GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
Bao Điều Không Nói - Celeste Ng & Thảo Lê (dịch)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:25' 07-03-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:25' 07-03-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
CHƯƠNG MỘT
Lydia đã chết. Nhưng gia đình cô vẫn chưa biết điều này. Năm 1977, ngày
3 tháng năm, lúc 06:30 sáng, không ai thấy có gì bất thường ngoài một
thực tế vô thưởng vô phạt: Lydia muộn bữa ăn sáng. Như mọi khi, bên
cạnh bát ngũ cốc, mẹ của Lydia đặt một cây bút chì mài nhọn và sáu bài tập
Vật lý về nhà đã được đánh dấu nháy nhỏ cho cô. Đánh xe đến chỗ làm, bố
của Lydia quay đĩa số về WXKP, Kênh Tin tức Hay nhất Tây Bắc Ohio,
bực mình bởi tiếng rè rè của sóng vô tuyến. Trên cầu thang, anh trai của
Lydia ngáp ngắn ngáp dài, đắm mình trong cơn mơ ngủ. Trên chiếc ghế
trong góc bếp, em gái của Lydia khòm người, tròn mắt nhìn đĩa ngũ cốc
bắp, cố hút từng miếng một, chờ Lydia xuất hiện. Rốt cuộc, cô cũng lên
tiếng: “Lydia đang làm mất thời gian hôm nay rồi đấy.”
Tầng trên, Marilyn mở cửa phòng con gái mình và trông thấy chiếc
giường trống không: mấy góc chăn bông vẫn được xếp gọn gàng, mặt gối
vẫn mịn và căng phồng. Mọi thứ vẫn ở yên vị trí của nó. Mớ đồ nhung kẻ
màu mù tạt nằm ngổn ngang dưới sàn, cạnh một chiếc vớ sọc cầu vồng.
Hàng ruy băng Giải thưởng Khoa học treo trên tường, một tấm bưu thiếp
của Einstein. Chiếc túi du lịch nhàu nát trên sàn tủ quần áo. Chiếc cặp đựng
sách màu xanh lá nằm rũ trên bàn. Lọ Baby Soft trên nóc tủ với mùi hương
phấn dịu ngọt mềm mại vẫn còn đọng trong không khí. Nhưng không có
Lydia.
Marilyn nhắm mắt lại. Có lẽ, khi bà mở mắt ra, Lydia sẽ ở đó, phủ chăn
quá đầu như thường lệ, suối tóc dài xòa xuống. Một giọng điệu gắt gỏng
phát ra từ dưới tấm ga trải giường mà, vì lí do nào đó, bà mặc kệ. Con
đang trong phòng tắm, mẹ ơi. Con xuống dưới lầu uống nước rồi. Con
nằm đây nãy giờ mà. Tất nhiên, khi bà đưa mắt nhìn xung quanh, chẳng có
gì thay đổi cả. Các rèm cửa khép kín hắt ánh sáng như một màn hình tivi
trống.
Xuống cầu thang, bà dừng lại ở cửa nhà bếp, bàn tay đặt lên mỗi bên
khung cửa. Sự im lặng của bà đã nói lên tất cả. “Mẹ sẽ kiểm tra bên ngoài”
- cuối cùng, bà nói. - “Có thể có lí do nào đó…”. Bà nhìn chằm chằm vào
sàn nhà rồi lại hướng về phía cửa trước, như thể dấu chân của Lydia đã bị
thảm lau mất dấu vết.
Nath nói với Hannah: “Lydia ở trong phòng nó tối qua mà. Anh nghe có
tiếng radio. Lúc 11:30.” Cậu ngừng nói, sực nhớ ra cậu đã không chúc em
gái ngủ ngon.
“Mười sáu tuổi thì có còn bị bắt cóc được nữa không ạ?” - Hannah vặn
vẹo.
Nath dùng muỗng khuấy bát thức ăn của mình. Ngũ cốc bắp nát ra rồi
chìm vào lớp váng sữa.
Mẹ chúng trở vào bếp, và vì một khoảnh khắc an nhiên trong lòng, Nath
thở hắt ra nhẹ nhõm với ước nguyện: Em đây rồi, Lydia, vẫn bình an vô
sự. Điều này thỉnh thoảng vẫn xảy ra - gương mặt anh em chúng giống
nhau đến nỗi dù đã nhìn thật chăm chú nhưng bạn vẫn sẽ nhầm lẫn đứa này
với đứa khác: chiếc cằm xinh xắn, xương gò má cao và lúm đồng tiền bên
má trái giống nhau, bờ vai thon gọn y hệt. Chỉ có màu tóc là khác biệt, tóc
Lydia đen nhánh như màu mực trong khi mẹ chúng lại có mái tóc xoăn màu
mật ong. Nath và Hannah lại giống bố. Có một lần, một người phụ nữ
dừng lại trước chúng trong một cửa hàng tạp hóa và sẵng giọng hỏi:
“Người Trung Quốc à?” Và khi chúng vừa kịp trả lời vâng, bà ta không
thiết nghe tiếp câu nói dang dở đã gật gật đầu ra chiều hiểu biết. “Nhìn đôi
mắt đó là biết ngay mà.” Bà ta nói rồi kéo dài đuôi mắt với một ngón tay.
Nhưng Lydia, bất chấp di truyền, bằng cách nào đó sở hữu đôi mắt màu
xanh biếc của mẹ, và chúng biết điều này là một trong nhiều lý do Lydia
rất được mẹ cưng chiều. Và bố của chúng cũng vậy.
Khi Lydia đặt tay lên trán thì trông cô càng giống mẹ hơn nữa.
“Chiếc xe vẫn còn ở đây” - bà nói, Nath biết trước như vậy rồi. Lydia
không thể lái xe; con bé thậm chí còn chưa có giấy phép lái xe. Tuần trước,
nó đã khiến cả nhà kinh ngạc khi thì rớt, và bố nhất định sẽ không để con
bé ngồi ở ghế lái khi không có bằng. Nath khuấy ngũ cốc đang dần đặc
quánh lại ở đáy bát của mình. Đồng hồ trong sảnh kêu tích tắc, điểm bảy
giờ ba mươi phút. Không một ai di chuyển.
“Hôm nay chúng ta vẫn đến trường chứ?” - Hannah hỏi.
Marilyn lưỡng lự. Sau đó, bà vào lấy ví và chùm chìa khóa với một vẻ
mặt tươi tỉnh. “Hai con muộn xe buýt rồi. Nath, lấy xe của mẹ và tiện thể
thả Hannah xuống trên đường con đi nhé.” Rồi bà nói tiếp: “Đừng lo lắng.
Bố mẹ sẽ tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.” Bà không nhìn bọn trẻ.
Chúng cũng không hề quay lại nhìn bà.
Khi hai đứa con đi khỏi, bà lấy ra một chiếc cốc từ chạn bếp, cố giữ bàn
tay khỏi run rẩy. Cách đây rất lâu, khi Lydia còn là một đứa bé, Marilyn đã
từng để Lydia một mình trong phòng khách, chơi trên một cái chăn, và đi
vào nhà bếp để pha một tách trà. Con bé chỉ mới mười một tháng tuổi.
Marilyn nhấc ấm nước ra khỏi bếp và quay sang tìm Lydia đang đứng ở
ngưỡng cửa. Vừa xoay đi, bà đã đặt nhầm bàn tay trên bếp nóng. Một vết
bỏng đỏ au, hình xoắn ốc hiện lên trên lòng bàn tay, rồi bà chạm nó lên môi
và nhìn con gái mình qua làn nước mắt. Lydia đứng đó, hoạt bát lạ thường,
tựa như đây là lần đầu tiên cô vào nhà bếp. Marilyn đã không nghĩ về
những thiếu sót trong bước đầu tiên nuôi dạy con trẻ, hoặc giả con gái
mình đã lớn đến nhường nào. Ý nghĩ hiện lên trong tâm trí bà không phải
là Mình đã bỏ rơi con bé ra sao? Mà là Con đang che giấu điều gì khác?
Nath đã biết rướn người, loạng choạng lật mình và đi chập chững ngay
trước mặt bà, nhưng bà lại không nhớ Lydia đã bắt đầu tập đứng khi nào.
Dù con bé trông có vẻ rất vững vàng trên đôi chân trần, những ngón tay bé
nhỏ hé ra từ gấu áo của bộ đồ yếm. Marilyn thường quay lưng lại, mở tủ
lạnh hoặc ủi quần áo. Lydia có thể đã bắt đầu biết đi từ nhiều tuần trước,
trong lúc bà mải cúi người làm bếp, và không hề biết điều gì đang diễn ra.
Bà bế Lydia lên, vuốt tóc và nói với con bé rằng nó thông minh đến
dường nào, rằng bố nó sẽ cảm thấy tự hào ra sao khi ông trở về nhà.
Nhưng bà lại có cảm giác như thể bà vừa tìm thấy một cánh cửa bị khóa
trong một căn phòng quen thuộc: Lydia, vẫn còn đủ nhỏ để nằm nôi, vẫn có
quá nhiều bí mật được cất giữ. Marilyn có thể cho con bé ăn, tắm và xỏ
chân con bé vào chiếc quần ngủ, nhưng phần nào đó cuộc sống của bà đã
bị che khuất. Bà hôn lên má Lydia và kéo con bé lại gần, cố sưởi ấm mình
qua cơ thể bé nhỏ của cô con gái.
Lúc này, Marilyn nhấp một ngụm trà và chợt nhớ ra.
Số điện thoại của trường trung học được ghim vào tấm bảng ván bần
bên cạnh tủ lạnh, Marilyn giật tấm danh thiếp xuống và quay số, xoắn dây
xung quanh ngón tay mình trong khi chờ điện thoại đổ chuông.
“Trường Trung học Middlewood” - cô thư ký nhấc máy ở hồi chuông
thứ tư. - “Đây là Dottie.”
Bà nhớ lại Dottie: Một người phụ nữ với vóc dáng phổng phao như đệm
ghế sofa, vẫn để kiểu tóc tổ ong màu đỏ nhạt. “Chào buổi sáng” - bà bắt
đầu, và ngập ngừng. - “Con gái của tôi có đến lớp sáng nay chứ?”
Dottie nhã nhặn tặc lưỡi rồi nóng lòng hỏi. “Vui lòng cho biết tôi đang
nói chuyện với ai được không, thưa bà?”
Mất một lúc lâu bà mới nhớ ra tên của mình. “Marilyn. Marilyn Lee.
Con gái tôi là Lydia Lee. Lớp mười”.
“Để tôi xem qua thời khóa biểu của cô bé. Học kỳ đầu…” - Cô ngừng
nói. - “Lớp Vật lý mười một đúng không?”
“Vâng, đúng thế. Với thầy Kelly.”
“Tôi sẽ nhờ ai đó chạy xuống lớp học và kiểm tra.” - Một tiếng thịch
vang lên khi cô thư ký đặt ống nghe xuống bàn làm việc.
