Liền đó, em thốt ra một
câu chẳng đâu vào đâu.
“Này, tớ nghe nói vận tốc là năm centimet trên giây.”
“Gì cơ?”
“Cậu thử đoán xem.”
“Tớ chịu.”
“Động não một chút nào, Takaki.”
Có động não tôi cũng không tìm được đáp án, nên đã trả lời thành thật
rằng mình không biết.
“Vận tốc rơi của hoa anh đào đấy. Năm centimet trên giây.”
Năm-centimet-trên-giây. Mắt tôi mở to kinh ngạc. Không, phải nói là
mở to khâm phục, “Chà chà, Akari, cậu biết nhiều thật đấy!”
“Hì hì...” Akari cười sung sướng, “Còn nhiều nữa cơ. Này nhé, vận tốc
của mưa là năm mét trên giây. Còn mây chỉ được một centimet mỗi giây.”
“Mây? Ý cậu là mây trên trời á?”
“Ừ, những đám mây trên trời.”
“Mây cũng rơi được à? Chẳng phải là nó đang trôi thôi sao?”
“Mây cũng rơi. Không phải là đang trôi đâu nhé. Bởi mây là tích tụ của
những hạt mưa li ti. Chỉ có điều, nhìn từ xa có cảm giác đám mây khổng lồ
đó đang trôi lơ lửng. Những hạt mây rơi chậm, rất chậm, đồng thời lớn dần
lên, hóa thành mưa, thành tuyết và chạm xuống mặt đất.”
“Ái chà chà...” Đến đây thì tôi thực sự cảm phục, hết nhìn lên bầu trời
lại nhìn xuống những cánh hoa. Nghe cách Akari thủ thỉ trò chuyện, nghe
giọng nói đầy phấn khích của em, có cảm giác hai đứa vừa khám phá ra
được một chân lí vĩ đại của vũ trụ.
Năm centimet trên giây sao?
“Ài chà chà...” Akari nhai lại điệu bộ cảm thán của tôi, rồi bất ngờ lao
đi.
“Ơ kìa, chờ tớ đã, Akari!” Tôi gọi với theo.
Thuở ấy, tất cả những kiến thức thu lượm từ sách vở hoặc ti vi đều được
chúng tôi coi là quan trọng. Ví như vận tốc một cánh hoa rơi, tuổi thọ của
vũ trụ hay nhiệt độ nóng chảy của bạc... Chúng tôi thường xuyên trao đổi
thông tin với nhau trên đường đi học về. Chẳng khác gì hai chú sóc nhỏ
đang ra sức nhặt nhạnh hạt sồi để chuẩn bị cho kì ngủ đông. Hay như những
nhà du hành dong buồm phiêu lãng khắp thế gian, cặm cụi chắt chiu từng
mảnh tri thức, thậm chí có thể nhớ được cách đọc tên từng vì tinh tú đang
tỏa sáng lấp lánh trên bầu trời đêm. Và không hiểu sao lúc đó tôi có một suy
nghĩ rất nghiêm túc là những tri thức, dù nhỏ bé đến đâu, cũng sẽ có ích cho
cả quãng đời sau này của hai đứa.
©DTV
Phải! Thuở ấy tôi và Akari ghi nhớ rất nhiều thứ. Chúng tôi biết được vị
trí các ngôi sao theo từng mùa, hay phải quan sát từ đâu, với cường độ ánh
sáng thế nào để thấy được Mộc Tinh. Chúng tôi còn biết tại sao nhìn bầu
trời lại xanh, tại sao trái đất phân chia ra các mùa, người Neanderthal bị
tuyệt chủng vào thời kì nào, tên những loài động vật đã biến mất từ Kỉ
Cambri... Cả hai say mê các hiện tượng kì thú và có phần xa xôi vĩ đại như
thế hơn hẳn những thứ hiện hữu quanh mình. Nhưng giờ đây, khối kiến thức
xưa cũ đã phai nhạt trong tôi. Điều duy nhất tôi còn nhớ được là quả thật
chúng tôi từng biết rất nhiều, rất nhiều thứ.
2
Khoảng thời gian từ lúc gặp đến lúc chia tay Akari – tương ứng với
khoảng thời gian ba năm từ lớp Bốn đến lớp Sáu – chúng tôi học cùng nhau
và tìm thấy ở nhau nhiều điểm tương đồng. Ba tôi và ba Akari đều thường
xuyên phải chuyển chỗ ở vì công việc, đồng nghĩa với việc chúng tôi liên
tục chuyển trường. Năm lớp Ba, tôi chuyển từ Nagano đến học tại một
trường tiểu học ở Tokyo. Lên lớp Bốn thì Akari từ Shizuoka chuyển đến và
học cùng lớp tôi. Tôi còn nhớ như in cái ngày Akari bước vào lớp, em đứng
im như phỗng trên bục giảng, khuôn mặt đầy vẻ lo âu, mình mặc chiếc váy
màu hồng nhạt, hai tay đan vào nhau, mái tóc dài buông xõa. Nắng vàng
mùa xuân lọt qua cửa sổ, rọi tới vai em, chia người Akari thành hai mảng,
mảng dưới là ánh sáng, mảng trên khuất trong bóng râm. Đôi má ửng hồng
vì run rẩy, môi mím chặt và mắt mở to dõi vào một điểm nào đó trong
không trung. Nhìn em, tôi nghĩ đến mình của một năm về trước, chắc hẳn
nét mặt cũng căng thẳng và lo sợ thế kia. Tự nhiên tôi thấy mình đồng cảm
và muốn được làm bạn với Akari. Vì thế tôi chủ động bắt chuyện. Hai đứa
thân nhau từ ấy.
Akari là người duy nhất để tôi có thể chia sẻ những vấn đề “nghiêm
túc” như: bạn học nào lớn lên ở Setagaya trông đều có vẻ chững chạc hơn
tuổi, không khí nhà ga luôn luôn ngột ngạt vì lượng người đổ về quá tải,
hay nước máy có mùi vị khó chịu... Cả hai chúng tôi đều gầy và “bé hạt
tiêu” vì hồi nhỏ hay ốm vặt, đều thích ngồi trong thư viện hơn là chạy nhảy
ngoài sân chơi và luôn khổ sở trước môn thể dục. So với việc túm năm tụm
ba, tôi và Akari lại thích rủ rỉ riêng với ai đó hoặc ngồi một mình đọc sách
hơn. Dạo ấy ba tôi làm việc ở ngân hàng, gia đình tôi sống trong căn hộ do
họ phân cho. Gia đình Akari cũng sống ở căn hộ của công ty nào đó, cơ bản
là đi chung một chặng đường về, cứ thế, hai đứa tự nhiên kè kè bên nhau
suốt, bất kể giờ nghỉ hay khi tan trường.
Kết quả là chúng tôi trở thành tâm điểm để đám bạn cùng lớp gán ghép.
Giờ nghĩ lại mới thấy lời nói và cả hành động của các bạn ấy cũng chỉ là trò
đùa nghịch trẻ con, nhưng hồi đó tôi không biết phải làm thế nào. Mỗi lần
bị đem ra làm trò cười, tôi có cảm giác tổn thương và bứt rứt vô cùng.
Nhưng chính điều đó lại khiến tôi và Akari cần nhau hơn, gần nhau hơn.
Tôi nhớ có chuyện thế này. Một hôm, trong giờ nghỉ trưa, tôi vừa từ nhà
vệ sinh quay về lớp học thì thấy Akari đứng một mình trên bục giảng. Trên
bảng đen (đặt vào thời nay thì đó chỉ là trò đùa rất bình thường), có vẽ một
chiếc ô đôi tình nhân, bên dưới đề tên tôi và Akari. Các bạn trong lớp vừa
xì xào bàn tán, vừa nhìn chằm chằm vào Akari. Chắc là vì muốn chấm dứt
trò đùa, Akari mới bước lên bục giảng định lau hình vẽ đi, nhưng đến lúc
đứng trước đông người, em xấu hổ quá nên ngừng lại giữa chừng. Chứng
kiến cảnh đó, tôi giận sôi gan, không nói không rằng hùng hổ vào lớp, vơ
giẻ xóa lấy xóa để những nét vẽ nguệch ngoạc. Rồi chính bản thân cũng
không hiểu tại sao, tôi kéo tay Akari rời khỏi lớp học. Còn nghe rõ sau lưng
tiếng bàn tán ồn ào rộ lên, nhưng mặc kệ, chúng tôi tiếp tục chạy. Ngay tôi
cũng không tin được là mình có thể hành động dũng cảm đến thế. Tôi nhớ
như in cảm giác váng vất vì tiếp xúc với bàn tay mềm mại của Akari, và lần
đầu tiên không còn thấy sợ bất cứ điều gì, dù biết phía trước là vô vàn
chông gai đang chờ đợi. Chuyển trường, thi cử, những vùng đất mới, những
người xa lạ... nhưng tôi tin rằng chỉ cần có Akari ở bên, tôi sẽ đủ sức vượt
qua mọi thử thách.
Tình cảm của chúng tôi bây giờ còn quá non thơ để mà gọi là “tình
yêu”, nhưng rõ ràng tôi mến Akari, và cũng nhận thấy cảm xúc tương tự từ
phía em. Qua cái nắm tay thật chặt, qua cả bước chạy nhịp nhàng phối hợp,
tôi càng thêm đoan chắc. Chỉ cần bên nhau thế này, tôi tin phía trước chẳng
còn gì đáng sợ.
Ý nghĩ đó theo tôi suốt ba năm học cùng Akari, mỗi ngày một son sắt.
Chúng tôi quyết định sẽ thi cùng một trường cấp II dân lập, hơi xa nhà một
chút, và cần cù học nhóm, thành ra lại được nhiều thời gian bên nhau. Nhận
thấy mình sống hướng nội, chỉ thích khép kín trong thế giới nhỏ bé của
riêng hai người, rồi có những cảm xúc “trưởng thành” hơn các bạn đồng
trang lứa, chúng tôi quyết định coi tất cả những trạng thái này là bước đệm
cho tháng ngày sắp tới ở cấp II. Chúng tôi sẽ để lại sau lưng mái trường cấp
I với nhiều điểu chưa kịp quen thân, đồng thời bắt đầu một hành trình mới
với những người bạn mới, thế giới ở đó chắc chắn rộng lớn hơn rất nhiều.
