GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
Chuyện thường ngày của Bác Hồ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phùng Thu Hương
Ngày gửi: 16h:48' 29-06-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phùng Thu Hương
Ngày gửi: 16h:48' 29-06-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CHUYỆN THƯỜNG NGÀY CỦA BÁC HỒ
1
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện
Quốc gia Việt Nam
Hồng Khanh
Chuyện thường ngày của Bác Hồ/Hồng
Khanh. - Tái bản. - H.: Chính trị Quốc gia, 2015. 184tr. ; 19cm
1. Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Cách mạng, chính
trị gia, 1890-1969, Việt Nam 2. Truyện kể
959.704092 - dc23 CTH0238p-CIP
2
Mã số:
3K5H6
CTQG2015
3
HỒNG KHANH
CHUYỆN THƯỜNG NGÀY CỦA BÁC HỒ
(Tái bản có sửa chữa, bổ sung)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2015
4
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo
đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng,
người cộng sản vĩ đại, anh hùng giải phóng
dân tộc, nhà văn hóa lớn, nhưng đồng thời
cũng là một con người bình dị, gần gũi, ai
cũng có thể học và làm theo, đặc biệt về
phong cách của Bác.
Trong đời sống hằng ngày, ngoài những
lúc làm việc và tiếp khách, Bác thường tranh
thủ đi thăm, chuyện trò thân tình với các cụ
già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào các địa
phương để nắm tình hình và tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân. Bác đến với mọi người
một cách rất tự nhiên và bình dị. Điều đó đã
trở thành một nhu cầu, một nếp sống, trở
thành điều tâm niệm suốt đời của Người.
6
Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự
thật xuất bản cuốn sách: Chuyện thường ngày
của Bác Hồ của Nhà báo Hồng Khanh Nguyên Ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
Cuốn sách được khởi thảo năm 2003 và
liên tục được tái bản tại Nhà xuất bản Thanh
niên, lần xuất bản gần đây nhất là năm 2011
tại Nhà xuất bản Thế giới. Thông qua lời kể
của các đồng chí nguyên là cận vệ của Bác,
Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại những câu
chuyện thường ngày của Bác theo các chủ đề:
Người giúp việc; Những nơi ở; Khi mặt trời lên;
Cách ăn mặc; Ngoài giờ làm việc; Đến với dân;
Đêm xuống; Giấc ngủ ngon lành. Mỗi câu
chuyện đều thể hiện phong cách giản dị, gần
gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối sống, tác
phong quần chúng thường ngày của Bác luôn
là chuẩn mực nhân cách con người cách
mạng nhưng lại không xa lạ với mỗi con
người bình thường, mà ai cũng có thể soi
mình, học tập, noi theo.
7
Cuốn sách mỏng, nội dung phong phú, dễ
hiểu, rất bổ ích cho những ai muốn quan tâm
nghiên cứu, tìm hiểu về Bác Hồ và đạo đức,
tác phong của Bác.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng
bạn đọc.
Tháng 4 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
8
LỜI GIỚI THIỆU
Sáng kiến của tác giả Hồng Khanh viết
cuốn sách về Chuyện thường ngày của Bác Hồ
chắc chắn được đông đảo bạn đọc hoan
nghênh. Cuốn sách này gúp phần vào việc
giúp thế hệ trẻ tìm hiểu về con người vĩ đại
của dân tộc ta qua đời thường bằng những
mẩu chuyện sinh động. Một nét nổi bật trong
cuộc sống đời thường thể hiện sự cao thượng
của Bác Hồ là sự giản dị, gần gũi với mọi
người, sống và làm việc như đồng bào, đồng
chí.
Những chuyện kể cũng cho chúng ta thấy
những người là nhân chứng đã phục vụ Bác
Hồ trên 20 năm Người làm Chủ tịch nước.
Những nhân chứng này cũng nêu gương
sáng về tinh thần phục vụ Tổ quốc bằng sự
săn sóc chu đáo người lãnh đạo của nhân dân
9
ta.
Đồng chí Hồng Khanh là nhà báo lâu năm
của báo Nhân dân. Trong thời gian kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Hồng Khanh là phóng
viên của một tờ báo ở Vĩnh Linh viết nhiều
cho báo từ tuyến lửa ở dưới địa đạo. Sau
chiến tranh, đồng chí viết về lĩnh vực kinh tế
với những bài điều tra và bình luận sắc sảo.
Là một nhà báo chiến sĩ, từng trải qua gian
khổ, thử thách, Hồng Khanh là người có thể
đảm trách những bài viết quan trọng của
cuốn sách này.