Marilyn chăm chú nhìn vào chiếc cốc, nước đã đọng lại thành vũng trên
mặt quầy. Một vài năm trước, một cô gái nhỏ đã chui vào một kho lưu trữ
và bị chết ngạt. Sau đó, cảnh sát đã gửi một tờ rơi đến từng nhà với nội
dung: Nếu con bạn bị mất tích, hãy nhanh chóng tìm chúng. Kiểm tra trong
máy giặt, máy sấy quần áo, thùng xe ôtô, kho chứa dụng cụ, bất kỳ nơi nào
mà chúng có thể chui vào để trốn. Hãy gọi cảnh sát ngay lập tức nếu con
bạn vẫn chưa được tìm thấy.
“Bà Lee?” - cô thư ký nói. - “Con gái của bà không ở trong lớp đầu
khóa. Bà đang gọi để bào chữa cho sự vắng mặt của con bé à?”
Marilyn gác máy mà không bận đáp lời lại. Bà đặt tấm danh thiếp trở lại
tấm bảng, những ngón tay ướt đẫm mồ hôi của bà làm nhòe lớp mực đến
nỗi mấy con số trên tờ giấy mờ đi như vừa trải qua một cơn gió mạnh,
hoặc bị rơi tõm xuống nước.
Bà kiểm tra từng phòng một, mở từng cửa tủ một. Bà liếc nhìn vào nhà
để xe trống: không có gì ngoài một vệt dầu loang trên bề mặt bê tông và
mùi xăng nồng nặc. Bà không chắc bản thân mình đang tìm kiếm điều gì
nữa: Một dấu chân buộc tội? Một manh mối? Khi bà mười hai tuổi, một
chị gái học cùng trường với bà đã mất tích và chết. Ginny Barron. Người
sở hữu một đôi giày saddle mà Marilyn thèm khát dữ dội. Chị ấy đến cửa
hàng để mua thuốc lá cho bố mình, và hai ngày sau đó, họ tìm thấy thi thể
chị bên vệ đường, hướng đi đến Charlottesville, bị bóp cổ và nằm lõa thể.
Ngay lúc này, tâm trí Marilyn bắt đầu chao đảo. Mùa hè của “Con trai
Sam” vừa bắt đầu - mặc cho báo chí mới gọi hắn ta bằng cái tên đó gần đây
- và rằng, ngay cả ở Ohio, vụ ám sát mới nhất cũng được báo chí giật tít
lên trang đầu. Ít tháng nữa thôi, cảnh sát sẽ bắt được David Berkowitz1, và
đất nước sẽ lại tập trung vào những thứ khác: cái chết của Elvis, một Atari
mới toanh, Fonzie bay vụt qua mũi một con cá mập. Ở thời điểm mà những
người dân New York tóc đen đang lùng mua tóc giả màu vàng, thì thế giới,
đối với Marilyn, dường như là một nơi rất đáng sợ và lộn xộn. Những điều
như vậy không xảy ra ở đây, bà tự nhắc nhở mình. Không phải ở
Middlewood, một thành phố trên danh nghĩa nhưng thực tế chỉ là một làng
đại học cỏn con với ba ngàn mét vuông, nơi mà phải lái xe một giờ mới tới
được Toledo, nơi mà dạo phố đêm thứ bảy chỉ luẩn quẩn quanh khu trượt
patin hoặc sân bowling hoặc quầy ăn phục vụ khách trong xe ôtô, nơi mà
ngay cả Middlewood Lake, trung tâm thị trấn, cũng chỉ là một cái ao trang
trí. (Bà ấy đã nhầm ở vế cuối cùng: hồ này rộng đến cả ngàn feet, và nó
rất sâu.) Tuy vậy, bà vẫn cảm giác kim châm vào lưng mình, tựa như những
con bọ cánh cứng đang hành quân dọc xương sống.
Bên trong, Marilyn vén bức màn tắm, nhẫn rít vào thanh sắt, nhìn chằm
chằm vào đường cong màu trắng của bồn tắm. Bà lục lọi hết các tủ trong
nhà bếp. Bà ngó nghiêng khắp tủ thức ăn, tủ áo, cả lò nướng. Rồi bà mở tủ
lạnh và chăm chú quan sát. Mấy quả ô liu. Sữa. Một gói thịt gà, một bó rau
xà lách, một chùm nho màu ngọc bích. Bà chạm tay vào bề mặt mát lạnh
của hũ bơ đậu phộng rồi đóng cửa tủ lạnh lại, lắc đầu. Cứ như thể Lydia sẽ
bằng cách nào đó, chui được vào bên trong.
Mặt trời buổi sáng phủ khắp nhà, dịu nhẹ và mềm mại như bánh chiffon
chanh, tỏa ánh nắng vào tận bên trong mấy hộc tủ trống rỗng và cả sàn nhà
sạch bóng trơn nhẵn. Marilyn nhìn xuống tay mình, cũng trống rỗng và gần
như rực sáng trong ánh nắng mặt trời. Bà nhấc điện thoại và quay số của
chồng.
Đối với James, ở văn phòng, hôm nay vẫn là ngày thứ ba như mọi khi, và
ông gõ đầu bút vào hàm răng. Một dòng chữ đánh máy lem nhem xiêu vẹo:
Serbia là một trong những nước mạnh nhất vùng Baltic. Ông gạch chéo từ
Baltic, viết Balkan, rồi lật trang tiếp. Hoàng tử nước Áo France Ferdinand
bị các thành viên của tổ chức Black Ann ám sát. Là Franz, ông nghĩ. Là
Black Hand. Ông tự hỏi những sinh viên này có từng mở sách ra đọc? Ông
hình dung chính bản thân mình đang đứng trước giảng đường, gậy chỉ bảng
trong tay, bản đồ của châu Âu treo phía sau. Đây là lớp cơ bản, “Hoa Kỳ và
những cuộc Chiến tranh Thế giới”; ông không mong đợi ở họ một kiến
thức uyên thâm hay hiểu biết sáng suốt, sắc sảo. Chỉ cần căn bản nắm được
các sự kiện, và có thể phát âm tên nước Czechoslovakia (Tiệp Khắc) một
cách chính xác.
Ông gập bài luận lại và viết điểm số trên trang đầu - sáu mươi lăm trên
một trăm điểm, rồi khoanh tròn nó. Mỗi năm khi mùa hè đến, sinh viên lại
nhốn nháo và ồn ào; tia lửa của sự bức bối, dồn nén sục lên xèo xèo như
pháo sáng, rồi bắn xoàn xoạt vào các bức tường không cửa sổ của giảng
đường. Mấy bài luận của họ thì miễn cưỡng phát sinh, đoạn văn tủn ngủn,
có khi lỡ dở, nửa chừng câu, tựa như sinh viên họ không thể nào giữ nổi
trong đầu dòng suy nghĩ liền mạch vậy. Đó phải chăng là một sự lãng phí,
ông tự hỏi. Tất cả các bài giảng ông ra sức mài dũa, tất cả các slide trình
chiếu đầy màu sắc về MacArthur và Truman cũng như các bản đồ của
Guadalcanal. Không có gì khác hơn ngoài tràng cười rúc rích vào những
cái tên khôi hài, toàn bộ khóa học chỉ với một yêu cầu không hơn không
kém đối với sinh viên là kiểm tra danh sách trước khi họ tốt nghiệp. Còn gì
khác ông có thể mong đợi từ nơi này? Ông xếp bài luận vừa chấm vào
chung với những bài khác và thả cây bút lên trên. Qua khung cửa sổ, ông
có thể nhìn thấy khoảng sân nhỏ màu xanh lá và ba đứa trẻ mặc quần jeans
xanh da trời đang chơi trò ném dĩa.
Lúc còn trẻ, khi vẫn là giảng viên mới, James thường bị nhầm là sinh
viên. Điều đó đã không xảy ra mấy năm nay rồi. Mùa xuân tới, ông sẽ
bước qua tuổi bốn mươi sáu; ông là một giáo sư gạo cội, trong mái tóc đen
đã lẫn vài sợi tóc bạc. Mặc dù vậy, đôi khi, ông vẫn bị nhầm lẫn với những
điều khác. Một lần, một nhân viên lễ tân tại văn phòng hiệu trưởng nghĩ
rằng ông là một nhà ngoại giao đến từ Nhật Bản và hỏi ông về chuyến bay
từ Tokyo. Ông thích sự ngạc nhiên trên khuôn mặt của người khác khi ông
bảo với họ rằng ông là một giáo sư về lịch sử nước Mỹ. “Vâng, tôi là
người Mỹ” - ông nói khi người khác chớp mắt, sự phòng thủ gai góc toát
lên trong giọng nói.
Ai đó gõ cửa: Trợ giảng của ông, Louisa, với một chồng tài liệu.
“Thưa Giáo sư Lee. Tôi không cố ý làm phiền, nhưng cửa đã mở.” - Cô
ấy đặt những bài luận văn trên bàn và ngập ngừng. - “Những bài viết này
không xuất sắc cho lắm.”
“Không. Một nửa của tôi cũng vậy. Tôi đã hy vọng trong xấp bài cô
mang đến đều là bài luận điểm A.”
Louisa cười. Lần đầu tiên thấy cô, trong buổi bảo vệ luận văn cuối kì,
cô đã làm ông kinh ngạc. Từ phía sau, cô giống hệt con gái của ông: cả hai
người đều có mái tóc gần giống nhau, đen và suôn mượt xõa ngang vai,
đều có tư thế ngồi giống nhau với khuỷu tay kéo vào gần sát cơ thể. Tuy
nhiên, khi cô quay lại, gương mặt cô là của riêng cô trọn vẹn, thon dài trong
khi mặt Lydia tròn đầy, đôi mắt nâu và kiên định. “Giáo sư Lee?” - Cô nói,
bàn tay chìa ra. - “Tôi là Louisa Chen.” Mười tám năm tại trường
Middlewood, ông nghĩ, đây là sinh viên phương Đông đầu tiên mà ông
từng dạy. Không mảy may nhận ra điều này, ông bất giác thấy mình mỉm
cười.
Và một tuần sau đó, cô đến văn phòng của ông. “Đây là gia đình ông à?”
- Cô hỏi, rồi nghiêng tấm ảnh trên bàn về phía cô. Cô im lặng trong khi
ngắm nhìn nó. Mọi người đều làm như vậy, và đó cũng là lý do tại sao ông
luôn trưng tấm ảnh ra ngoài, ông nhìn ánh mắt cô chuyển từ khuôn mặt của
ông trên tấm ảnh tới khuôn mặt vợ ông, sau đó là khuôn mặt những đứa
con, rồi lại nhìn một lần nữa. “Ồ” - cô ấy thốt lên sau một lúc, ông chắc
mẩm là cô đang cố gắng che đậy sự bối rối. - “Vợ ông không phải là người
Trung Quốc sao?”
Đây là điều ai cũng thắc mắc. Nhưng từ cô, ông lại mong đợi một điều
gì đó khác.
“Không” - vừa nói, ông vừa dựng khung hình vuông vắn hơn một chút
trước mặt cô, một góc bốn mươi lăm độ hoàn hảo trước bàn làm việc. “Không, bà ấy không phải người Trung Quốc.”