Tôi hi vọng, lên cấp II, tình cảm còn mong manh mơ hồ giữa hai đứa sẽ
được định hình rõ nét, và chờ đến ngày chúng tôi đủ tự tin để bộc lộ tình
cảm ấy thành lời. Khoảng cách giữa chúng tôi với môi trường xung quanh,
rồi khoảng cách giữa tôi và Akari, sẽ ngày càng thu ngắn. Bằng cách liên
tục nỗ lực và nỗ lực hơn nữa, chúng tôi sẽ tìm được tự do cho mình.
Bây giờ ngẫm lại thì hình như lúc đó hai đứa đều có dự cảm không lành
về một tương lai thiếu vắng nhau, nên cố sức lấp đầy bằng việc trao đổi
kiến thức. Tình cảm thương mến dành cho nhau, ước muốn được ở mãi bên
nhau là có thật, nhưng có lẽ sau bao lần chuyển trường, chúng tôi bị ám ảnh
bởi sự chia xa và hiểu được rằng, nguyện ước đó sẽ khó thành hiện thực. Vì
sợ một ngày kia không còn ở bên nhau nữa, nên tranh thủ trao gửi được gì
thì trao gửi.
Quả thật, tôi và Akari không có cơ hội học cùng trường cấp II. Một tối
mùa đông năm lớp Sáu, em gọi điện báo tin cho tôi.
Hiếm khi chúng tôi nói chuyện qua điện thoại, càng bất thường khi nó
là cuộc gọi lúc tối muộn (hồi ấy 9 giờ tối đã được coi là muộn). Mẹ trao ống
nghe cho tôi và nói, “Điện thoại của Akari”. Ngay lập tức, tôi linh cảm có
điều không hay.
“Takaki à, tớ xin lỗi,” giọng Akari lí nhí qua điện thoại. Tiếp theo là
điều tôi không bao giờ muốn nghe, thậm chí không thể tin là sự thật.
“Tớ không học cùng cấp II với cậu được rồi,” Akari nói. Ba em lại
chuyển công tác, kì nghỉ xuân này cả nhà em sẽ chuyển đến sống ở một thị
trấn nhỏ vùng Bắc Kanto. Giọng em run run như sắp khóc nấc lên. Tôi
không hiểu gì hết. Toàn thân nóng bừng như có lửa đốt, nhưng đầu thì đóng
băng lạnh buốt. Tôi không biết Akari đang nói gì, càng không hiểu vì sao
em phải nói với tôi những chuyện như thế.
“Ơ... thế còn trường cấp II Nishi? Họ đã nhận cậu rồi cơ mà,” tôi lắp
bắp mãi mới thốt ra được một câu.
“Tớ đang làm thủ tục để vào trường công lập ở Tochigi... Xin lỗi nhé.”
Tiếng xe cộ chạy ngoài đường dội vào ống nghe, nghĩa là Akari đang
gọi cho tôi từ bốt điện thoại công cộng. Dù đang ở trong phòng riêng, tôi
vẫn thấy hơi lạnh từ nơi ấy lan tới tận những ngón tay mình. Tôi ngồi bệt
xuống, tay ôm đầu gối. Không biết phải trả lời thế nào, tôi suy nghĩ rất lung
để tìm ra điều nên nói.
“Không, Akari không cần xin lỗi... Nhưng...”
“Tớ đã cố thuyết phục ba cho ở lại nhà cô Katsuhika, nhưng ba nói tớ
còn nhỏ quá nên... không được...”
Akari cố nén cơn nức nở, tôi bỗng thấy mình không muốn nghe thêm gì
nữa và, trong một phút mất bình tĩnh, tôi gắt lên với em.
“Tớ biết rồi!” Tôi cắt ngang không để Akari nói hết câu, ở đầu dây bên
kia dường như em đang nín thở. Nhưng điều đó không ngăn được tôi tiếp
tục.
“Thế là đủ...” Giọng tôi gay gắt. “Quá đủ rồi...” Khi lặp lại, tôi cố hết
sức không để nước mắt tuôn rơi. Tại sao? Tại sao lúc nào mọi chuyện cũng
trở nên tồi tệ như thế?
Mười mấy giây trôi qua, tôi nghe Akari thì thào rất khẽ giữa tiếng nấc,
“Tớ xin lỗi...” Tôi vẫn ngồi đó, ống nghe ấn mạnh vào vành tai đau nhói,
nhưng không dám buông tay, cũng không thể cúp máy. Dù biết lời vừa nói
ra đã làm Akari tổn thương nặng nề, nhưng tôi chẳng làm gì hơn được.
Ngày ấy, tôi vẫn chưa biết cách điều chỉnh những cảm xúc bột phát trong
lòng. Cuộc điện thoại cuối cùng với Akari kết thúc không mấy vui vẻ, tôi
vẫn ngồi im, tay ôm đầu gối.
Những ngày tiếp theo, tôi sống trong u ám. Cảm thấy có lỗi vì không
nói được lời an ủi tốt đẹp nào với Akari, chắc hẳn em còn buồn hơn tôi rất
nhiều. Hai đứa đón lễ tốt nghiệp cũng với tâm trạng thấp thỏm bất an. Tôi
chia tay Akari khi mối quan hệ của chúng tôi chưa thực sự trở lại bình
thường.
Ngay sau lễ tốt nghiệp, Akari dịu dàng bắt chuyện với tôi, “Takaki à,
thế là chúng ta phải chia tay ở đây...” Tôi nhớ lúc ấy mình chỉ im lặng, mắt
nhìn xuống, không nói không rằng. Từ trước tới giờ tôi đâu làm được gì cho
Akari, chỉ toàn dựa dẫm vào em. Tôi từng có niềm tin mãnh liệt, rằng chỉ
cần Akari ở bên, sớm thôi, tôi sẽ trở thành một người đàn ông bản lĩnh, kiên
cường để che chở cho em. Nhưng đến giờ nhìn lại, tôi vẫn chỉ là một cậu
nhóc yếu đuối, luôn bị một thế lực vô hình nào đó khống chế và không giữ
nổi bình tĩnh. Cứ cho là một cô bé mới mười hai tuổi Akari không có quyền
lựa chọn đi, nhưng chúng tôi cũng không đáng phải xa nhau thế này. Tuyệt
đối không...
Học kì mới đã bắt đầu và dù muốn dù không, tôi vẫn phải đối mặt với
những ngày sắp tới. Tôi phải một mình đến trường, ngôi trường dự định học
cùng Akari, từng bước một làm quen với bạn mới và quyết tâm vào được
câu lạc bộ bóng đá. Tuy bận hơn hồi cấp I, nhưng tôi thích tình trạng bù đầu
bù cổ thế này. Việc ở một mình không còn làm tôi thoải mái như trước đây,
ngược lại càng khiến tôi khổ sở và bế tắc. Bằng mọi cách, tôi muốn tạo
dựng những khoảnh khắc bên bạn bè, tối học xong chui vào chăn ngủ luôn,
sáng dậy sớm, hăng hái tham gia luyện tập cùng câu lạc bộ.
Tôi tin chắc rằng ở vùng đất kia Akari cũng đang bận rộn. Tôi chỉ có
một ước mong duy nhất là em sẽ dần lãng quên tôi trong môi trường mới
của mình. Bởi ngày chia tay, tôi chỉ đem lại cho em những kỉ niệm buồn.
Đã đến lúc tôi phải xóa đi những kí ức về Akari và may thay, hai chúng tôi
đều có kinh nghiệm tìm quên quá khứ nhờ những lần chuyển trường.
Thế rồi, vào một ngày hè oi ả, tôi nhận được thư của Akari, lá thư hồng
phấn mỏng manh nằm trong hòm thư của khu chung cư. Lúc nhận ra nét
chữ của Akari, cảm xúc đầu tiên xâm chiếm hồn tôi không phải vui sướng,
mà là sững sờ.
“Tại sao lại đúng vào lúc này?” Khi mà suốt nửa năm qua tôi đã cố
gắng hòa mình vào môi trường không có Akari. Vậy mà, vừa nhận được lá
thư, bao nỗi cô đơn vì thiếu vắng em sống dậy trong tôi.
Ra là thế. Đã cố gắng bao nhiêu để quên một người nhưng rốt cuộc trái
tim tôi vẫn chỉ hướng về người ấy. Tôi có thêm rất nhiều bạn mới, nhưng
mỗi lần thêm bạn, tôi lại càng nhận ra rằng Akari quan trọng với tôi đến
nhường nào. Tôi nhốt mình trong phòng, đọc đi đọc lại lá thư của Akari.
Tôi còn kẹp vào sách và len lén xem lại trong giờ học. Từng câu từng chữ
vẫn in đậm trong tâm trí tôi.
“Thân gửi Toono Takaki...”
Đó là dòng mở đầu của lá thư. Nét chữ ngay ngắn, đầy hoài niệm.
“Lâu lắm rồi nhỉ! Cậu có khỏe không? Mùa hè trên này nóng khủng
khiếp, nhưng chắc chắn là dễ chịu hơn so với Tokyo. Chẳng hiểu sao nghĩ
lại, tớ thấy thích mùa hè oi ả năm nào ở Tokyo hơn. Nhớ lắm con đường
nhựa tưởng chừng đang chảy nhão ra dưới chân mình, nhớ những tòa cao
ốc như sắp bốc hơi vì nóng, nhớ cái điều hòa mát lạnh như kem trên tàu
điện hoặc những khu mua sắm...”