Dù vậy, vào cuối học kì mùa thu, ông đã yêu cầu cô làm người phân loại
bài giảng dành cho sinh viên đại học năm cuối của mình. Vào tháng 4, ông
lại yêu cầu cô làm trợ giảng cho khóa học hè.
“Tôi hy vọng sinh viên học kì hè sẽ tốt hơn” - Louisa nói. - “Một số
người cứ khăng khăng rằng tuyến đường sắt từ Cape tới Cairo là ở Châu
Âu. Sinh viên đại học, họ có vấn đề về địa lý một cách đáng kinh ngạc”.
“À, đây đầu phải là trường Harvard, chắn chắc như vậy rồi” - James
khẳng định. Ông đẩy hai chồng luận văn nhập lại thành một và xếp chúng
vuông vắn, bằng phẳng, giống như một bộ bài, kề sát máy tính. - “Đôi khi
tôi tự hỏi có phải hết thảy chỉ là một sự lãng phí.”
“Ông không thể tự trách mình nếu sinh viên không cố gắng. Và bọn họ
cũng không đến nỗi tệ hết đâu. Cũng có vài người được điểm A mà.” Louisa chớp mắt nhìn ông, đôi mắt cô đột nhiên ánh lên vẻ nghiêm trọng. “Cuộc sống của ông không hề lãng phí.”
Ý James định nói đến là khóa học căn bản, bởi việc dạy những sinh viên
mà, từ năm này qua năm khác, ngay cả những sự kiện cơ bản cũng không
thiết học. Ông thầm nghĩ, cô chỉ mới hai mươi ba tuổi, cô vẫn chưa biết
cuộc sống này, thực sự lãng phí hay không lãng phí. Nhưng ông vẫn rất vui
khi nghe cô nói.
“Yên nào.” - Ông nói. - “Có thứ gì đó trên tóc cô”. Tóc cô ướt và hơi
ẩm, chưa khô kịp từ lúc tắm buổi sáng. Louisa vẫn đứng yên, tròn mắt nhìn
ông. Đó không phải là một cánh hoa, như lúc đầu ông nghĩ. Đó là một con
bọ rùa, và khi ông lấy nó ra, nó nhón chân đi, những cái chân màu vàng
nhỏ như sợi chỉ, treo ngược xuống từ móng tay ông.
“Vào thời gian này trong năm, thứ chết tiệt đó có ở khắp mọi nơi” - một
giọng nói vang lên từ phía cửa, James ngước nhìn và thấy Stanley Hewitt
đang tựa người vào đó. Ông không thích Stan, một gã đàn ông với vẻ ngoài
bóng bẩy, nói chuyện với ông thì to và chậm, cứ như thể ông bị lãng tai,
luôn mồm kể mấy câu chuyện lố bịch ngu ngốc bắt đầu bằng George
Washington, Buffalo Bill, và Spiro Agnew bước vào quán bar…
“Anh cần gì à, Stan?” - James hỏi. Ông cảm nhận rõ bàn tay mình, ngón
trỏ và ngón cái duỗi ra như thể đang chĩa khẩu súng đồ chơi vào vai
Louisa, rồi vội rụt tay lại.
“Chỉ muốn hỏi anh một câu về thư báo nội bộ mới nhất của Hiệu
trưởng” - Stanley nói, giơ lên một tờ giấy in rô-nê-ô. - “Không cố ý chen
ngang gì đâu.”
“Dù sao thì tôi cũng phải đi rồi.” - Louisa lí nhí. - “Buổi sáng tốt lành
nhé, giáo sư Lee. Hẹn gặp ông vào ngày mai. Ông cũng vậy nhé, giáo sư
Hewitt.” Khi cô lướt qua Stanley đi vào hành lang, James nhận thấy cô
đang đỏ mặt, khuôn mặt ông lúc này cũng đang nóng bừng lên. Khi bóng cô
xa dần, Stanley mới ngồi xuống một bên góc bàn của James, và nói: “Một
cô gái xinh đẹp. Cô ấy cũng sẽ là trợ giảng cho anh mùa hè này, đúng
không?”
“Đúng vậy.” - James mở bàn tay để con bọ rùa di chuyển trên đầu các
ngón, rồi dọc xuống và vòng vòng nơi hoa tay xoáy nước và lưu vân của
ông. James muốn thoi một cú đấm vào giữa bản mặt cười nhăn nhở của
Stanley, để cảm nhận chiếc răng cửa xiêu vẹo của hắn ta sượt qua những
đốt ngón tay mình. Thay vì làm vậy, ông nghiền nát con bọ rùa bằng ngón
tay cái của mình. Vỏ cánh của nó bật ra tanh tách giữa các ngón tay, như
lớp vỏ bỏng ngô, và con côn trùng tội nghiệp vụn ra như bột màu lưu
huỳnh. Stanley vẫn đang miết ngón tay dọc theo gáy cuốn sách của James.
Ít phút nữa, James sẽ cố tỏ ra bình thản như không có gì, vì cái liếc mắt đểu
cáng vừa rồi của Stan chính là điều tồi tệ nhất trong tâm trí ông. Nhưng lúc
này, khi chuông điện thoại reo, ngắt ngang bầu không khí ngột ngạt, ông
cảm thấy nhẹ nhõm nhiều đến nỗi ngay từ những giây đầu, ông đã không
nhận thấy được sự lo lắng tột độ trong giọng nói của Marilyn.
“James à?” - Bà nói. - “Anh về nhà được không?”
Cảnh sát nói với họ rằng nhiều trẻ vị thành niên bỏ nhà đi mà không nói
một lời nào. Họ cho biết, rất nhiều lần, những cô gái giận dỗi bố mẹ mình
mà các phụ huynh thậm chí không hề biết. Nath nhìn cảnh sát đi đi lại lại
trong phòng em gái mình. Cậu mong chờ hơn ở phấn bột và chổi lông, chó
đánh hơi, kính lúp. Nhưng thay vì dùng những vật dụng này để điều tra
manh mối, mấy gã cảnh sát chỉ nhìn vào tấm áp phích được đính trên bàn,
vào đôi giày trên sàn, vào cái túi sách đã mở hé một nửa. Rồi một viên
cảnh sát trẻ đặt lòng bàn tay của gã lên trên nắp lọ nước hoa tròn màu hồng
của Lydia, như thể đang chụp đầu một đứa bé vậy.
Một cảnh sát lớn tuổi nói với họ, hầu hết các trường hợp bé gái mất
tích, vấn đề sẽ tự được giải quyết trong vòng hai tư giờ. Những cô gái sẽ
tự quay về nhà.
“Ý ông là gì?” - Nath hỏi. - “Hầu hết ư? Nghĩa là sao?”
Viên cảnh sát ngước nhìn qua cặp kính hai tròng. “Trong đại đa số các
trường hợp”. - Ông đáp.
“80% sao?” - Nath vặn lại. - “90%? hay 95%?”
“Nathan”. - James gắt. - “Đủ rồi. Hãy để cảnh sát Fiske làm việc.”
Một sĩ quan trẻ ghi lại những chi tiết vào cuốn sổ tay: Lydia Elizabeth
Lee, 16 tuổi, lần cuối nhìn thấy vào thứ Hai ngày 2 tháng Năm, mặc váy
hoa dây buộc cổ, bố mẹ là ông James và bà Marilyn Lee. Lúc viên sĩ quan
Fiske chăm chú quan sát James, một ký ức ùa về trong tâm trí ông ta.
“Mà có phải vợ anh cũng từng một lần mất tích?” - ông ta thốt lên. “Tôi nhớ vụ đó. Vào năm 66, đúng không?”
Hơi nóng lan dọc gáy James, như mồ hôi đang chảy sau tai ông. Ông vui
vì, lúc này, Marilyn đang chờ điện thoại ở dưới lầu. “Đó chỉ là hiểu lầm” ông trả lời một cách quả quyết. - “Một sự hiểu lầm giữa vợ tôi và tôi.
Chuyện gia đình thôi.”
“Tôi hiểu rồi.” - Khi viên cảnh sát lớn tuổi lấy tập sổ tay ra và ghi chú,
James gõ đốt ngón tay mình vào một góc bàn của Lydia.
“Còn gì nữa không?”
Trong nhà bếp, mấy viên cảnh sát lật qua mấy cuốn album gia đình để
tìm một bức chân dung rõ ràng. “Tấm này” - Hannah vừa nói vừa chỉ tay
vào bức hình. Đó là ảnh chụp từ Giáng sinh năm ngoái. Lydia trông rất ủ
rũ, còn Nath thì cố gắng làm con bé vui, thậm chí dọa nạt để nó nở một nụ
cười trước ống kính. Nhưng vô ích. Con bé ngồi bên cạnh cây thông, lưng
dựa vào tường, một mình trong tấm ảnh. Khuôn mặt nó toát lên vẻ thách
thức. Ánh nhìn thẳng thừng, không do dự, thậm chí không mảy may biểu lộ
điều gì, như thầm nói Anh đang nhìn gì đấy? Trong bức hình, Nath không
thể phân biệt được đâu là màu xanh của tròng mắt đâu là màu đen của con
ngươi, mắt con bé như những hố đen trên tờ giấy bạc. Khi cậu đến lấy
hình tại hiệu ảnh, cậu hối hận đã chụp khoảnh khắc ấy, khoảnh khắc em gái
mình với ánh nhìn cứng đờ trên khuôn mặt. Nhưng bây giờ, cậu thừa nhận,
khi nhìn vào các bức ảnh trong tay Hannah, ánh nhìn này rất giống cô ấy, ít
nhất, là cái cách cô nhìn cậu khi cậu thấy cô lần cuối.
“Không phải tấm đó” - James nói. - “Không phải Lydia với bộ mặt như
thế. Mọi người sẽ nghĩ rằng lúc nào trông con bé cũng vậy. Hãy lấy một
tấm ảnh đẹp.” Ông ấy lật qua vài trang trong cuốn album rồi chọn bức
cuối cùng. “Tấm này đẹp hơn.”
Vào sinh nhật lần thứ 16, một tuần trước đó, Lydia ngồi ở bàn với một
nụ cười rực rỡ. Mặc dù khuôn mặt cô bé vẫn đang nhìn vào máy ảnh,
nhưng đôi mắt lại đang tìm kiếm một điều gì đó ngoài đường viền trắng
của bức hình. Có chuyện gì khôi hài chăng? Nath tự hỏi. Cậu không thể
nhớ nổi phải chăng cậu đã làm gì đó kì quặc, hoặc bố đã nói gì đó buồn
cười, hoặc giả Lydia đang tự cười với mình về điều mà không ai trong số
họ biết được. Con bé trông như người mẫu ảnh tạp chí quảng cáo, với làn
môi đậm và sắc nét, một đĩa bánh phủ kem đẹp mắt được giữ thăng bằng
trên đôi bàn tay mảnh khảnh, tận hưởng khoảng thời gian vui vẻ vô thực.
James đẩy bức ảnh sinh nhật về phía cảnh sát, một tay trẻ tuổi bỏ nó vào
trong một bìa hồ sơ và đứng dậy.
“Chuyện này rồi sẽ ổn thôi” - anh ta nói. - “Chúng tôi sẽ làm tờ rơi
trong trường hợp cô gái không trở về vào ngày mai. Đừng lo lắng. Tôi
chắc cô bé sẽ về mà.” Anh ta làm văng cả nước bọt lên trên bức hình và
Hannah đã phải dùng ngón tay của mình để gạt chúng đi.
“Con bé không thể nào bỏ đi đâu” - Marilyn sốt sắng nói. - “Nếu đây là
chuyện gì đó điên rồ thì sao? Một kẻ tâm thần nào đó chuyên bắt cóc con
gái?” Tay bà quơ vào tờ báo tin tức buổi sáng, vẫn đang nằm im lìm giữa
bàn.
“Cố gắng đừng quá lo lắng, thưa bà” - viên cảnh sát Fiske trấn tĩnh. “Những chuyện như vậy thường hiếm khi xảy ra. Ý tôi là trong đại đa số
các trường hợp…”, ông ta khẽ liếc nhìn Nath, rồi đằng hắng. - “Những cô
gái hầu hết luôn trở về nhà.”
Khi cảnh sát rời đi, Marilyn và James ngồi xuống cùng với tờ giấy
nháp. Cảnh sát đã yêu cầu họ gọi cho tất cả bạn bè của Lydia, bất kỳ ai có
thể biết được Lydia đã đi đâu. Họ cùng nhau đưa ra một danh sách gồm có
những cái tên như: Pam Saunders. Jenn Pittman. Shelley Brierley. Nath
không nhắc bố mẹ mình, nhưng cậu biết rõ những cô gái này chưa bao giờ
là bạn thân của Lydia. Lydia học chung trường với chúng từ hồi mẫu giáo,
thỉnh thoảng chúng gọi điện thoại đến, cười rúc rích và inh tai đến nỗi
Lydia phải hét lên qua điện thoại: “Tớ biết rồi.” Có vài buổi tối, con bé
ngồi hàng giờ liền trên bậu cửa sổ tầng trệt, chiếc điện thoại bàn lọt thỏm
trong lòng, ống tai nghe chêm giữa tai và vai. Khi bố mẹ đi qua, con bé hạ
giọng thầm thì bí mật, cuốn sợi dây tai nghe quanh ngón tay bé nhỏ của
mình cho tới khi họ rời đi. Nath biết, chính điều này là lý do tại sao bố mẹ
lại viết những cái tên này ra danh sách một cách tự tin như vậy.
Nhưng Nath đã nhìn thấy Lydia ở trường, con bé ngồi yên lặng như thế
nào trong quán cà phê trong khi những người khác huyên thuyên trò
chuyện; con bé lặng lẽ cất quyển vở vào trong cặp như thế nào sau khi đám
bạn sao chép xong bài tập về nhà của nó. Sau giờ học, con bé một mình
bước lên xe bus và ngồi cạnh Nath trong im lặng. Có lần, Nath chờ Lydia
bắt máy điện thoại và vô tình nghe, đúng lúc giọng nói của cô em gái tuôn
ra những việc là việc - thoại Màn 1 của vở kịch Othello, làm những bài tập
nhỏ ở chương 5 - rồi lại im lặng sau tiếng cúp máy. Ngày hôm sau, khi
Lydia nằm cuộn tròn trên bậu cửa sổ, điện thoại áp vào tai, Nath nhấc máy
lẻ trong nhà bếp lên và chỉ nghe tiếng rè đều đều của tín hiệu quay số.
Lydia thực sự chưa từng có bạn, nhưng bố mẹ không hề biết điều này. Nếu
họ có hỏi: “Lydia, Pam dạo này thế nào?”, Lydia đáp: “Ồ, bạn ấy giỏi lắm,
bạn ấy vừa mới thành lập một đội cổ động viên đấy ạ.” Nath không phủ
nhận lời con bé. Cậu cảm thấy kinh ngạc trước khuôn mặt tỉnh bơ của cô
em gái, trước cái cách con bé nói dối mà không mảy may chớp mắt.
Ngoại trừ việc không nói cho cha mẹ nghe điều đó vào lúc này, cậu chỉ
có thể nhìn mẹ viết nguệch ngoạc những cái tên trên mặt sau của tờ biên
nhận cũ và khi bà hỏi cậu và Hannah, “Các con có nghĩ tới ai khác nữa
không?”, cậu đã nghĩ tới Jack nhưng lại nói không.
Suốt mùa xuân, Lydia luôn quanh quẩn bên Jack, hoặc ngược lại. Hầu
như mỗi buổi chiều, họ đều lái xe vòng vòng trên chiếc Beetle của Jack, và
chỉ trở về nhà đúng vào giờ ăn tối, rồi Lydia giả vờ rằng mình đã ở trường
suốt ngày. Nó xuất hiện thật bất ngờ, mối quan hệ mà Nath nhất mực gọi
là tình bạn này - mà không phải là mỹ từ nào khác. Jack sống cùng mẹ ở
góc phố từ khi cậu học cấp một, Nath đã từng nghĩ họ có thể trở thành bạn.
Nhưng không. Jack đã làm bẽ mặt cậu trước những đứa khác, đã cười nhạo
Nath khi mẹ cậu bỏ đi, lúc đó Nath nghĩ bà ấy có thể không bao giờ quay
trở lại. Như thể, Nath nghĩ, dường như Jack có toàn quyền được nói, khi
cậu ấy không có bố. Những người hàng xóm thì thầm to nhỏ khi gia đình
Wolff chuyển đến, rằng Janet Wolff đã ly hôn ra sao, Jack đã hóa điên như
thế nào trong khi mẹ cậu ta còn bận trực đêm ở bệnh viện. Mùa hè năm đó,
họ cũng bàn tán xôn xao về chuyện của bố mẹ Nath, nhưng mẹ Nath đã
quay về. Còn mẹ Jack thì vẫn ly hôn và Jack thì vẫn điên dại.
Còn bây giờ thì sao? Chỉ mới tuần trước, trên đường lái xe về nhà sau
khi chạy việc vặt, cậu bắt gặp Jack dẫn chó tản bộ. Jack đi vòng quanh hồ,
định rẽ vào một con đường cụt, khi cậu nhìn thấy Jack, với dáng người gầy
và cao lêu nghêu, đang trên đường tới bờ hồ, con chó nhảy chồm về phía
trước hướng về một cái cây. Jack mặc một chiếc áo thun cũ bạc màu với
mái tóc quăn màu hung dựng đứng, bù xù. Khi Nath chạy qua, Jack ngước
nhìn lên và khẽ gật đầu, khóe miệng vẫn còn ngậm một điếu thuốc. Nath
biết, điệu bộ này chứng tỏ sự quen biết hơn là một lời chào hỏi. Bên cạnh
Jack, con chó đang nhìn chằm chằm vào cậu rồi bất chợt đưa chân lên. Và
Lydia đã dành cả mùa xuân cùng với cái gã như thế.
Nath nghĩ thầm, nếu bây giờ nói ra bất cứ điều gì, họ sẽ sửng sốt bảo,
Tại sao con không cho bố mẹ biết điều này sớm? Cậu sẽ phải bù lu bù loa
giải thích rằng vào tất cả các buổi chiều khi cậu nói, “Lydia đang học với
một người bạn” hoặc “Lydia ở lại nhà bạn sau khi làm bài tập Toán”, thì
thực ra ý cậu là, Lydia đang đi với Jack hoặc Em ấy đi cùng xe với Jack
hoặc Em ấy ra ngoài cùng với cậu ta rồi, và Chỉ có Chúa mới biết chúng
nó đi đâu. Hơn nữa: nói tên của Jack ra có nghĩa là thừa nhận một cái gì đó
mà cậu hoàn toàn không muốn. Rằng Jack từng là một phần cuộc sống của
Lydia, rằng gã đã là một phần của cuộc sống con bé trong nhiều tháng qua.
Bên kia bàn, Marilyn tìm kiếm số điện thoại trong danh bạ và đọc chúng
ra; James gọi điện, chậm rãi và cẩn thận, nhấn số điện thoại với chỉ một
ngón tay. Sau mỗi cuộc gọi, giọng ông càng trở nên bối rối hơn. Không ư?
Con bé không đề cập đến bất cứ điều gì với cháu à, bất kì kế hoạch nào
ấy? Ồ, bác hiểu rồi. À, dù sao cũng cảm ơn cháu nhé.
Nath chăm chú nhìn những vân gỗ của bàn ăn, cuốn album mở ngay
trước mặt cậu. Bức ảnh bị thiếu để lại một khoảng trống trong cuốn album,
khung kiếng nhựa trong suốt để lộ lớp bìa trắng trống trơn. Mẹ cậu lướt
bàn tay dọc xuống theo cột danh bạ, đầu ngón tay ám màu xám xịt. Dưới
lớp khăn trải bàn, Hannah duỗi thẳng chân và chạm một ngón chân vào
Nath. Một cái chạm an ủi. Nhưng cậu không ngước lên. Thay vào đó, cậu
gập cuốn album lại, và phía bên kia bàn, mẹ cậu lại gạch một cái tên ra khỏi
danh sách.
Khi họ gọi tới số cuối cùng, James để điện thoại xuống. Ông lấy tờ
giấy từ tay Marilyn và gạch bỏ cái tên Karen Adler, chia đôi chữ cái K
thành hai ký tự V rõ ràng. Dưới lằn gạch, ông vẫn có thể nhìn ra cái tên.
Karen Adler. Marylin chưa bao giờ để Lydia ra ngoài vào cuối tuần cho tới
khi con bé làm xong bài tập - và đó thường là chiều Chủ nhật. Thỉnh
thoảng, vào chiều Chủ nhật, Lydia gặp bạn bè tại trung tâm thương mại, nài
nỉ để được chở đi: “Đám bạn con đang dự tính đi xem phim Nàng Annie
Hall. Karen thèm xem bộ phim này muốn chết ấy.” Ông rút 1 tờ mười đô
từ trong ví mình ra và đẩy nó qua chỗ con bé, ngụ ý: Được rồi, đi chơi vui
vẻ nhé. Lúc này, ông nhận ra rằng ông chưa bao giờ thấy một cuống vé nào
cả, theo khả năng ông có thể nhớ là vậy, Lydia luôn lầm lũi một mình trên
lề đường cho đến khi ông tới rước cô về nhà. Hàng đêm, ông dừng lại ở
chân cầu thang và mỉm cười, lắng nghe cuộc trò chuyện lỡ dở của Lydia
vang vọng từ trên lầu xuống: “Ôi trời ơi, tớ biết mà, phải không? Rồi cô
ấy nói gì?” Nhưng bây giờ, ông biết, con bé không hề gọi cho Karen hay
Pam hay Jenn trong những năm qua. Ông nghĩ về những buổi chiều dài
đằng đẵng ấy, khi họ vẫn nghĩ cô ở lại trường sau giờ học để ôn bài.
Khoảng thời gian trống không bị kiểm soát này cô có thể đã đi bất cứ đâu,
làm bất cứ điều gì. Trong chốc lát, James chợt nhận ra ông đã xóa cái tên
Karen Adler bằng những đường gạch chéo bằng mực đen.