Câu chữ em dùng nghe chững chạc hơn nhưng kem theo đó là những
hình minh họa nhỏ xíu, đáng yêu (ông mặt trời, chú ve con, những tòa cao
ốc...) Tôi có thể mường tượng trong đầu hình ảnh Akari đang lớn dần, từng
chút một. Lá thư rất ngắn nhưng ghi lại đủ thứ chuyện về cuộc sống mới
của em, từ chuyện em đi học mỗi ngày trên chiếc tàu điện bốn toa đến nỗ
lực tham gia câu lạc bộ bóng rổ với mong muốn rèn luyện sức khỏe. À, cả
chuyện cắt tóc ngắn đến ngang tai nữa chứ... Những mẩu chuyện be bé thế
thôi không ngờ cũng làm trái tim tôi bồi hồi. Trong thư, không có dòng nào
nói rằng em cảm thấy buồn vì không còn được gặp được tôi mỗi ngày và tôi
có thể cảm nhận được rằng cuộc sống mới của em đang rất tốt đẹp, em cũng
dần thích nghi với nó. Nhưng tôi dám chắc rằng em vẫn nhớ tôi, muốn được
trò chuyện cùng tôi và trên hết, em sầu muộn. Nếu không, vì sao em lại viết
thư cho tôi? Những cảm xúc đó của Akari cũng chính là cảm xúc tôi đang
có lúc này.
Kể từ đó, tôi và Akari viết thư cho nhau mỗi tháng một lần. Nhờ việc
viết thư, tôi thấy cuộc sống của mình dễ thở hơn trước. Chẳng hạn, một giờ
học chán ngắt, tôi có thể cảm nhận rõ ràng là nó chán. Từ ngày giã biệt
Akari, tôi chỉ đơn giản cho rằng đó-là-điều-hiển-nhiên nhưng giờ đây tôi đã
hiểu biết thế nào là nỗi nhọc nhằn khi tập bóng, biết khó chịu trước những
trò bắt nạt vô lí của mấy đứa khóa trên. Kì lạ thay, cũng vì biết suy nghĩ tích
cực hơn nên dù có nhiều lúc rất đau khổ, tôi vẫn dễ dàng chịu đựng hơn và
có thể vượt qua được. Chúng tôi không kêu ca phàn nàn trong thư về cuộc
sống hàng ngày, nhưng việc nhận ra rằng trên thế giới vẫn còn ai đó hiểu
mình giúp chúng tôi sống mạnh mẽ hơn.
Mùa hè đầu tiên của lớp Bảy trôi qua, mùa thu cũng chóng qua rồi lại
sang đông. Tôi bước sang tuổi mười ba và chỉ trong vòng mấy tháng đã cao
thêm bảy centimet, cơ thể bắt đầu có da có thịt, không hay bị cảm cúm như
trước nữa. Đặc biệt, tôi có cảm giác khoảng cách giữa mình với thế giới đã
gần lại. Chắc hẳn Akari cũng thế, em cũng mười ba rồi. Mỗi lần nhìn các
bạn nữ xúng xính trong bộ đồng phục, tôi lại tự hỏi ngoại hình Akari có
thay đổi nhiều không? Trong thư, Akari viết muốn được cùng tôi ngắm hoa
anh đào như thời tiểu học. Và rằng, gần nhà em có một cây anh đào rất lớn.
“Vào mùa xuân, chắc những cánh hoa ấy cũng rơi xuống với vận tốc năm
centimet trên giây nhỉ?” Em viết.
Học kì một năm lớp Tám, tôi có quyết định chuyển trường lần nữa. Gia
đình tôi sẽ chuyển đi vào kì nghỉ xuân, điểm đến lần này là Kagoshima
thuộc Kyushu. Chính xác là một hòn đảo tách biệt với Kyushu. Bay từ sân
bay Haneda đến Kagoshima phải mất hai tiếng đồng hồ. Thậm chí, tôi đã
nghĩ nó chẳng khác gì nơi tận cùng thế giới. Nhưng thời ấy tôi đã quá quen
với những biến động trong cuộc sống của mình nên không lấy làm ngạc
nhiên. Vấn đề là khoảng cách địa lí với Akari. Từ khi lên cấp II chúng tôi
vẫn chưa gặp lại nhau, mà thực ra chúng tôi đâu ở cách xa nhau quá. Từ
Tokyo đến thị trấn vùng Bắc Kanto nơi Akari đang sống chỉ mất ba tiếng
đồng hồ ngồi tàu điện. Thử nghĩ mà xem, chúng tôi hoàn toàn có thể gặp
nhau vào dịp cuối tuần. Nhưng nếu tôi chuyển đến vùng cực Nam của đất
nước, cơ hội gặp được Akari gần như bằng không.
Chính vì vậy trong lá thư tiếp theo gửi Akari, tôi nói muốn gặp em một
lần trước khi chuyển đi. Tôi thử gợi ý về thời gian và địa điểm gặp nhau.
Ngay lập tức tôi nhận được hồi âm. Cả hai đều đang chuẩn bị thi cuối kì,
Akari còn phải tham gia các khóa tập cùng câu lạc bộ, tôi thì phải thu xếp
để chuyển nhà nên thời gian thích hợp nhất cho cả hai là vào buổi tối, sau
giờ học trên trường, và tất nhiên là khi chúng tôi đã thi xong. Sau khi tra
bảng giờ tàu, tôi quyết định hẹn gặp Akari lúc 7 giờ tối ở ga gần nhà em.
Hôm đó, tôi sẽ bỏ một buổi tập cùng câu lạc bộ, học xong đi ngay thì chắc
chắn kịp giờ hẹn. Trò chuyện cùng Akari khoảng hai tiếng và vẫn bắt được
chuyến tàu cuối ngày để quay về Tokyo. Chỉ cần về được nhà trong ngày thì
tôi có thể viện ra bất kì lí do gì để ba mẹ yên tâm. Tôi sẽ phải đổi tàu nhiều
lần, qua các tuyến Odakyu, Saikyo, sau đó là Utsunomiya, Ryomo, tất cả
đều đi bằng tàu thường nên giá vé cả đi cả về rơi vào khoảng 3500 yên. Đối
với tôi mà nói, số tiền đó không phải là nhỏ nhưng khao khát được gặp
Akari lớn hơn tất thảy.
Vẫn còn hai tuần nữa mới đến ngày hẹn nên tôi dành thời gian để viết
cho Akari một bức thư thật dài. Có lẽ đó là bức thư tình đầu tiên trong đời.
Tôi miêu tả tương lai mình mơ ước, kể về những cuốn sách hay những ca
khúc yêu thích, và đặc biệt về vị trí quan trọng của Akari trong trái tim tôi.
Nhiều người có thể cho thế là trẻ con, tầm phào, nhưng tôi đã cố gắng hết
sức gửi vào đó những lời lẽ chân thành nhất. Tôi không còn nhớ rõ nội
dung chi tiết của lá thư, chỉ nhớ mình đã viết đầy tám trang giấy. Bởi vì
thực sự có quá nhiều điều tôi muốn chia sẻ cùng Akari, và tôi có linh cảm
chỉ cần Akari đọc lá thư này, tôi sẽ có thêm động lực để vượt qua khó khăn
trong những ngày sắp tới ở Kagoshima. Đó là những điều tôi muốn em hiểu
về tôi.
Trong những ngày viết lá thư, tôi nằm mơ thấy Akari không biết bao
nhiêu lần.
Trong mơ, tôi biến thành một con chim nhỏ lanh lợi dang rộng đôi cánh,
vút bay trên bầu trời đêm thành phố giăng đầy dây điện. Chim băng qua
những tòa nhà cao sừng sững. Nghĩ đến việc sắp được gặp những người
quan trọng nhất trên đời, một cảm giác phấn khích chạy dọc sống lưng, thân
hình bé bỏng ấy lao đi vùn vụt, nhanh gấp trăm nghìn lần so với tốc độ chạy
trên mặt đất. Chẳng mấy chốc, thành phố đã ở lại phía sau, đèn đường chỉ
còn là những đốm bé xíu như sao sa, và ánh sáng từ những toa tàu trông
chằng chịt như mạng lưới động mạch tĩnh mạch chạy xuyên màn đêm.
Chim nhỏ bay xuyên mây, bắt gặp tầng khí quyển đang phát sáng kì ảo
dưới ánh trăng. Ánh sáng xanh trong suốt ấy rọi vào những đám mây, làm
viền mây sáng lên dịu nhẹ. Tôi có cảm giác mình đang bay lạc đến một
hành tinh xa xôi nào khác. Cơ thể bao bọc trong lớp lông vũ run lên vì hạnh
phúc, bởi giờ đây tôi có thể thỏa sức bay đến bất cứ nơi đâu.
Bay gần đến đích, trong tôi trào dâng niềm tự hào, phấn khích. Chim
nhỏ nhanh chóng tiếp đất, phóng tầm mắt nhìn ra xung quanh. Đây chính là
nơi em sống, là những cánh đồng trải dài đến tận chân trời, là những mái
nhà thấp thoáng ẩn mình sau rừng cây.
Một luồng sáng bất ngờ xẹt qua. Đó là ánh đèn từ xe lửa. Chắc hẳn
“tôi” đang ngồi trên chuyến tàu đó. Mắt tôi kiếm tìm người con gái đang
chờ đợi mình trong sân ga. Cô gái có mái tóc ngắn đến mang tai, lặng lẽ
ngồi trên chiếc ghế dài, gần đó là cây anh đào cổ thụ. Mùa này anh đào còn
chưa ra hoa, nhưng tôi có thể cảm nhận luồng sinh khí đang nảy nở bên
trong lớp vỏ cây xù xì, khô cứng. Cuối cùng cô gái cũng nhận ra sự có mặt
của tôi, em ngước nhìn lên. Mình sắp gặp được nhau rồi. Sắp thật rồi...
3
Vào ngày hẹn với Akari, trời mưa suốt từ sáng. Bầu trời như bị đậy
bằng một cái vung xám xịt. Những hạt mưa buốt giá rời cái vung ấy thia lia
rơi xuống. Một ngày đặc quánh không khí mùa đông, bởi vị thần mùa xuân
chừng như đổi ý nên chưa muốn đến. Tôi khoác áo dạ nâu ra ngoài bộ đồng
phục học sinh, cẩn thận nhét lá thư gửi Akari vào sâu trong cặp, rảo bước
tới trường. Chắc mẩm phải nửa đêm mới về đến nhà nên tôi để lại mảnh
giấy báo rằng buổi tối về muộn cho ba mẹ yên tâm. Ba mẹ đâu biết chuyện
tôi và Akari nên dù có trình bày mọi chuyện thật rõ ràng, chắc gì ba mẹ đã
đồng ý cho đi.
Cả buổi học hôm đó, tôi chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ, lòng bồn chồn không
yên. Thú thực tôi chẳng còn tâm trạng nào để theo dõi bài giảng, bởi đang
cố mường tượng trong đầu hình ảnh Akari mặc đồng phục trông như thế
nào, chúng tôi sẽ nói chuyện gì với nhau, và cả giọng nói dễ thương của em.
Đúng rồi, ngày đó tôi còn chưa nhận ra nhưng giờ thì tôi biết, tôi yêu giọng
nói của Akari. Tôi yêu vô cùng giọng nói truyền cảm, có sức lay động cả
không gian xung quanh ấy. Mỗi lần nghe thanh âm êm ái, ấm áp của em, tôi
cảm thấy mình được khích lệ rất nhiều. Tôi sắp được nghe lại giọng nói đó
rồi. Chỉ nghĩ đến điều ấy thôi, toàn thân tôi đã nóng bừng bừng như có lửa
đốt, và tôi phải nhìn mưa ngoài cửa sổ để trấn an mình.
Mưa!
Vận tốc rơi là năm mét một giây. Từ trong lớp nhìn ra, khung cảnh bên
ngoài nhuốm màu xám xịt, ánh đèn thấp thoáng từ những ô cửa sổ chung cư
hay cao ốc cứ mờ dần mờ dần. Tôi đăm đăm nhìn những đốm sáng nhỏ
nhoi đấy cho đến khi chúng tắt hẳn, thi thoảng lắm mới nhìn thấy một ngọn
đèn le lói. Trong lúc tôi mải ngắm nhìn như thế, mưa càng lúc càng nặng
hạt. Đến khi tan học, tuyết cũng bắt đầu rơi.
Tôi chờ đến khi trong lớp không còn ai, mới dám lôi thư và mảnh giấy
ghi chú trong cặp ra. Sau một hồi lưỡng lự, tôi nhét thư vào túi áo khoác.
Bằng mọi giá, tôi muốn trao tận tay lá thư cho Akari, nên phải đặt nó ở vị
trí mà lúc nào đầu ngón tay mình cũng có thể chạm vào được mới yên tâm.
Mảnh giấy ghi chú là danh sách những chuyến tàu tôi phải lên, giờ tàu chạy
và chuyển tàu như thế nào. Tôi đã xem đi xem lại hàng chục lần nhưng vẫn
muốn kiểm tra thêm một lần nữa.
Tôi sẽ xuất phát từ ga Goutokuji trên tuyến Odakyu vào lúc 3 giờ 54
phút đi Shinjuku. Sau đó, tôi sẽ chuyển sang tuyến Saikyo, đến ga Omiya,
từ đây chuyển sang tuyến Utsunomiya đến ga Koyama. Cuối cùng, tôi
chuyển sang tuyến Ryomo và đến ga Iwafune vào lúc 6 giờ 45 phút tối. Tôi
hẹn gặp Akari lúc 7 giờ ở ga Iwafune nên đi theo lịch trình này là vừa kịp
giờ hẹn. Đây là lần đầu tiên tôi tự mình đi một quãng đường dài đến thế.
Tôi tự nhủ, “Không sao, tất cả rồi sẽ ổn. Sẽ không có bất kì khó khăn nào ở
phía trước cả.” Tôi tin như vậy.
©DTV: http://www.dtv-ebook.com
Tôi bước xuống cầu thang, khu học xá tối om, không còn một bóng
người. Để thay giày, tôi phải mở cánh cửa tủ sắt, tiếng kim loại va vào nhau
trong đại sảnh vắng tanh tạo nên thứ âm thanh nghe rờn rợn, làm tim tôi đập
loạn lên. Tôi bỏ lại trong tủ đồ chiếc ô mang theo lúc sáng, bước ra khỏi đại
sảnh và nhìn lên trời. Hồi sáng còn ngai ngái mùi của mưa ẩm, giờ lại là
hương vị lạnh ngắt của tuyết, so với mưa, nó trong trẻo hơn, tinh khiết hơn,
thấm thía lòng người hơn. Tôi nhìn bầu trời xám xịt, hàng vạn bông tuyết
trắng xóa bời bời đổ xuống, nhìn lâu sẽ có cảm giác mình sắp bị nó nuốt
trọn. Tôi vội kéo mũ trùm lên đầu rồi nhanh chóng chạy về phía ga.
Đây cũng là lần đầu tiên tôi đi một mình đến ga Shinjuku, một ga chẳng
lấy gì làm thân quen với cuộc sống thường nhật của tôi. Nói mới nhớ, cách
đây mấy tháng tôi có hẹn với một bạn cùng lớp đi xem phim ở Shinjuku.
Lúc đó, cả tôi và bạn đã đến ga này trên tuyến Odakyu, nhưng sau đó chúng
tôi bị lạc ở cửa Đông tuyến JR, lúc tìm đường ra khỏi ga. Sự chộn rộn, náo
nhiệt của ga Shinjuku còn để lại ấn tượng mạnh mẽ trong tôi, hơn cả bộ
phim hôm đó chúng tôi cùng xem.
Ra khỏi cửa soát vé của tuyến Odakyu, tôi đảo mắt tìm bảng chỉ dẫn để
không bị lạc lần nữa, chân bước nhanh về hướng có ghi “Cửa bán vé tuyến
JR”. Bên kia khoảng rộng mênh mông có hàng cột trải dài là khu vực kê san
sát mấy chục cỗ máy bán vé tự động, tôi chọn một hàng thưa người nhất,
chờ mua vé. Đứng trước tôi là một phụ nữ, trông như dân văn phòng, mùi
nước hoa dịu ngọt của chị không hiểu sao làm ngực tôi đau nhói. Hàng kế
bên nhích dần lên, lần này là mùi băng phiến từ áo khoác của người đàn ông
trung niên đứng ngang hàng với tôi, gợi nhắc tôi về nỗi bất an khi chuyển
nhà. Khoảng không gian dưới lòng đất bị lấp đầy bởi đủ loại tạp âm, hỗn
độn và huyên náo. Mũi giày của tôi lạnh buốt vì tuyết đang tan ra, đầu thì
cứ ong ong lên. Đến lượt mình mua vé, tôi mới nhận ra không có nút bấm
nào trên máy (thời đó hầu như tất cả các máy bán vé tự động đều là dạng
nút bấm). Tôi liếc sang bên cạnh mới biết chỉ cần chạm tay vào màn hình là
có thể lựa chọn vé cần mua.
Qua cửa soát vé tự động để vào sâu trong ga, tôi nhìn kĩ bảng chỉ dẫn
rồi nhanh chóng len lỏi vào dòng người tìm lối ra đường ray tuyến Saikyo.
Nào là “Yamanote – ngoại tuyến”, “Soubu – hướng đi Nakano”,...
Tải ebook miễn phí tại https://www.epub.vn
Giới thiệu
Mình đáng bị bỏ lại đơn độc thế này lắm. Tại sao mình không thể đem lại hạnh phúc cho ai hết,
dù chỉ một chút, dù chỉ một người?
5cm/s không chỉ là vận tốc của những cánh anh đào rơi, mà còn là vận tốc khi chúng ta lặng lẽ
bước qua đời nhau, đánh mất bao cảm xúc thiết tha nhất của tình yêu.
Bằng giọng văn tinh tế, truyền cảm, 5 centimet trên giây mang đến những khắc họa mới về tâm
hồn và khả năng tồn tại của cảm xúc, bắt đầu từ tình yêu trong sáng, ngọt ngào của một cô bé và cậu
bé. Ba giai đoạn, ba mảnh ghép, ba ngôi kể chuyện khác nhau nhưng đều xoay quanh nhân vật nam
chính, người luôn bị ám ảnh bởi kí ức và những điều đã qua…
Khác với những câu chuyện cuốn bạn chạy một mạch, truyện này khó mà đọc nhanh. Ngón tay
bạn hẳn sẽ ngừng lại cả trăm lần trên mỗi trang sách. Chỉ vì một cử động rất khẽ, một câu thoại, hay
một xúc cảm bất chợt có thể sẽ đánh thức những điều tưởng chừng đã ngủ quên trong tiềm thức, như
ngọn đèn vừa được bật sáng trong tâm trí bạn. Và rồi có lúc nó vượt quá giới hạn chịu đựng, bạn
quyết định gấp cuốn sách lại chỉ để tận hưởng chút ánh sáng từ ngọn đèn, hay đơn giản là để vết
thương trong lòng mình có thời gian tự tìm xoa dịu.
Tác giả
Shinkai Makoto
Sinh năm 1973 tại Nagano. Đạo diễn, biên kịch, tiểu thuyết gia nổi tiếng của Nhật Bản, được
mệnh danh là “ảo thuật gia của những nỗi buồn”, cả trên màn ảnh rộng lẫn trên những trang văn.
5 centimet trên giây, ra mắt năm 2007, là hình thức văn chương của bộ anime cùng tên và tiếp
bước nó, lại một lần nữa lay động sâu sắc tâm hồn độc giả.
Phim hoạt hình xuất sắc nhất – Giải thưởng Điện ảnh Châu Á – Thái Bình dương năm 2007.
Bộ phim 5 Centimet trên giây đã giành Giải thưởng lớn Bạch Kim Lancia tại The Future Film
Festival – Liên hoan Quốc tế về Phim hoạt hình và Công nghệ mới – tại Ý dành cho Phim hoạt hình
xuất sắc nhất năm 2008.
Câu chuyện hấp dẫn không chỉ là câu chuyện cuốn bạn chạy một mạch, mà có khi lại khiến bạn
khó lòng đọc nhanh. Ngón tay bạn hẳn sẽ ngừng lại cả trăm lần trên mỗi trang sách này. Chỉ vì một
cử động rất khẽ, một câu thoại, hay một xúc cảm bất chợt có thể sẽ đánh thức những điều tưởng
chừng đã ngủ quên trong tiềm thức, như ngọn đèn vừa được bật sáng trong tâm trí bạn. Và rồi có lúc
nó vượt qua giới hạn chịu đựng, bạn quyết định gấp cuốn sách lại chỉ để tận hưởng chút ánh sáng từ
ngọn đèn, hay đơn giản là để vết thương trong lòng mình có thời gian tự tìm xoa dịu.