Ông nhấc điện thoại lên lần nữa và gọi. “Vui lòng cho tôi gặp cảnh s...
Lydia đã chết. Nhưng gia đình cô vẫn chưa biết điều này. Năm 1977, ngày
3 tháng năm, lúc 06:30 sáng, không ai thấy có gì bất thường ngoài một
thực tế vô thưởng vô phạt: Lydia muộn bữa ăn sáng. Như mọi khi, bên
cạnh bát ngũ cốc, mẹ của Lydia đặt một cây bút chì mài nhọn và sáu bài tập
Vật lý về nhà đã được đánh dấu nháy nhỏ cho cô. Đánh xe đến chỗ làm, bố
của Lydia quay đĩa số về WXKP, Kênh Tin tức Hay nhất Tây Bắc Ohio,
bực mình bởi tiếng rè rè của sóng vô tuyến. Trên cầu thang, anh trai của
Lydia ngáp ngắn ngáp dài, đắm mình trong cơn mơ ngủ. Trên chiếc ghế
trong góc bếp, em gái của Lydia khòm người, tròn mắt nhìn đĩa ngũ cốc
bắp, cố hút từng miếng một, chờ Lydia xuất hiện. Rốt cuộc, cô cũng lên
tiếng: “Lydia đang làm mất thời gian hôm nay rồi đấy.”
Tầng trên, Marilyn mở cửa phòng con gái mình và trông thấy chiếc
giường trống không: mấy góc chăn bông vẫn được xếp gọn gàng, mặt gối
vẫn mịn và căng phồng. Mọi thứ vẫn ở yên vị trí của nó. Mớ đồ nhung kẻ
màu mù tạt nằm ngổn ngang dưới sàn, cạnh một chiếc vớ sọc cầu vồng.
Hàng ruy băng Giải thưởng Khoa học treo trên tường, một tấm bưu thiếp
của Einstein. Chiếc túi du lịch nhàu nát trên sàn tủ quần áo. Chiếc cặp đựng
sách màu xanh lá nằm rũ trên bàn. Lọ Baby Soft trên nóc tủ với mùi hương
phấn dịu ngọt mềm mại vẫn còn đọng trong không khí. Nhưng không có
Lydia.
Marilyn nhắm mắt lại. Có lẽ, khi bà mở mắt ra, Lydia sẽ ở đó, phủ chăn
quá đầu như thường lệ, suối tóc dài xòa xuống. Một giọng điệu gắt gỏng
phát ra từ dưới tấm ga trải giường mà, vì lí do nào đó, bà mặc kệ. Con
đang trong phòng tắm, mẹ ơi. Con xuống dưới lầu uống nước rồi. Con
nằm đây nãy giờ mà. Tất nhiên, khi bà đưa mắt nhìn xung quanh, chẳng có
gì thay đổi cả. Các rèm cửa khép kín hắt ánh sáng như một màn hình tivi
trống.
Xuống cầu thang, bà dừng lại ở cửa nhà bếp, bàn tay đặt lên mỗi bên
khung cửa. Sự im lặng của bà đã nói lên tất cả. “Mẹ sẽ kiểm tra bên ngoài”
- cuối cùng, bà nói. - “Có thể có lí do nào đó…”. Bà nhìn chằm chằm vào
sàn nhà rồi lại hướng về phía cửa trước, như thể dấu chân của Lydia đã bị
thảm lau mất dấu vết.
Nath nói với Hannah: “Lydia ở trong phòng nó tối qua mà. Anh nghe có
tiếng radio. Lúc 11:30.” Cậu ngừng nói, sực nhớ ra cậu đã không chúc em
gái ngủ ngon.
“Mười sáu tuổi thì có còn bị bắt cóc được nữa không ạ?” - Hannah vặn
vẹo.
Nath dùng muỗng khuấy bát thức ăn của mình. Ngũ cốc bắp nát ra rồi
chìm vào lớp váng sữa.
Mẹ chúng trở vào bếp, và vì một khoảnh khắc an nhiên trong lòng, Nath
thở hắt ra nhẹ nhõm với ước nguyện: Em đây rồi, Lydia, vẫn bình an vô
sự. Điều này thỉnh thoảng vẫn xảy ra - gương mặt anh em chúng giống
nhau đến nỗi dù đã nhìn thật chăm chú nhưng bạn vẫn sẽ nhầm lẫn đứa này
với đứa khác: chiếc cằm xinh xắn, xương gò má cao và lúm đồng tiền bên
má trái giống nhau, bờ vai thon gọn y hệt. Chỉ có màu tóc là khác biệt, tóc
Lydia đen nhánh như màu mực trong khi mẹ chúng lại có mái tóc xoăn màu
mật ong. Nath và Hannah lại giống bố. Có một lần, một người phụ nữ
dừng lại trước chúng trong một cửa hàng tạp hóa và sẵng giọng hỏi:
“Người Trung Quốc à?” Và khi chúng vừa kịp trả lời vâng, bà ta không
thiết nghe tiếp câu nói dang dở đã gật gật đầu ra chiều hiểu biết. “Nhìn đôi
mắt đó là biết ngay mà.” Bà ta nói rồi kéo dài đuôi mắt với một ngón tay.
Nhưng Lydia, bất chấp di truyền, bằng cách nào đó sở hữu đôi mắt màu
xanh biếc của mẹ, và chúng biết điều này là một trong nhiều lý do Lydia
rất được mẹ cưng chiều. Và bố của chúng cũng vậy.
Khi Lydia đặt tay lên trán thì trông cô càng giống mẹ hơn nữa.
“Chiếc xe vẫn còn ở đây” - bà nói, Nath biết trước như vậy rồi. Lydia
không thể lái xe; con bé thậm chí còn chưa có giấy phép lái xe. Tuần trước,
nó đã khiến cả nhà kinh ngạc khi thì rớt, và bố nhất định sẽ không để con
bé ngồi ở ghế lái khi không có bằng. Nath khuấy ngũ cốc đang dần đặc
quánh lại ở đáy bát của mình. Đồng hồ trong sảnh kêu tích tắc, điểm bảy
giờ ba mươi phút. Không một ai di chuyển.
“Hôm nay chúng ta vẫn đến trường chứ?” - Hannah hỏi.
Marilyn lưỡng lự. Sau đó, bà vào lấy ví và chùm chìa khóa với một vẻ
mặt tươi tỉnh. “Hai con muộn xe buýt rồi. Nath, lấy xe của mẹ và tiện thể
thả Hannah xuống trên đường con đi nhé.” Rồi bà nói tiếp: “Đừng lo lắng.
Bố mẹ sẽ tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.” Bà không nhìn bọn trẻ.
Chúng cũng không hề quay lại nhìn bà.
Khi hai đứa con đi khỏi, bà lấy ra một chiếc cốc từ chạn bếp, cố giữ bàn
tay khỏi run rẩy. Cách đây rất lâu, khi Lydia còn là một đứa bé, Marilyn đã
từng để Lydia một mình trong phòng khách, chơi trên một cái chăn, và đi
vào nhà bếp để pha một tách trà. Con bé chỉ mới mười một tháng tuổi.
Marilyn nhấc ấm nước ra khỏi bếp và quay sang tìm Lydia đang đứng ở
ngưỡng cửa. Vừa xoay đi, bà đã đặt nhầm bàn tay trên bếp nóng. Một vết
bỏng đỏ au, hình xoắn ốc hiện lên trên lòng bàn tay, rồi bà chạm nó lên môi
và nhìn con gái mình qua làn nước mắt. Lydia đứng đó, hoạt bát lạ thường,
tựa như đây là lần đầu tiên cô vào nhà bếp. Marilyn đã không nghĩ về
những thiếu sót trong bước đầu tiên nuôi dạy con trẻ, hoặc giả con gái
mình đã lớn đến nhường nào. Ý nghĩ hiện lên trong tâm trí bà không phải
là Mình đã bỏ rơi con bé ra sao? Mà là Con đang che giấu điều gì khác?
Nath đã biết rướn người, loạng choạng lật mình và đi chập chững ngay
trước mặt bà, nhưng bà lại không nhớ Lydia đã bắt đầu tập đứng khi nào.
Dù con bé trông có vẻ rất vững vàng trên đôi chân trần, những ngón tay bé
nhỏ hé ra từ gấu áo của bộ đồ yếm. Marilyn thường quay lưng lại, mở tủ
lạnh hoặc ủi quần áo. Lydia có thể đã bắt đầu biết đi từ nhiều tuần trước,
trong lúc bà mải cúi người làm bếp, và không hề biết điều gì đang diễn ra.
Bà bế Lydia lên, vuốt tóc và nói với con bé rằng nó thông minh đến
dường nào, rằng bố nó sẽ cảm thấy tự hào ra sao khi ông trở về nhà.
Nhưng bà lại có cảm giác như thể bà vừa tìm thấy một cánh cửa bị khóa
trong một căn phòng quen thuộc: Lydia, vẫn còn đủ nhỏ để nằm nôi, vẫn có
quá nhiều bí mật được cất giữ. Marilyn có thể cho con bé ăn, tắm và xỏ
chân con bé vào chiếc quần ngủ, nhưng phần nào đó cuộc sống của bà đã
bị che khuất. Bà hôn lên má Lydia và kéo con bé lại gần, cố sưởi ấm mình
qua cơ thể bé nhỏ của cô con gái.
Lúc này, Marilyn nhấp một ngụm trà và chợt nhớ ra.
Số điện thoại của trường trung học được ghim vào tấm bảng ván bần
bên cạnh tủ lạnh, Marilyn giật tấm danh thiếp xuống và quay số, xoắn dây
xung quanh ngón tay mình trong khi chờ điện thoại đổ chuông.
“Trường Trung học Middlewood” - cô thư ký nhấc máy ở hồi chuông
thứ tư. - “Đây là Dottie.”
Bà nhớ lại Dottie: Một người phụ nữ với vóc dáng phổng phao như đệm
ghế sofa, vẫn để kiểu tóc tổ ong màu đỏ nhạt. “Chào buổi sáng” - bà bắt
đầu, và ngập ngừng. - “Con gái của tôi có đến lớp sáng nay chứ?”
Dottie nhã nhặn tặc lưỡi rồi nóng lòng hỏi. “Vui lòng cho biết tôi đang
nói chuyện với ai được không, thưa bà?”
Mất một lúc lâu bà mới nhớ ra tên của mình. “Marilyn. Marilyn Lee.
Con gái tôi là Lydia Lee. Lớp mười”.
“Để tôi xem qua thời khóa biểu của cô bé. Học kỳ đầu…” - Cô ngừng
nói. - “Lớp Vật lý mười một đúng không?”
“Vâng, đúng thế. Với thầy Kelly.”
“Tôi sẽ nhờ ai đó chạy xuống lớp học và kiểm tra.” - Một tiếng thịch
vang lên khi cô thư ký đặt ống nghe xuống bàn làm việc.