Mục lục
Chuyện thứ nhất: Hoa anh đào
Chuyện thứ hai: Phi hành gia
Chuyện thứ ba: Vận tốc năm centimet trên giây
Lời tác giả
Nói lại những điều còn ở phía trước
Chuyện thứ nhất: Hoa anh đào
1
“Này, trông cứ như tuyết rơi ấy nhỉ,” Akari nói. Chuyện đã mười bảy
năm rồi, đó là hồi chúng tôi vừa bước vào lớp Sáu. Hai đứa vẫn thường đi
bộ dọc khu rừng nhỏ trên đường về nhà, cặp sách nặng trĩu vai. Dạo ấy là
mùa xuân, hoa anh đào đang độ mãn khai. Vô vàn cánh hoa lặng lẽ chao
lượn trên không trước khi phủ trắng con đường nhựa dưới chân. Không khí
ấm áp, trời nhẹ và trong như được màu xanh gột rửa. Cách đấy không xa là
tuyến tàu điện Odakyu và tuyến đường dành cho tàu cao tốc, nhưng những
âm thanh ở đó dường như không thể chạm tới chúng tôi. Cả khu rừng chỉ
vọng vang tiếng chim ca hót đón chào mùa xuân. Ngoài chúng tôi, xung
quanh không còn ai nữa. Thật chẳng khác gì một bức họa xuân tuyệt đẹp.
Phải, ít nhất trong kí ức của tôi, cảnh tượng hôm ấy có thể nói là đẹp
như tranh. Hoặc như phim. Mỗi lần cố chạm tay vào kỉ niệm xưa cũ, tôi
luôn có cảm giác mình đứng hẳn ra ngoài, tách rời khung tranh mà ngắm lại
tuổi thơ. Cậu nhóc tròn mười một và bên cạnh là cô nhóc cùng tuổi, cao xấp
xỉ nhau. Thế giới chứa chan ánh sáng ôm ấp trọn vẹn bóng dáng họ. Phải,
bức họa lúc nào cũng chỉ lưu giữ được bóng dáng, và lúc nào cô bé cũng
chạy bứt lên trước. Chút cô đơn thoáng qua cõi lòng cậu bé thuở ấy ghi
khắc trong tôi đến tận hôm nay và khiến tôi, dù đã lớn vẫn còn cảm thấy
buồn man mác.
Tóm lại là lúc đó, Akari ví những cánh hoa bay rợp trời với tuyết rơi.
Tôi khó lòng hình dung tương tự. Bởi với tôi, anh đào mãi mãi là anh đào,
và tuyết chỉ có thể là tuyết.
“Này, trông cứ như tuyết rơi ấy nhỉ...”
“Ừm, thế hả? Giống tuyết thật sao?”
“Mà thôi, chẳng có gì.”
Akari ngắt lời tôi, tiến lên hai bước rồi xoay phắt người lại. Dưới ánh
nắng, mái tóc màu hạt dẻ của em bắt sáng lấp lánh. Liền đó, em thốt ra một
câu chẳng đâu vào đâu.
“Này, tớ nghe nói vận tốc là năm centimet trên giây.”
“Gì cơ?”
“Cậu thử đoán xem.”
“Tớ chịu.”
“Động não một chút nào, Takaki.”
Có động não tôi cũng không tìm được đáp án, nên đã trả lời thành thật
rằng mình không biết.
“Vận tốc rơi của hoa anh đào đấy. Năm centimet trên giây.”
Năm-centimet-trên-giây. Mắt tôi mở to kinh ngạc. Không, phải nói là
mở to khâm phục, “Chà chà, Akari, cậu biết nhiều thật đấy!”
“Hì hì...” Akari cười sung sướng, “Còn nhiều nữa cơ. Này nhé, vận tốc
của mưa là năm mét trên giây. Còn mây chỉ được một centimet mỗi giây.”
“Mây? Ý cậu là mây trên trời á?”
“Ừ, những đám mây trên trời.”
“Mây cũng rơi được à? Chẳng phải là nó đang trôi thôi sao?”
“Mây cũng rơi. Không phải là đang trôi đâu nhé. Bởi mây là tích tụ của
những hạt mưa li ti. Chỉ có điều, nhìn từ xa có cảm giác đám mây khổng lồ
đó đang trôi lơ lửng. Những hạt mây rơi chậm, rất chậm, đồng thời lớn dần
lên, hóa thành mưa, thành tuyết và chạm xuống mặt đất.”
“Ái chà chà...” Đến đây thì tôi thực sự cảm phục, hết nhìn lên bầu trời
lại nhìn xuống những cánh hoa. Nghe cách Akari thủ thỉ trò chuyện, nghe
giọng nói đầy phấn khích của em, có cảm giác hai đứa vừa khám phá ra
được một chân lí vĩ đại của vũ trụ.
Năm centimet trên giây sao?
“Ài chà chà...” Akari nhai lại điệu bộ cảm thán của tôi, rồi bất ngờ lao
đi.
“Ơ kìa, chờ tớ đã, Akari!” Tôi gọi với theo.
Thuở ấy, tất cả những kiến thức thu lượm từ sách vở hoặc ti vi đều được
chúng tôi coi là quan trọng. Ví như vận tốc một cánh hoa rơi, tuổi thọ của
vũ trụ hay nhiệt độ nóng chảy của bạc... Chúng tôi thường xuyên trao đổi
thông tin với nhau trên đường đi học về. Chẳng khác gì hai chú sóc nhỏ
đang ra sức nhặt nhạnh hạt sồi để chuẩn bị cho kì ngủ đông. Hay như những
nhà du hành dong buồm phiêu lãng khắp thế gian, cặm cụi chắt chiu từng
mảnh tri thức, thậm chí có thể nhớ được cách đọc tên từng vì tinh tú đang
tỏa sáng lấp lánh trên bầu trời đêm. Và không hiểu sao lúc đó tôi có một suy
nghĩ rất nghiêm túc là những tri thức, dù nhỏ bé đến đâu, cũng sẽ có ích cho
cả quãng đời sau này của hai đứa.
©DTV
Phải! Thuở ấy tôi và Akari ghi nhớ rất nhiều thứ. Chúng tôi biết được vị
trí các ngôi sao theo từng mùa, hay phải quan sát từ đâu, với cường độ ánh
sáng thế nào để thấy được Mộc Tinh. Chúng tôi còn biết tại sao nhìn bầu
trời lại xanh, tại sao trái đất phân chia ra các mùa, người Neanderthal bị
tuyệt chủng vào thời kì nào, tên những loài động vật đã biến mất từ Kỉ
Cambri... Cả hai say mê các hiện tượng kì thú và có phần xa xôi vĩ đại như
thế hơn hẳn những thứ hiện hữu quanh mình. Nhưng giờ đây, khối kiến thức
xưa cũ đã phai nhạt trong tôi. Điều duy nhất tôi còn nhớ được là quả thật
chúng tôi từng biết rất nhiều, rất nhiều thứ.
2
Khoảng thời gian từ lúc gặp đến lúc chia tay Akari – tương ứng với
khoảng thời gian ba năm từ lớp Bốn đến lớp Sáu – chúng tôi học cùng nhau
và tìm thấy ở nhau nhiều điểm tương đồng. Ba tôi và ba Akari đều thường
xuyên phải chuyển chỗ ở vì công việc, đồng nghĩa với việc chúng tôi liên
tục chuyển trường. Năm lớp Ba, tôi chuyển từ Nagano đến học tại một
trường tiểu học ở Tokyo. Lên lớp Bốn thì Akari từ Shizuoka chuyển đến và
học cùng lớp tôi. Tôi còn nhớ như in cái ngày Akari bước vào lớp, em đứng
im như phỗng trên bục giảng, khuôn mặt đầy vẻ lo âu, mình mặc chiếc váy
màu hồng nhạt, hai tay đan vào nhau, mái tóc dài buông xõa. Nắng vàng
mùa xuân lọt qua cửa sổ, rọi tới vai em, chia người Akari thành hai mảng,
mảng dưới là ánh sáng, mảng trên khuất trong bóng râm. Đôi má ửng hồng
vì run rẩy, môi mím chặt và mắt mở to dõi vào một điểm nào đó trong
không trung. Nhìn em, tôi nghĩ đến mình của một năm về trước, chắc hẳn
nét mặt cũng căng thẳng và lo sợ thế kia. Tự nhiên tôi thấy mình đồng cảm
và muốn được làm bạn với Akari. Vì thế tôi chủ động bắt chuyện. Hai đứa
thân nhau từ ấy.
Akari là người duy nhất để tôi có thể chia sẻ những vấn đề “nghiêm
túc” như: bạn học nào lớn lên ở Setagaya trông đều có vẻ chững chạc hơn
tuổi, không khí nhà ga luôn luôn ngột ngạt vì lượng người đổ về quá tải,
hay nước máy có mùi vị khó chịu... Cả hai chúng tôi đều gầy và “bé hạt
tiêu” vì hồi nhỏ hay ốm vặt, đều thích ngồi trong thư viện hơn là chạy nhảy
ngoài sân chơi và luôn khổ sở trước môn thể dục. So với việc túm năm tụm
ba, tôi và Akari lại thích rủ rỉ riêng với ai đó hoặc ngồi một mình đọc sách
hơn. Dạo ấy ba tôi làm việc ở ngân hàng, gia đình tôi sống trong căn hộ do
họ phân cho. Gia đình Akari cũng sống ở căn hộ của công ty nào đó, cơ bản
là đi chung một chặng đường về, cứ thế, hai đứa tự nhiên kè kè bên nhau
suốt, bất kể giờ nghỉ hay khi tan trường.
Kết quả là chúng tôi trở thành tâm điểm để đám bạn cùng lớp gán ghép.
Giờ nghĩ lại mới thấy lời nói và cả hành động của các bạn ấy cũng chỉ là trò
đùa nghịch trẻ con, nhưng hồi đó tôi không biết phải làm thế nào. Mỗi lần
bị đem ra làm trò cười, tôi có cảm giác tổn thương và bứt rứt vô cùng.
Nhưng chính điều đó lại khiến tôi và Akari cần nhau hơn, gần nhau hơn.
Tôi nhớ có chuyện thế này. Một hôm, trong giờ nghỉ trưa, tôi vừa từ nhà
vệ sinh quay về lớp học thì thấy Akari đứng một mình trên bục giảng. Trên
bảng đen (đặt vào thời nay thì đó chỉ là trò đùa rất bình thường), có vẽ một
chiếc ô đôi tình nhân, bên dưới đề tên tôi và Akari. Các bạn trong lớp vừa
xì xào bàn tán, vừa nhìn chằm chằm vào Akari. Chắc là vì muốn chấm dứt
trò đùa, Akari mới bước lên bục giảng định lau hình vẽ đi, nhưng đến lúc
đứng trước đông người, em xấu hổ quá nên ngừng lại giữa chừng. Chứng
kiến cảnh đó, tôi giận sôi gan, không nói không rằng hùng hổ vào lớp, vơ
giẻ xóa lấy xóa để những nét vẽ nguệch ngoạc. Rồi chính bản thân cũng
không hiểu tại sao, tôi kéo tay Akari rời khỏi lớp học. Còn nghe rõ sau lưng
tiếng bàn tán ồn ào rộ lên, nhưng mặc kệ, chúng tôi tiếp tục chạy. Ngay tôi
cũng không tin được là mình có thể hành động dũng cảm đến thế. Tôi nhớ
như in cảm giác váng vất vì tiếp xúc với bàn tay mềm mại của Akari, và lần
đầu tiên không còn thấy sợ bất cứ điều gì, dù biết phía trước là vô vàn
chông gai đang chờ đợi. Chuyển trường, thi cử, những vùng đất mới, những
người xa lạ... nhưng tôi tin rằng chỉ cần có Akari ở bên, tôi sẽ đủ sức vượt
qua mọi thử thách.
Tình cảm của chúng tôi bây giờ còn quá non thơ để mà gọi là “tình
yêu”, nhưng rõ ràng tôi mến Akari, và cũng nhận thấy cảm xúc tương tự từ
phía em. Qua cái nắm tay thật chặt, qua cả bước chạy nhịp nhàng phối hợp,
tôi càng thêm đoan chắc. Chỉ cần bên nhau thế này, tôi tin phía trước chẳng
còn gì đáng sợ.
Ý nghĩ đó theo tôi suốt ba năm học cùng Akari, mỗi ngày một son sắt.
Chúng tôi quyết định sẽ thi cùng một trường cấp II dân lập, hơi xa nhà một
chút, và cần cù học nhóm, thành ra lại được nhiều thời gian bên nhau. Nhận
thấy mình sống hướng nội, chỉ thích khép kín trong thế giới nhỏ bé của
riêng hai người, rồi có những cảm xúc “trưởng thành” hơn các bạn đồng
trang lứa, chúng tôi quyết định coi tất cả những trạng thái này là bước đệm
cho tháng ngày sắp tới ở cấp II. Chúng tôi sẽ để lại sau lưng mái trường cấp
I với nhiều điểu chưa kịp quen thân, đồng thời bắt đầu một hành trình mới
với những người bạn mới, thế giới ở đó chắc chắn rộng lớn hơn rất nhiều.
Tôi hi vọng, lên cấp II, tình cảm còn mong manh mơ hồ giữa hai đứa sẽ
được định hình rõ nét, và chờ đến ngày chúng tôi đủ tự tin để bộc lộ tình
cảm ấy thành lời. Khoảng cách giữa chúng tôi với môi trường xung quanh,
rồi khoảng cách giữa tôi và Akari, sẽ ngày càng thu ngắn. Bằng cách liên
tục nỗ lực và nỗ lực hơn nữa, chúng tôi sẽ tìm được tự do cho mình.
Bây giờ ngẫm lại thì hình như lúc đó hai đứa đều có dự cảm không lành
về một tương lai thiếu vắng nhau, nên cố sức lấp đầy bằng việc trao đổi
kiến thức. Tình cảm thương mến dành cho nhau, ước muốn được ở mãi bên
nhau là có thật, nhưng có lẽ sau bao lần chuyển trường, chúng tôi bị ám ảnh
bởi sự chia xa và hiểu được rằng, nguyện ước đó sẽ khó thành hiện thực. Vì
sợ một ngày kia không còn ở bên nhau nữa, nên tranh thủ trao gửi được gì
thì trao gửi.
Quả thật, tôi và Akari không có cơ hội học cùng trường cấp II. Một tối
mùa đông năm lớp Sáu, em gọi điện báo tin cho tôi.
Hiếm khi chúng tôi nói chuyện qua điện thoại, càng bất thường khi nó
là cuộc gọi lúc tối muộn (hồi ấy 9 giờ tối đã được coi là muộn). Mẹ trao ống
nghe cho tôi và nói, “Điện thoại của Akari”. Ngay lập tức, tôi linh cảm có
điều không hay.
“Takaki à, tớ xin lỗi,” giọng Akari lí nhí qua điện thoại. Tiếp theo là
điều tôi không bao giờ muốn nghe, thậm chí không thể tin là sự thật.
“Tớ không học cùng cấp II với cậu được rồi,” Akari nói. Ba em lại
chuyển công tác, kì nghỉ xuân này cả nhà em sẽ chuyển đến sống ở một thị
trấn nhỏ vùng Bắc Kanto. Giọng em run run như sắp khóc nấc lên. Tôi
không hiểu gì hết. Toàn thân nóng bừng như có lửa đốt, nhưng đầu thì đóng
băng lạnh buốt. Tôi không biết Akari đang nói gì, càng không hiểu vì sao
em phải nói với tôi những chuyện như thế.
“Ơ... thế còn trường cấp II Nishi? Họ đã nhận cậu rồi cơ mà,” tôi lắp
bắp mãi mới thốt ra được một câu.
“Tớ đang làm thủ tục để vào trường công lập ở Tochigi... Xin lỗi nhé.”
Tiếng xe cộ chạy ngoài đường dội vào ống nghe, nghĩa là Akari đang
gọi cho tôi từ bốt điện thoại công cộng. Dù đang ở trong phòng riêng, tôi
vẫn thấy hơi lạnh từ nơi ấy lan tới tận những ngón tay mình. Tôi ngồi bệt
xuống, tay ôm đầu gối. Không biết phải trả lời thế nào, tôi suy nghĩ rất lung
để tìm ra điều nên nói.
“Không, Akari không cần xin lỗi... Nhưng...”
“Tớ đã cố thuyết phục ba cho ở lại nhà cô Katsuhika, nhưng ba nói tớ
còn nhỏ quá nên... không được...”
Akari cố nén cơn nức nở, tôi bỗng thấy mình không muốn nghe thêm gì
nữa và, trong một phút mất bình tĩnh, tôi gắt lên với em.
“Tớ biết rồi!” Tôi cắt ngang không để Akari nói hết câu, ở đầu dây bên
kia dường như em đang nín thở. Nhưng điều đó không ngăn được tôi tiếp
tục.
“Thế là đủ...” Giọng tôi gay gắt. “Quá đủ rồi...” Khi lặp lại, tôi cố hết
sức không để nước mắt tuôn rơi. Tại sao? Tại sao lúc nào mọi chuyện cũng
trở nên tồi tệ như thế?
Mười mấy giây trôi qua, tôi nghe Akari thì thào rất khẽ giữa tiếng nấc,
“Tớ xin lỗi...” Tôi vẫn ngồi đó, ống nghe ấn mạnh vào vành tai đau nhói,
nhưng không dám buông tay, cũng không thể cúp máy. Dù biết lời vừa nói
ra đã làm Akari tổn thương nặng nề, nhưng tôi chẳng làm gì hơn được.
Ngày ấy, tôi vẫn chưa biết cách điều chỉnh những cảm xúc bột phát trong
lòng. Cuộc điện thoại cuối cùng với Akari kết thúc không mấy vui vẻ, tôi
vẫn ngồi im, tay ôm đầu gối.
Những ngày tiếp theo, tôi sống trong u ám. Cảm thấy có lỗi vì không
nói được lời an ủi tốt đẹp nào với Akari, chắc hẳn em còn buồn hơn tôi rất
nhiều. Hai đứa đón lễ tốt nghiệp cũng với tâm trạng thấp thỏm bất an. Tôi
chia tay Akari khi mối quan hệ của chúng tôi chưa thực sự trở lại bình
thường.
Ngay sau lễ tốt nghiệp, Akari dịu dàng bắt chuyện với tôi, “Takaki à,
thế là chúng ta phải chia tay ở đây...” Tôi nhớ lúc ấy mình chỉ im lặng, mắt
nhìn xuống, không nói không rằng. Từ trước tới giờ tôi đâu làm được gì cho
Akari, chỉ toàn dựa dẫm vào em. Tôi từng có niềm tin mãnh liệt, rằng chỉ
cần Akari ở bên, sớm thôi, tôi sẽ trở thành một người đàn ông bản lĩnh, kiên
cường để che chở cho em. Nhưng đến giờ nhìn lại, tôi vẫn chỉ là một cậu
nhóc yếu đuối, luôn bị một thế lực vô hình nào đó khống chế và không giữ
nổi bình tĩnh. Cứ cho là một cô bé mới mười hai tuổi Akari không có quyền
lựa chọn đi, nhưng chúng tôi cũng không đáng phải xa nhau thế này. Tuyệt
đối không...
Học kì mới đã bắt đầu và dù muốn dù không, tôi vẫn phải đối mặt với
những ngày sắp tới. Tôi phải một mình đến trường, ngôi trường dự định học
cùng Akari, từng bước một làm quen với bạn mới và quyết tâm vào được
câu lạc bộ bóng đá. Tuy bận hơn hồi cấp I, nhưng tôi thích tình trạng bù đầu
bù cổ thế này. Việc ở một mình không còn làm tôi thoải mái như trước đây,
ngược lại càng khiến tôi khổ sở và bế tắc. Bằng mọi cách, tôi muốn tạo
dựng những khoảnh khắc bên bạn bè, tối học xong chui vào chăn ngủ luôn,
sáng dậy sớm, hăng hái tham gia luyện tập cùng câu lạc bộ.