Marilyn chăm chú nhìn vào chiếc cốc, nước đã đọng lại thành vũng trên
mặt quầy. Một vài năm trước, một cô gái nhỏ đã chui vào một kho lưu trữ
và bị chết ngạt. Sau đó, cảnh sát đã gửi một tờ rơi đến từng nhà với nội
dung: Nếu con bạn bị mất tích, hãy nhanh chóng tìm chúng. Kiểm tra trong
máy giặt, máy sấy quần áo, thùng xe ôtô, kho chứa dụng cụ, bất kỳ nơi nào
mà chúng có thể chui vào để trốn. Hãy gọi cảnh sát ngay lập tức nếu con
bạn vẫn chưa được tìm thấy.
“Bà Lee?” - cô thư ký nói. - “Con gái của bà không ở trong lớp đầu
khóa. Bà đang gọi để bào chữa cho sự vắng mặt của con bé à?”
Marilyn gác máy mà không bận đáp lời lại. Bà đặt tấm danh thiếp trở lại
tấm bảng, những ngón tay ướt đẫm mồ hôi của bà làm nhòe lớp mực đến
nỗi mấy con số trên tờ giấy mờ đi như vừa trải qua một cơn gió mạnh,
hoặc bị rơi tõm xuống nước.
Bà kiểm tra từng phòng một, mở từng cửa tủ một. Bà liếc nhìn vào nhà
để xe trống: không có gì ngoài một vệt dầu loang trên bề mặt bê tông và
mùi xăng nồng nặc. Bà không chắc bản thân mình đang tìm kiếm điều gì
nữa: Một dấu chân buộc tội? Một manh mối? Khi bà mười hai tuổi, một
chị gái học cùng trường với bà đã mất tích và chết. Ginny Barron. Người
sở hữu một đôi giày saddle mà Marilyn thèm khát dữ dội. Chị ấy đến cửa
hàng để mua thuốc lá cho bố mình, và hai ngày sau đó, họ tìm thấy thi thể
chị bên vệ đường, hướng đi đến Charlottesville, bị bóp cổ và nằm lõa thể.
Ngay lúc này, tâm trí Marilyn bắt đầu chao đảo. Mùa hè của “Con trai
Sam” vừa bắt đầu - mặc cho báo chí mới gọi hắn ta bằng cái tên đó gần đây
- và rằng, ngay cả ở Ohio, vụ ám sát mới nhất cũng được báo chí giật tít
lên trang đầu. Ít tháng nữa thôi, cảnh sát sẽ bắt được David Berkowitz1, và
đất nước sẽ lại tập trung vào những thứ khác: cái chết của Elvis, một Atari
mới toanh, Fonzie bay vụt qua mũi một con cá mập. Ở thời điểm mà những
người dân New York tóc đen đang lùng mua tóc giả màu vàng, thì thế giới,
đối với Marilyn, dường như là một nơi rất đáng sợ và lộn xộn. Những điều
như vậy không xảy ra ở đây, bà tự nhắc nhở mình. Không phải ở
Middlewood, một thành phố trên danh nghĩa nhưng thực tế chỉ là một làng
đại học cỏn con với ba ngàn mét vuông, nơi mà phải lái xe một giờ mới tới
được Toledo, nơi mà dạo phố đêm thứ bảy chỉ luẩn quẩn quanh khu trượt
patin hoặc sân bowling hoặc quầy ăn phục vụ khách trong xe ôtô, nơi mà
ngay cả Middlewood Lake, trung tâm thị trấn, cũng chỉ là một cái ao trang
trí. (Bà ấy đã nhầm ở vế cuối cùng: hồ này rộng đến cả ngàn feet, và nó
rất sâu.) Tuy vậy, bà vẫn cảm giác kim châm vào lưng mình, tựa như những
con bọ cánh cứng đang hành quân dọc xương sống.
Bên trong, Marilyn vén bức màn tắm, nhẫn rít vào thanh sắt, nhìn chằm
chằm vào đường cong màu trắng của bồn tắm. Bà lục lọi hết các tủ trong
nhà bếp. Bà ngó nghiêng khắp tủ thức ăn, tủ áo, cả lò nướng. Rồi bà mở tủ
lạnh và chăm chú quan sát. Mấy quả ô liu. Sữa. Một gói thịt gà, một bó rau
xà lách, một chùm nho màu ngọc bích. Bà chạm tay vào bề mặt mát lạnh
của hũ bơ đậu phộng rồi đóng cửa tủ lạnh lại, lắc đầu. Cứ như thể Lydia sẽ
bằng cách nào đó, chui được vào bên trong.
Mặt trời buổi sáng phủ khắp nhà, dịu nhẹ và mềm mại như bánh chiffon
chanh, tỏa ánh nắng vào tận bên trong mấy hộc tủ trống rỗng và cả sàn nhà
sạch bóng trơn nhẵn. Marilyn nhìn xuống tay mình, cũng trống rỗng và gần
như rực sáng trong ánh nắng mặt trời. Bà nhấc điện thoại và quay số của
chồng.
Đối với James, ở văn phòng, hôm nay vẫn là ngày thứ ba như mọi khi, và
ông gõ đầu bút vào hàm răng. Một dòng chữ đánh máy lem nhem xiêu vẹo:
Serbia là một trong những nước mạnh nhất vùng Baltic. Ông gạch chéo từ
Baltic, viết Balkan, rồi lật trang tiếp. Hoàng tử nước Áo France Ferdinand
bị các thành viên của tổ chức Black Ann ám sát. Là Franz, ông nghĩ. Là
Black Hand. Ông tự hỏi những sinh viên này có từng mở sách ra đọc? Ông
hình dung chính bản thân mình đang đứng trước giảng đường, gậy chỉ bảng
trong tay, bản đồ của châu Âu treo phía sau. Đây là lớp cơ bản, “Hoa Kỳ và
những cuộc Chiến tranh Thế giới”; ông không mong đợi ở họ một kiến
thức uyên thâm hay hiểu biết sáng suốt, sắc sảo. Chỉ cần căn bản nắm được
các sự kiện, và có thể phát âm tên nước Czechoslovakia (Tiệp Khắc) một
cách chính xác.
Ông gập bài luận lại và viết điểm số trên trang đầu - sáu mươi lăm trên
một trăm điểm, rồi khoanh tròn nó. Mỗi năm khi mùa hè đến, sinh viên lại
nhốn nháo và ồn ào; tia lửa của sự bức bối, dồn nén sục lên xèo xèo như
pháo sáng, rồi bắn xoàn xoạt vào các bức tường không cửa sổ của giảng
đường. Mấy bài luận của họ thì miễn cưỡng phát sinh, đoạn văn tủn ngủn,
có khi lỡ dở, nửa chừng câu, tựa như sinh viên họ không thể nào giữ nổi
trong đầu dòng suy nghĩ liền mạch vậy. Đó phải chăng là một sự lãng phí,
ông tự hỏi. Tất cả các bài giảng ông ra sức mài dũa, tất cả các slide trình
chiếu đầy màu sắc về MacArthur và Truman cũng như các bản đồ của
Guadalcanal. Không có gì khác hơn ngoài tràng cười rúc rích vào những
cái tên khôi hài, toàn bộ khóa học chỉ với một yêu cầu không hơn không
kém đối với sinh viên là kiểm tra danh sách trước khi họ tốt nghiệp. Còn gì
khác ông có thể mong đợi từ nơi này? Ông xếp bài luận vừa chấm vào
chung với những bài khác và thả cây bút lên trên. Qua khung cửa sổ, ông
có thể nhìn thấy khoảng sân nhỏ màu xanh lá và ba đứa trẻ mặc quần jeans
xanh da trời đang chơi trò ném dĩa.
Lúc còn trẻ, khi vẫn là giảng viên mới, James thường bị nhầm là sinh
viên. Điều đó đã không xảy ra mấy năm nay rồi. Mùa xuân tới, ông sẽ
bước qua tuổi bốn mươi sáu; ông là một giáo sư gạo cội, trong mái tóc đen
đã lẫn vài sợi tóc bạc. Mặc dù vậy, đôi khi, ông vẫn bị nhầm lẫn với những
điều khác. Một lần, một nhân viên lễ tân tại văn phòng hiệu trưởng nghĩ
rằng ông là một nhà ngoại giao đến từ Nhật Bản và hỏi ông về chuyến bay
từ Tokyo. Ông thích sự ngạc nhiên trên khuôn mặt của người khác khi ông
bảo với họ rằng ông là một giáo sư về lịch sử nước Mỹ. “Vâng, tôi là
người Mỹ” - ông nói khi người khác chớp mắt, sự phòng thủ gai góc toát
lên trong giọng nói.
Ai đó gõ cửa: Trợ giảng của ông, Louisa, với một chồng tài liệu.
“Thưa Giáo sư Lee. Tôi không cố ý làm phiền, nhưng cửa đã mở.” - Cô
ấy đặt những bài luận văn trên bàn và ngập ngừng. - “Những bài viết này
không xuất sắc cho lắm.”
“Không. Một nửa của tôi cũng vậy. Tôi đã hy vọng trong xấp bài cô
mang đến đều là bài luận điểm A.”
Louisa cười. Lần đầu tiên thấy cô, trong buổi bảo vệ luận văn cuối kì,
cô đã làm ông kinh ngạc. Từ phía sau, cô giống hệt con gái của ông: cả hai
người đều có mái tóc gần giống nhau, đen và suôn mượt xõa ngang vai,
đều có tư thế ngồi giống nhau với khuỷu tay kéo vào gần sát cơ thể. Tuy
nhiên, khi cô quay lại, gương mặt cô là của riêng cô trọn vẹn, thon dài trong
khi mặt Lydia tròn đầy, đôi mắt nâu và kiên định. “Giáo sư Lee?” - Cô nói,
bàn tay chìa ra. - “Tôi là Louisa Chen.” Mười tám năm tại trường
Middlewood, ông nghĩ, đây là sinh viên phương Đông đầu tiên mà ông
từng dạy. Không mảy may nhận ra điều này, ông bất giác thấy mình mỉm
cười.
Và một tuần sau đó, cô đến văn phòng của ông. “Đây là gia đình ông à?”
- Cô hỏi, rồi nghiêng tấm ảnh trên bàn về phía cô. Cô im lặng trong khi
ngắm nhìn nó. Mọi người đều làm như vậy, và đó cũng là lý do tại sao ông
luôn trưng tấm ảnh ra ngoài, ông nhìn ánh mắt cô chuyển từ khuôn mặt của
ông trên tấm ảnh tới khuôn mặt vợ ông, sau đó là khuôn mặt những đứa
con, rồi lại nhìn một lần nữa. “Ồ” - cô ấy thốt lên sau một lúc, ông chắc
mẩm là cô đang cố gắng che đậy sự bối rối. - “Vợ ông không phải là người
Trung Quốc sao?”
Đây là điều ai cũng thắc mắc. Nhưng từ cô, ông lại mong đợi một điều
gì đó khác.
“Không” - vừa nói, ông vừa dựng khung hình vuông vắn hơn một chút
trước mặt cô, một góc bốn mươi lăm độ hoàn hảo trước bàn làm việc. “Không, bà ấy không phải người Trung Quốc.”
Dù vậy, vào cuối học kì mùa thu, ông đã yêu cầu cô làm người phân loại
bài giảng dành cho sinh viên đại học năm cuối của mình. Vào tháng 4, ông
lại yêu cầu cô làm trợ giảng cho khóa học hè.