Tôi tin chắc rằng ở vùng đất kia Akari cũng đang bận rộn. Tôi chỉ có
một ước mong duy nhất là em sẽ dần lãng quên tôi trong môi trường mới
của mình. Bởi ngày chia tay, tôi chỉ đem lại cho em những kỉ niệm buồn.
Đã đến lúc tôi phải xóa đi những kí ức về Akari và may thay, hai chúng tôi
đều có kinh nghiệm tìm quên quá khứ nhờ những lần chuyển trường.
Thế rồi, vào một ngày hè oi ả, tôi nhận được thư của Akari, lá thư hồng
phấn mỏng manh nằm trong hòm thư của khu chung cư. Lúc nhận ra nét
chữ của Akari, cảm xúc đầu tiên xâm chiếm hồn tôi không phải vui sướng,
mà là sững sờ.
“Tại sao lại đúng vào lúc này?” Khi mà suốt nửa năm qua tôi đã cố
gắng hòa mình vào môi trường không có Akari. Vậy mà, vừa nhận được lá
thư, bao nỗi cô đơn vì thiếu vắng em sống dậy trong tôi.
Ra là thế. Đã cố gắng bao nhiêu để quên một người nhưng rốt cuộc trái
tim tôi vẫn chỉ hướng về người ấy. Tôi có thêm rất nhiều bạn mới, nhưng
mỗi lần thêm bạn, tôi lại càng nhận ra rằng Akari quan trọng với tôi đến
nhường nào. Tôi nhốt mình trong phòng, đọc đi đọc lại lá thư của Akari.
Tôi còn kẹp vào sách và len lén xem lại trong giờ học. Từng câu từng chữ
vẫn in đậm trong tâm trí tôi.
“Thân gửi Toono Takaki...”
Đó là dòng mở đầu của lá thư. Nét chữ ngay ngắn, đầy hoài niệm.
“Lâu lắm rồi nhỉ! Cậu có khỏe không? Mùa hè trên này nóng khủng
khiếp, nhưng chắc chắn là dễ chịu hơn so với Tokyo. Chẳng hiểu sao nghĩ
lại, tớ thấy thích mùa hè oi ả năm nào ở Tokyo hơn. Nhớ lắm con đường
nhựa tưởng chừng đang chảy nhão ra dưới chân mình, nhớ những tòa cao
ốc như sắp bốc hơi vì nóng, nhớ cái điều hòa mát lạnh như kem trên tàu
điện hoặc những khu mua sắm...”
Câu chữ em dùng nghe chững chạc hơn nhưng kem theo đó là những
hình minh họa nhỏ xíu, đáng yêu (ông mặt trời, chú ve con, những tòa cao
ốc...) Tôi có thể mường tượng trong đầu hình ảnh Akari đang lớn dần, từng
chút một. Lá thư rất ngắn nhưng ghi lại đủ thứ chuyện về cuộc sống mới
của em, từ chuyện em đi học mỗi ngày trên chiếc tàu điện bốn toa đến nỗ
lực tham gia câu lạc bộ bóng rổ với mong muốn rèn luyện sức khỏe. À, cả
chuyện cắt tóc ngắn đến ngang tai nữa chứ... Những mẩu chuyện be bé thế
thôi không ngờ cũng làm trái tim tôi bồi hồi. Trong thư, không có dòng nào
nói rằng em cảm thấy buồn vì không còn được gặp được tôi mỗi ngày và tôi
có thể cảm nhận được rằng cuộc sống mới của em đang rất tốt đẹp, em cũng
dần thích nghi với nó. Nhưng tôi dám chắc rằng em vẫn nhớ tôi, muốn được
trò chuyện cùng tôi và trên hết, em sầu muộn. Nếu không, vì sao em lại viết
thư cho tôi? Những cảm xúc đó của Akari cũng chính là cảm xúc tôi đang
có lúc này.
Kể từ đó, tôi và Akari viết thư cho nhau mỗi tháng một lần. Nhờ việc
viết thư, tôi thấy cuộc sống của mình dễ thở hơn trước. Chẳng hạn, một giờ
học chán ngắt, tôi có thể cảm nhận rõ ràng là nó chán. Từ ngày giã biệt
Akari, tôi chỉ đơn giản cho rằng đó-là-điều-hiển-nhiên nhưng giờ đây tôi đã
hiểu biết thế nào là nỗi nhọc nhằn khi tập bóng, biết khó chịu trước những
trò bắt nạt vô lí của mấy đứa khóa trên. Kì lạ thay, cũng vì biết suy nghĩ tích
cực hơn nên dù có nhiều lúc rất đau khổ, tôi vẫn dễ dàng chịu đựng hơn và
có thể vượt qua được. Chúng tôi không kêu ca phàn nàn trong thư về cuộc
sống hàng ngày, nhưng việc nhận ra rằng trên thế giới vẫn còn ai đó hiểu
mình giúp chúng tôi sống mạnh mẽ hơn.
Mùa hè đầu tiên của lớp Bảy trôi qua, mùa thu cũng chóng qua rồi lại
sang đông. Tôi bước sang tuổi mười ba và chỉ trong vòng mấy tháng đã cao
thêm bảy centimet, cơ thể bắt đầu có da có thịt, không hay bị cảm cúm như
trước nữa. Đặc biệt, tôi có cảm giác khoảng cách giữa mình với thế giới đã
gần lại. Chắc hẳn Akari cũng thế, em cũng mười ba rồi. Mỗi lần nhìn các
bạn nữ xúng xính trong bộ đồng phục, tôi lại tự hỏi ngoại hình Akari có
thay đổi nhiều không? Trong thư, Akari viết muốn được cùng tôi ngắm hoa
anh đào như thời tiểu học. Và rằng, gần nhà em có một cây anh đào rất lớn.
“Vào mùa xuân, chắc những cánh hoa ấy cũng rơi xuống với vận tốc năm
centimet trên giây nhỉ?” Em viết.
Học kì một năm lớp Tám, tôi có quyết định chuyển trường lần nữa. Gia
đình tôi sẽ chuyển đi vào kì nghỉ xuân, điểm đến lần này là Kagoshima
thuộc Kyushu. Chính xác là một hòn đảo tách biệt với Kyushu. Bay từ sân
bay Haneda đến Kagoshima phải mất hai tiếng đồng hồ. Thậm chí, tôi đã
nghĩ nó chẳng khác gì nơi tận cùng thế giới. Nhưng thời ấy tôi đã quá quen
với những biến động trong cuộc sống của mình nên không lấy làm ngạc
nhiên. Vấn đề là khoảng cách địa lí với Akari. Từ khi lên cấp II chúng tôi
vẫn chưa gặp lại nhau, mà thực ra chúng tôi đâu ở cách xa nhau quá. Từ
Tokyo đến thị trấn vùng Bắc Kanto nơi Akari đang sống chỉ mất ba tiếng
đồng hồ ngồi tàu điện. Thử nghĩ mà xem, chúng tôi hoàn toàn có thể gặp
nhau vào dịp cuối tuần. Nhưng nếu tôi chuyển đến vùng cực Nam của đất
nước, cơ hội gặp được Akari gần như bằng không.
Chính vì vậy trong lá thư tiếp theo gửi Akari, tôi nói muốn gặp em một
lần trước khi chuyển đi. Tôi thử gợi ý về thời gian và địa điểm gặp nhau.
Ngay lập tức tôi nhận được hồi âm. Cả hai đều đang chuẩn bị thi cuối kì,
Akari còn phải tham gia các khóa tập cùng câu lạc bộ, tôi thì phải thu xếp
để chuyển nhà nên thời gian thích hợp nhất cho cả hai là vào buổi tối, sau
giờ học trên trường, và tất nhiên là khi chúng tôi đã thi xong. Sau khi tra
bảng giờ tàu, tôi quyết định hẹn gặp Akari lúc 7 giờ tối ở ga gần nhà em.
Hôm đó, tôi sẽ bỏ một buổi tập cùng câu lạc bộ, học xong đi ngay thì chắc
chắn kịp giờ hẹn. Trò chuyện cùng Akari khoảng hai tiếng và vẫn bắt được
chuyến tàu cuối ngày để quay về Tokyo. Chỉ cần về được nhà trong ngày thì
tôi có thể viện ra bất kì lí do gì để ba mẹ yên tâm. Tôi sẽ phải đổi tàu nhiều
lần, qua các tuyến Odakyu, Saikyo, sau đó là Utsunomiya, Ryomo, tất cả
đều đi bằng tàu thường nên giá vé cả đi cả về rơi vào khoảng 3500 yên. Đối
với tôi mà nói, số tiền đó không phải là nhỏ nhưng khao khát được gặp
Akari lớn hơn tất thảy.
Vẫn còn hai tuần nữa mới đến ngày hẹn nên tôi dành thời gian để viết
cho Akari một bức thư thật dài. Có lẽ đó là bức thư tình đầu tiên trong đời.
Tôi miêu tả tương lai mình mơ ước, kể về những cuốn sách hay những ca
khúc yêu thích, và đặc biệt về vị trí quan trọng của Akari trong trái tim tôi.
Nhiều người có thể cho thế là trẻ con, tầm phào, nhưng tôi đã cố gắng hết
sức gửi vào đó những lời lẽ chân thành nhất. Tôi không còn nhớ rõ nội
dung chi tiết của lá thư, chỉ nhớ mình đã viết đầy tám trang giấy. Bởi vì
thực sự có quá nhiều điều tôi muốn chia sẻ cùng Akari, và tôi có linh cảm
chỉ cần Akari đọc lá thư này, tôi sẽ có thêm động lực để vượt qua khó khăn
trong những ngày sắp tới ở Kagoshima. Đó là những điều tôi muốn em hiểu
về tôi.
Trong những ngày viết lá thư, tôi nằm mơ thấy Akari không biết bao
nhiêu lần.