“Tôi hy vọng sinh viên học kì hè sẽ tốt hơn” - Louisa nói. - “Một số
người cứ khăng khăng rằng tuyến đường sắt từ Cape tới Cairo là ở Châu
Âu. Sinh viên đại học, họ có vấn đề về địa lý một cách đáng kinh ngạc”.
“À, đây đầu phải là trường Harvard, chắn chắc như vậy rồi” - James
khẳng định. Ông đẩy hai chồng luận văn nhập lại thành một và xếp chúng
vuông vắn, bằng phẳng, giống như một bộ bài, kề sát máy tính. - “Đôi khi
tôi tự hỏi có phải hết thảy chỉ là một sự lãng phí.”
“Ông không thể tự trách mình nếu sinh viên không cố gắng. Và bọn họ
cũng không đến nỗi tệ hết đâu. Cũng có vài người được điểm A mà.” Louisa chớp mắt nhìn ông, đôi mắt cô đột nhiên ánh lên vẻ nghiêm trọng. “Cuộc sống của ông không hề lãng phí.”
Ý James định nói đến là khóa học căn bản, bởi việc dạy những sinh viên
mà, từ năm này qua năm khác, ngay cả những sự kiện cơ bản cũng không
thiết học. Ông thầm nghĩ, cô chỉ mới hai mươi ba tuổi, cô vẫn chưa biết
cuộc sống này, thực sự lãng phí hay không lãng phí. Nhưng ông vẫn rất vui
khi nghe cô nói.
“Yên nào.” - Ông nói. - “Có thứ gì đó trên tóc cô”. Tóc cô ướt và hơi
ẩm, chưa khô kịp từ lúc tắm buổi sáng. Louisa vẫn đứng yên, tròn mắt nhìn
ông. Đó không phải là một cánh hoa, như lúc đầu ông nghĩ. Đó là một con
bọ rùa, và khi ông lấy nó ra, nó nhón chân đi, những cái chân màu vàng
nhỏ như sợi chỉ, treo ngược xuống từ móng tay ông.
“Vào thời gian này trong năm, thứ chết tiệt đó có ở khắp mọi nơi” - một
giọng nói vang lên từ phía cửa, James ngước nhìn và thấy Stanley Hewitt
đang tựa người vào đó. Ông không thích Stan, một gã đàn ông với vẻ ngoài
bóng bẩy, nói chuyện với ông thì to và chậm, cứ như thể ông bị lãng tai,
luôn mồm kể mấy câu chuyện lố bịch ngu ngốc bắt đầu bằng George
Washington, Buffalo Bill, và Spiro Agnew bước vào quán bar…
“Anh cần gì à, Stan?” - James hỏi. Ông cảm nhận rõ bàn tay mình, ngón
trỏ và ngón cái duỗi ra như thể đang chĩa khẩu súng đồ chơi vào vai
Louisa, rồi vội rụt tay lại.
“Chỉ muốn hỏi anh một câu về thư báo nội bộ mới nhất của Hiệu
trưởng” - Stanley nói, giơ lên một tờ giấy in rô-nê-ô. - “Không cố ý chen
ngang gì đâu.”
“Dù sao thì tôi cũng phải đi rồi.” - Louisa lí nhí. - “Buổi sáng tốt lành
nhé, giáo sư Lee. Hẹn gặp ông vào ngày mai. Ông cũng vậy nhé, giáo sư
Hewitt.” Khi cô lướt qua Stanley đi vào hành lang, James nhận thấy cô
đang đỏ mặt, khuôn mặt ông lúc này cũng đang nóng bừng lên. Khi bóng cô
xa dần, Stanley mới ngồi xuống một bên góc bàn của James, và nói: “Một
cô gái xinh đẹp. Cô ấy cũng sẽ là trợ giảng cho anh mùa hè này, đúng
không?”
“Đúng vậy.” - James mở bàn tay để con bọ rùa di chuyển trên đầu các
ngón, rồi dọc xuống và vòng vòng nơi hoa tay xoáy nước và lưu vân của
ông. James muốn thoi một cú đấm vào giữa bản mặt cười nhăn nhở của
Stanley, để cảm nhận chiếc răng cửa xiêu vẹo của hắn ta sượt qua những
đốt ngón tay mình. Thay vì làm vậy, ông nghiền nát con bọ rùa bằng ngón
tay cái của mình. Vỏ cánh của nó bật ra tanh tách giữa các ngón tay, như
lớp vỏ bỏng ngô, và con côn trùng tội nghiệp vụn ra như bột màu lưu
huỳnh. Stanley vẫn đang miết ngón tay dọc theo gáy cuốn sách của James.
Ít phút nữa, James sẽ cố tỏ ra bình thản như không có gì, vì cái liếc mắt đểu
cáng vừa rồi của Stan chính là điều tồi tệ nhất trong tâm trí ông. Nhưng lúc
này, khi chuông điện thoại reo, ngắt ngang bầu không khí ngột ngạt, ông
cảm thấy nhẹ nhõm nhiều đến nỗi ngay từ những giây đầu, ông đã không
nhận thấy được sự lo lắng tột độ trong giọng nói của Marilyn.
“James à?” - Bà nói. - “Anh về nhà được không?”
Cảnh sát nói với họ rằng nhiều trẻ vị thành niên bỏ nhà đi mà không nói
một lời nào. Họ cho biết, rất nhiều lần, những cô gái giận dỗi bố mẹ mình
mà các phụ huynh thậm chí không hề biết. Nath nhìn cảnh sát đi đi lại lại
trong phòng em gái mình. Cậu mong chờ hơn ở phấn bột và chổi lông, chó
đánh hơi, kính lúp. Nhưng thay vì dùng những vật dụng này để điều tra
manh mối, mấy gã cảnh sát chỉ nhìn vào tấm áp phích được đính trên bàn,
vào đôi giày trên sàn, vào cái túi sách đã mở hé một nửa. Rồi một viên
cảnh sát trẻ đặt lòng bàn tay của gã lên trên nắp lọ nước hoa tròn màu hồng
của Lydia, như thể đang chụp đầu một đứa bé vậy.
Một cảnh sát lớn tuổi nói với họ, hầu hết các trường hợp bé gái mất
tích, vấn đề sẽ tự được giải quyết trong vòng hai tư giờ. Những cô gái sẽ
tự quay về nhà.
“Ý ông là gì?” - Nath hỏi. - “Hầu hết ư? Nghĩa là sao?”
Viên cảnh sát ngước nhìn qua cặp kính hai tròng. “Trong đại đa số các
trường hợp”. - Ông đáp.
“80% sao?” - Nath vặn lại. - “90%? hay 95%?”
“Nathan”. - James gắt. - “Đủ rồi. Hãy để cảnh sát Fiske làm việc.”
Một sĩ quan trẻ ghi lại những chi tiết vào cuốn sổ tay: Lydia Elizabeth
Lee, 16 tuổi, lần cuối nhìn thấy vào thứ Hai ngày 2 tháng Năm, mặc váy
hoa dây buộc cổ, bố mẹ là ông James và bà Marilyn Lee. Lúc viên sĩ quan
Fiske chăm chú quan sát James, một ký ức ùa về trong tâm trí ông ta.
“Mà có phải vợ anh cũng từng một lần mất tích?” - ông ta thốt lên. “Tôi nhớ vụ đó. Vào năm 66, đúng không?”
Hơi nóng lan dọc gáy James, như mồ hôi đang chảy sau tai ông. Ông vui
vì, lúc này, Marilyn đang chờ điện thoại ở dưới lầu. “Đó chỉ là hiểu lầm” ông trả lời một cách quả quyết. - “Một sự hiểu lầm giữa vợ tôi và tôi.
Chuyện gia đình thôi.”
“Tôi hiểu rồi.” - Khi viên cảnh sát lớn tuổi lấy tập sổ tay ra và ghi chú,
James gõ đốt ngón tay mình vào một góc bàn của Lydia.
“Còn gì nữa không?”
Trong nhà bếp, mấy viên cảnh sát lật qua mấy cuốn album gia đình để
tìm một bức chân dung rõ ràng. “Tấm này” - Hannah vừa nói vừa chỉ tay
vào bức hình. Đó là ảnh chụp từ Giáng sinh năm ngoái. Lydia trông rất ủ
rũ, còn Nath thì cố gắng làm con bé vui, thậm chí dọa nạt để nó nở một nụ
cười trước ống kính. Nhưng vô ích. Con bé ngồi bên cạnh cây thông, lưng
dựa vào tường, một mình trong tấm ảnh. Khuôn mặt nó toát lên vẻ thách
thức. Ánh nhìn thẳng thừng, không do dự, thậm chí không mảy may biểu lộ
điều gì, như thầm nói Anh đang nhìn gì đấy? Trong bức hình, Nath không
thể phân biệt được đâu là màu xanh của tròng mắt đâu là màu đen của con
ngươi, mắt con bé như những hố đen trên tờ giấy bạc. Khi cậu đến lấy
hình tại hiệu ảnh, cậu hối hận đã chụp khoảnh khắc ấy, khoảnh khắc em gái
mình với ánh nhìn cứng đờ trên khuôn mặt. Nhưng bây giờ, cậu thừa nhận,
khi nhìn vào các bức ảnh trong tay Hannah, ánh nhìn này rất giống cô ấy, ít
nhất, là cái cách cô nhìn cậu khi cậu thấy cô lần cuối.
“Không phải tấm đó” - James nói. - “Không phải Lydia với bộ mặt như
thế. Mọi người sẽ nghĩ rằng lúc nào trông con bé cũng vậy. Hãy lấy một
tấm ảnh đẹp.” Ông ấy lật qua vài trang trong cuốn album rồi chọn bức
cuối cùng. “Tấm này đẹp hơn.”
Vào sinh nhật lần thứ 16, một tuần trước đó, Lydia ngồi ở bàn với một
nụ cười rực rỡ. Mặc dù khuôn mặt cô bé vẫn đang nhìn vào máy ảnh,
nhưng đôi mắt lại đang tìm kiếm một điều gì đó ngoài đường viền trắng
của bức hình. Có chuyện gì khôi hài chăng? Nath tự hỏi. Cậu không thể
nhớ nổi phải chăng cậu đã làm gì đó kì quặc, hoặc bố đã nói gì đó buồn
cười, hoặc giả Lydia đang tự cười với mình về điều mà không ai trong số
họ biết được. Con bé trông như người mẫu ảnh tạp chí quảng cáo, với làn
môi đậm và sắc nét, một đĩa bánh phủ kem đẹp mắt được giữ thăng bằng
trên đôi bàn tay mảnh khảnh, tận hưởng khoảng thời gian vui vẻ vô thực.
James đẩy bức ảnh sinh nhật về phía cảnh sát, một tay trẻ tuổi bỏ nó vào
trong một bìa hồ sơ và đứng dậy.
“Chuyện này rồi sẽ ổn thôi” - anh ta nói. - “Chúng tôi sẽ làm tờ rơi
trong trường hợp cô gái không trở về vào ngày mai. Đừng lo lắng. Tôi
chắc cô bé sẽ về mà.” Anh ta làm văng cả nước bọt lên trên bức hình và
Hannah đã phải dùng ngón tay của mình để gạt chúng đi.