Trong mơ, tôi biến thành một con chim nhỏ lanh lợi dang rộng đôi cánh,
vút bay trên bầu trời đêm thành phố giăng đầy dây điện. Chim băng qua
những tòa nhà cao sừng sững. Nghĩ đến việc sắp được gặp những người
quan trọng nhất trên đời, một cảm giác phấn khích chạy dọc sống lưng, thân
hình bé bỏng ấy lao đi vùn vụt, nhanh gấp trăm nghìn lần so với tốc độ chạy
trên mặt đất. Chẳng mấy chốc, thành phố đã ở lại phía sau, đèn đường chỉ
còn là những đốm bé xíu như sao sa, và ánh sáng từ những toa tàu trông
chằng chịt như mạng lưới động mạch tĩnh mạch chạy xuyên màn đêm.
Chim nhỏ bay xuyên mây, bắt gặp tầng khí quyển đang phát sáng kì ảo
dưới ánh trăng. Ánh sáng xanh trong suốt ấy rọi vào những đám mây, làm
viền mây sáng lên dịu nhẹ. Tôi có cảm giác mình đang bay lạc đến một
hành tinh xa xôi nào khác. Cơ thể bao bọc trong lớp lông vũ run lên vì hạnh
phúc, bởi giờ đây tôi có thể thỏa sức bay đến bất cứ nơi đâu.
Bay gần đến đích, trong tôi trào dâng niềm tự hào, phấn khích. Chim
nhỏ nhanh chóng tiếp đất, phóng tầm mắt nhìn ra xung quanh. Đây chính là
nơi em sống, là những cánh đồng trải dài đến tận chân trời, là những mái
nhà thấp thoáng ẩn mình sau rừng cây.
Một luồng sáng bất ngờ xẹt qua. Đó là ánh đèn từ xe lửa. Chắc hẳn
“tôi” đang ngồi trên chuyến tàu đó. Mắt tôi kiếm tìm người con gái đang
chờ đợi mình trong sân ga. Cô gái có mái tóc ngắn đến mang tai, lặng lẽ
ngồi trên chiếc ghế dài, gần đó là cây anh đào cổ thụ. Mùa này anh đào còn
chưa ra hoa, nhưng tôi có thể cảm nhận luồng sinh khí đang nảy nở bên
trong lớp vỏ cây xù xì, khô cứng. Cuối cùng cô gái cũng nhận ra sự có mặt
của tôi, em ngước nhìn lên. Mình sắp gặp được nhau rồi. Sắp thật rồi...
3
Vào ngày hẹn với Akari, trời mưa suốt từ sáng. Bầu trời như bị đậy
bằng một cái vung xám xịt. Những hạt mưa buốt giá rời cái vung ấy thia lia
rơi xuống. Một ngày đặc quánh không khí mùa đông, bởi vị thần mùa xuân
chừng như đổi ý nên chưa muốn đến. Tôi khoác áo dạ nâu ra ngoài bộ đồng
phục học sinh, cẩn thận nhét lá thư gửi Akari vào sâu trong cặp, rảo bước
tới trường. Chắc mẩm phải nửa đêm mới về đến nhà nên tôi để lại mảnh
giấy báo rằng buổi tối về muộn cho ba mẹ yên tâm. Ba mẹ đâu biết chuyện
tôi và Akari nên dù có trình bày mọi chuyện thật rõ ràng, chắc gì ba mẹ đã
đồng ý cho đi.
Cả buổi học hôm đó, tôi chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ, lòng bồn chồn không
yên. Thú thực tôi chẳng còn tâm trạng nào để theo dõi bài giảng, bởi đang
cố mường tượng trong đầu hình ảnh Akari mặc đồng phục trông như thế
nào, chúng tôi sẽ nói chuyện gì với nhau, và cả giọng nói dễ thương của em.
Đúng rồi, ngày đó tôi còn chưa nhận ra nhưng giờ thì tôi biết, tôi yêu giọng
nói của Akari. Tôi yêu vô cùng giọng nói truyền cảm, có sức lay động cả
không gian xung quanh ấy. Mỗi lần nghe thanh âm êm ái, ấm áp của em, tôi
cảm thấy mình được khích lệ rất nhiều. Tôi sắp được nghe lại giọng nói đó
rồi. Chỉ nghĩ đến điều ấy thôi, toàn thân tôi đã nóng bừng bừng như có lửa
đốt, và tôi phải nhìn mưa ngoài cửa sổ để trấn an mình.
Mưa!
Vận tốc rơi là năm mét một giây. Từ trong lớp nhìn ra, khung cảnh bên
ngoài nhuốm màu xám xịt, ánh đèn thấp thoáng từ những ô cửa sổ chung cư
hay cao ốc cứ mờ dần mờ dần. Tôi đăm đăm nhìn những đốm sáng nhỏ
nhoi đấy cho đến khi chúng tắt hẳn, thi thoảng lắm mới nhìn thấy một ngọn
đèn le lói. Trong lúc tôi mải ngắm nhìn như thế, mưa càng lúc càng nặng
hạt. Đến khi tan học, tuyết cũng bắt đầu rơi.
Tôi chờ đến khi trong lớp không còn ai, mới dám lôi thư và mảnh giấy
ghi chú trong cặp ra. Sau một hồi lưỡng lự, tôi nhét thư vào túi áo khoác.
Bằng mọi giá, tôi muốn trao tận tay lá thư cho Akari, nên phải đặt nó ở vị
trí mà lúc nào đầu ngón tay mình cũng có thể chạm vào được mới yên tâm.
Mảnh giấy ghi chú là danh sách những chuyến tàu tôi phải lên, giờ tàu chạy
và chuyển tàu như thế nào. Tôi đã xem đi xem lại hàng chục lần nhưng vẫn
muốn kiểm tra thêm một lần nữa.
Tôi sẽ xuất phát từ ga Goutokuji trên tuyến Odakyu vào lúc 3 giờ 54
phút đi Shinjuku. Sau đó, tôi sẽ chuyển sang tuyến Saikyo, đến ga Omiya,
từ đây chuyển sang tuyến Utsunomiya đến ga Koyama. Cuối cùng, tôi
chuyển sang tuyến Ryomo và đến ga Iwafune vào lúc 6 giờ 45 phút tối. Tôi
hẹn gặp Akari lúc 7 giờ ở ga Iwafune nên đi theo lịch trình này là vừa kịp
giờ hẹn. Đây là lần đầu tiên tôi tự mình đi một quãng đường dài đến thế.
Tôi tự nhủ, “Không sao, tất cả rồi sẽ ổn. Sẽ không có bất kì khó khăn nào ở
phía trước cả.” Tôi tin như vậy.
©DTV: http://www.dtv-ebook.com
Tôi bước xuống cầu thang, khu học xá tối om, không còn một bóng
người. Để thay giày, tôi phải mở cánh cửa tủ sắt, tiếng kim loại va vào nhau
trong đại sảnh vắng tanh tạo nên thứ âm thanh nghe rờn rợn, làm tim tôi đập
loạn lên. Tôi bỏ lại trong tủ đồ chiếc ô mang theo lúc sáng, bước ra khỏi đại
sảnh và nhìn lên trời. Hồi sáng còn ngai ngái mùi của mưa ẩm, giờ lại là
hương vị lạnh ngắt của tuyết, so với mưa, nó trong trẻo hơn, tinh khiết hơn,
thấm thía lòng người hơn. Tôi nhìn bầu trời xám xịt, hàng vạn bông tuyết
trắng xóa bời bời đổ xuống, nhìn lâu sẽ có cảm giác mình sắp bị nó nuốt
trọn. Tôi vội kéo mũ trùm lên đầu rồi nhanh chóng chạy về phía ga.
Đây cũng là lần đầu tiên tôi đi một mình đến ga Shinjuku, một ga chẳng
lấy gì làm thân quen với cuộc sống thường nhật của tôi. Nói mới nhớ, cách
đây mấy tháng tôi có hẹn với một bạn cùng lớp đi xem phim ở Shinjuku.
Lúc đó, cả tôi và bạn đã đến ga này trên tuyến Odakyu, nhưng sau đó chúng
tôi bị lạc ở cửa Đông tuyến JR, lúc tìm đường ra khỏi ga. Sự chộn rộn, náo
nhiệt của ga Shinjuku còn để lại ấn tượng mạnh mẽ trong tôi, hơn cả bộ
phim hôm đó chúng tôi cùng xem.
Ra khỏi cửa soát vé của tuyến Odakyu, tôi đảo mắt tìm bảng chỉ dẫn để
không bị lạc lần nữa, chân bước nhanh về hướng có ghi “Cửa bán vé tuyến
JR”. Bên kia khoảng rộng mênh mông có hàng cột trải dài là khu vực kê san
sát mấy chục cỗ máy bán vé tự động, tôi chọn một hàng thưa người nhất,
chờ mua vé. Đứng trước tôi là một phụ nữ, trông như dân văn phòng, mùi
nước hoa dịu ngọt của chị không hiểu sao làm ngực tôi đau nhói. Hàng kế
bên nhích dần lên, lần này là mùi băng phiến từ áo khoác của người đàn ông
trung niên đứng ngang hàng với tôi, gợi nhắc tôi về nỗi bất an khi chuyển
nhà. Khoảng không gian dưới lòng đất bị lấp đầy bởi đủ loại tạp âm, hỗn
độn và huyên náo. Mũi giày của tôi lạnh buốt vì tuyết đang tan ra, đầu thì
cứ ong ong lên. Đến lượt mình mua vé, tôi mới nhận ra không có nút bấm
nào trên máy (thời đó hầu như tất cả các máy bán vé tự động đều là dạng
nút bấm). Tôi liếc sang bên cạnh mới biết chỉ cần chạm tay vào màn hình là
có thể lựa chọn vé cần mua.
Qua cửa soát vé tự động để vào sâu trong ga, tôi nhìn kĩ bảng chỉ dẫn
rồi nhanh chóng len lỏi vào dòng người tìm lối ra đường ray tuyến Saikyo.
Nào là “Yamanote – ngoại tuyến”, “Soubu – hướng đi Nakano”,...
 