“Con bé không thể nào bỏ đi đâu” - Marilyn sốt sắng nói. - “Nếu đây là
chuyện gì đó điên rồ thì sao? Một kẻ tâm thần nào đó chuyên bắt cóc con
gái?” Tay bà quơ vào tờ báo tin tức buổi sáng, vẫn đang nằm im lìm giữa
bàn.
“Cố gắng đừng quá lo lắng, thưa bà” - viên cảnh sát Fiske trấn tĩnh. “Những chuyện như vậy thường hiếm khi xảy ra. Ý tôi là trong đại đa số
các trường hợp…”, ông ta khẽ liếc nhìn Nath, rồi đằng hắng. - “Những cô
gái hầu hết luôn trở về nhà.”
Khi cảnh sát rời đi, Marilyn và James ngồi xuống cùng với tờ giấy
nháp. Cảnh sát đã yêu cầu họ gọi cho tất cả bạn bè của Lydia, bất kỳ ai có
thể biết được Lydia đã đi đâu. Họ cùng nhau đưa ra một danh sách gồm có
những cái tên như: Pam Saunders. Jenn Pittman. Shelley Brierley. Nath
không nhắc bố mẹ mình, nhưng cậu biết rõ những cô gái này chưa bao giờ
là bạn thân của Lydia. Lydia học chung trường với chúng từ hồi mẫu giáo,
thỉnh thoảng chúng gọi điện thoại đến, cười rúc rích và inh tai đến nỗi
Lydia phải hét lên qua điện thoại: “Tớ biết rồi.” Có vài buổi tối, con bé
ngồi hàng giờ liền trên bậu cửa sổ tầng trệt, chiếc điện thoại bàn lọt thỏm
trong lòng, ống tai nghe chêm giữa tai và vai. Khi bố mẹ đi qua, con bé hạ
giọng thầm thì bí mật, cuốn sợi dây tai nghe quanh ngón tay bé nhỏ của
mình cho tới khi họ rời đi. Nath biết, chính điều này là lý do tại sao bố mẹ
lại viết những cái tên này ra danh sách một cách tự tin như vậy.
Nhưng Nath đã nhìn thấy Lydia ở trường, con bé ngồi yên lặng như thế
nào trong quán cà phê trong khi những người khác huyên thuyên trò
chuyện; con bé lặng lẽ cất quyển vở vào trong cặp như thế nào sau khi đám
bạn sao chép xong bài tập về nhà của nó. Sau giờ học, con bé một mình
bước lên xe bus và ngồi cạnh Nath trong im lặng. Có lần, Nath chờ Lydia
bắt máy điện thoại và vô tình nghe, đúng lúc giọng nói của cô em gái tuôn
ra những việc là việc - thoại Màn 1 của vở kịch Othello, làm những bài tập
nhỏ ở chương 5 - rồi lại im lặng sau tiếng cúp máy. Ngày hôm sau, khi
Lydia nằm cuộn tròn trên bậu cửa sổ, điện thoại áp vào tai, Nath nhấc máy
lẻ trong nhà bếp lên và chỉ nghe tiếng rè đều đều của tín hiệu quay số.
Lydia thực sự chưa từng có bạn, nhưng bố mẹ không hề biết điều này. Nếu
họ có hỏi: “Lydia, Pam dạo này thế nào?”, Lydia đáp: “Ồ, bạn ấy giỏi lắm,
bạn ấy vừa mới thành lập một đội cổ động viên đấy ạ.” Nath không phủ
nhận lời con bé. Cậu cảm thấy kinh ngạc trước khuôn mặt tỉnh bơ của cô
em gái, trước cái cách con bé nói dối mà không mảy may chớp mắt.
Ngoại trừ việc không nói cho cha mẹ nghe điều đó vào lúc này, cậu chỉ
có thể nhìn mẹ viết nguệch ngoạc những cái tên trên mặt sau của tờ biên
nhận cũ và khi bà hỏi cậu và Hannah, “Các con có nghĩ tới ai khác nữa
không?”, cậu đã nghĩ tới Jack nhưng lại nói không.
Suốt mùa xuân, Lydia luôn quanh quẩn bên Jack, hoặc ngược lại. Hầu
như mỗi buổi chiều, họ đều lái xe vòng vòng trên chiếc Beetle của Jack, và
chỉ trở về nhà đúng vào giờ ăn tối, rồi Lydia giả vờ rằng mình đã ở trường
suốt ngày. Nó xuất hiện thật bất ngờ, mối quan hệ mà Nath nhất mực gọi
là tình bạn này - mà không phải là mỹ từ nào khác. Jack sống cùng mẹ ở
góc phố từ khi cậu học cấp một, Nath đã từng nghĩ họ có thể trở thành bạn.
Nhưng không. Jack đã làm bẽ mặt cậu trước những đứa khác, đã cười nhạo
Nath khi mẹ cậu bỏ đi, lúc đó Nath nghĩ bà ấy có thể không bao giờ quay
trở lại. Như thể, Nath nghĩ, dường như Jack có toàn quyền được nói, khi
cậu ấy không có bố. Những người hàng xóm thì thầm to nhỏ khi gia đình
Wolff chuyển đến, rằng Janet Wolff đã ly hôn ra sao, Jack đã hóa điên như
thế nào trong khi mẹ cậu ta còn bận trực đêm ở bệnh viện. Mùa hè năm đó,
họ cũng bàn tán xôn xao về chuyện của bố mẹ Nath, nhưng mẹ Nath đã
quay về. Còn mẹ Jack thì vẫn ly hôn và Jack thì vẫn điên dại.
Còn bây giờ thì sao? Chỉ mới tuần trước, trên đường lái xe về nhà sau
khi chạy việc vặt, cậu bắt gặp Jack dẫn chó tản bộ. Jack đi vòng quanh hồ,
định rẽ vào một con đường cụt, khi cậu nhìn thấy Jack, với dáng người gầy
và cao lêu nghêu, đang trên đường tới bờ hồ, con chó nhảy chồm về phía
trước hướng về một cái cây. Jack mặc một chiếc áo thun cũ bạc màu với
mái tóc quăn màu hung dựng đứng, bù xù. Khi Nath chạy qua, Jack ngước
nhìn lên và khẽ gật đầu, khóe miệng vẫn còn ngậm một điếu thuốc. Nath
biết, điệu bộ này chứng tỏ sự quen biết hơn là một lời chào hỏi. Bên cạnh
Jack, con chó đang nhìn chằm chằm vào cậu rồi bất chợt đưa chân lên. Và
Lydia đã dành cả mùa xuân cùng với cái gã như thế.
Nath nghĩ thầm, nếu bây giờ nói ra bất cứ điều gì, họ sẽ sửng sốt bảo,
Tại sao con không cho bố mẹ biết điều này sớm? Cậu sẽ phải bù lu bù loa
giải thích rằng vào tất cả các buổi chiều khi cậu nói, “Lydia đang học với
một người bạn” hoặc “Lydia ở lại nhà bạn sau khi làm bài tập Toán”, thì
thực ra ý cậu là, Lydia đang đi với Jack hoặc Em ấy đi cùng xe với Jack
hoặc Em ấy ra ngoài cùng với cậu ta rồi, và Chỉ có Chúa mới biết chúng
nó đi đâu. Hơn nữa: nói tên của Jack ra có nghĩa là thừa nhận một cái gì đó
mà cậu hoàn toàn không muốn. Rằng Jack từng là một phần cuộc sống của
Lydia, rằng gã đã là một phần của cuộc sống con bé trong nhiều tháng qua.
Bên kia bàn, Marilyn tìm kiếm số điện thoại trong danh bạ và đọc chúng
ra; James gọi điện, chậm rãi và cẩn thận, nhấn số điện thoại với chỉ một
ngón tay. Sau mỗi cuộc gọi, giọng ông càng trở nên bối rối hơn. Không ư?
Con bé không đề cập đến bất cứ điều gì với cháu à, bất kì kế hoạch nào
ấy? Ồ, bác hiểu rồi. À, dù sao cũng cảm ơn cháu nhé.
Nath chăm chú nhìn những vân gỗ của bàn ăn, cuốn album mở ngay
trước mặt cậu. Bức ảnh bị thiếu để lại một khoảng trống trong cuốn album,
khung kiếng nhựa trong suốt để lộ lớp bìa trắng trống trơn. Mẹ cậu lướt
bàn tay dọc xuống theo cột danh bạ, đầu ngón tay ám màu xám xịt. Dưới
lớp khăn trải bàn, Hannah duỗi thẳng chân và chạm một ngón chân vào
Nath. Một cái chạm an ủi. Nhưng cậu không ngước lên. Thay vào đó, cậu
gập cuốn album lại, và phía bên kia bàn, mẹ cậu lại gạch một cái tên ra khỏi
danh sách.
Khi họ gọi tới số cuối cùng, James để điện thoại xuống. Ông lấy tờ
giấy từ tay Marilyn và gạch bỏ cái tên Karen Adler, chia đôi chữ cái K
thành hai ký tự V rõ ràng. Dưới lằn gạch, ông vẫn có thể nhìn ra cái tên.
Karen Adler. Marylin chưa bao giờ để Lydia ra ngoài vào cuối tuần cho tới
khi con bé làm xong bài tập - và đó thường là chiều Chủ nhật. Thỉnh
thoảng, vào chiều Chủ nhật, Lydia gặp bạn bè tại trung tâm thương mại, nài
nỉ để được chở đi: “Đám bạn con đang dự tính đi xem phim Nàng Annie
Hall. Karen thèm xem bộ phim này muốn chết ấy.” Ông rút 1 tờ mười đô
từ trong ví mình ra và đẩy nó qua chỗ con bé, ngụ ý: Được rồi, đi chơi vui
vẻ nhé. Lúc này, ông nhận ra rằng ông chưa bao giờ thấy một cuống vé nào
cả, theo khả năng ông có thể nhớ là vậy, Lydia luôn lầm lũi một mình trên
lề đường cho đến khi ông tới rước cô về nhà. Hàng đêm, ông dừng lại ở
chân cầu thang và mỉm cười, lắng nghe cuộc trò chuyện lỡ dở của Lydia
vang vọng từ trên lầu xuống: “Ôi trời ơi, tớ biết mà, phải không? Rồi cô
ấy nói gì?” Nhưng bây giờ, ông biết, con bé không hề gọi cho Karen hay
Pam hay Jenn trong những năm qua. Ông nghĩ về những buổi chiều dài
đằng đẵng ấy, khi họ vẫn nghĩ cô ở lại trường sau giờ học để ôn bài.
Khoảng thời gian trống không bị kiểm soát này cô có thể đã đi bất cứ đâu,
làm bất cứ điều gì. Trong chốc lát, James chợt nhận ra ông đã xóa cái tên
Karen Adler bằng những đường gạch chéo bằng mực đen.
Ông nhấc điện thoại lên lần nữa và gọi. “Vui lòng cho tôi gặp cảnh s...
 