Ngày 11 tháng 6 năm 2003
HOÀNG TÙNG, Nguyên Bí thư Trung ương
Đảng
Cộng
sản
Việt
Nam,
nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân
10
NGƯỜI GIÚP VIỆC
Người ta sinh ra ở đời, dù làm đến chức
cao nhất nước, hay chỉ là người dân bình
thường, hằng ngày đều phải ăn, mặc, ở, đi
lại, làm việc, tiếp xúc với mọi người... Những
sinh hoạt thường ngày không thể thiếu ấy
được thể hiện cầu kỳ hay giản dị, lịch sự hay
buông thả, xa hoa hay tiết kiệm, đài các hay
bình dân..., phụ thuộc một phần điều kiện
vật chất, hoàn cảnh xã hội, nhưng phần lớn
hơn có tính quyết định là phụ thuộc ý thức,
tư tưởng và ý chí rèn luyện không ngừng của
con người đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà cách mạng lỗi
lạc, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt
Nam. Người đã sáng lập Đảng Cộng sản
Việt Nam, Mặt trận, Nhà nước và Quân đội
nhân dân Việt Nam anh hùng. Bao nhiêu
sách báo trong nước và ngoài nước đã, đang
và tiếp tục viết về sự nghiệp hoạt động cách
mạng, tư tưởng và cả cuộc sống sinh hoạt
thường ngày của Người.
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945
11
thành công đến ngày Người đi xa (2-9-1969),
khoảng xấp xỉ trên một phần tư thế kỷ ấy,
đất nước Việt Nam gặp biết bao thăng trầm,
sóng gió, nhưng dưới tay lái vững vàng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng
Việt Nam vẫn tiến lên vượt mọi khó khăn
gian khổ, giành hết thắng lợi này đến thắng
lợi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh - một con
người Việt Nam không những vĩ đại trong tư
tưởng, trong sự nghiệp vì dân, vì nước, mà
còn vĩ đại, mẫu mực cả trong nếp sống
thường ngày.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời. Để giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Chính phủ điều hành đất nước, Văn phòng
Phủ Thủ tướng được hình thành, trong đó có
một bộ phận đặc biệt, bước đầu gồm tám
người được phân công phục vụ trực tiếp Bác
Hồ về các công việc sự vụ hằng ngày từ hành
chính, cận vệ, chăm sóc sức khỏe đến lái xe...
Sáng ngày 6-3-1947, tại một địa điểm sơ
tán ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú
Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tám đồng chí
12
trực tiếp giúp việc cho Người ngồi bàn công
tác “quân sự hóa”. Nghĩa là cơ quan giúp
việc cho Bác phải gọn, nhẹ, cơ động, bí mật,
nhanh chóng, đi không ai biết, đến không ai
hay. Cho nên mỗi người phải có một cái
balô. Ngoài ra, thêm một cái balô đựng máy
chữ của Bác Hồ mang từ Hà Nội lên. Khi ấy,
các đồng chí trực tiếp giúp việc cho Người
được coi là cán bộ Văn phòng Chủ tịch nước,
hoặc Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, là
một bộ phận đặc biệt thuộc biên chế Văn
phòng Chủ tịch nước. Bởi lẽ, sau Tổng tuyển
cử ngày 6-1-1946, Quốc hội khóa I của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu Người làm
Chủ tịch nước kiêm luôn Thủ tướng Chính
phủ1. Bộ phận này trong suốt thời gian ở
chiến khu Việt Bắc, để bảo đảm bí mật,
thường được gọi là C.Q41, nghĩa là cơ quan
41. Con số 41 là lấy hai số cuối của năm
1941, năm Bác Hồ về nước sau 30 năm bôn
1. Mãi tới tháng 8-1949 mới có Phó Thủ tướng Phạm
Văn Đồng ở bên Bác; đến tháng 9-1955, đồng chí Phạm Văn
Đồng mới là Thủ tướng.
13
ba nước ngoài tìm đường cứu nước.
Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí
đang ngồi quanh Người, bỗng càng lấy làm
phấn khởi khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh âu
yếm nhìn từng người một. Đó là các đồng
chí: Võ Chương, quê ở Thừa Thiên Huế,
nguyên là giáo viên, hoạt động Việt Minh tại
Thanh Hóa, Hà Nội, sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 trở thành chiến sĩ trong đội tự
vệ cứu quốc thành Hoàng Diệu, được chọn
bổ sung vào tổ cận vệ Bác Hồ. Đồng chí
Nguyễn Cần, quê ở Thường Tín, Hà Nội,
từng tham gia Thanh niên phản đế Trường
Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật thám Pháp bắt giam
ở Hỏa Lò năm 1943, tháng 3-1945 vượt ngục,
trở về công tác tại nội thành Hà Nội. Đồng
chí Nguyễn Văn Lý, quê ở tỉnh Thái Bình,
tham gia hoạt động cách mạng trong phong
trào công nhân từ trước năm 1940, bị địch bắt
giam ở Sơn La, Thái Nguyên, rồi vượt ngục
trở về hoạt động ở căn cứ địa Tân Trào, tỉnh
Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn,
quê ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong
phong trào Thanh niên cứu quốc Hà Nội,
14
cuối năm 1945 được tuyển vào tổ cận vệ Bác
Hồ. Đồng chí Hoàng Văn Lâm, người dân tộc
Tày ở Lạng Sơn, sớm giác ngộ cách mạng.
Đồng chí Chu Phương Vương, người dân tộc
Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho Bác
từ tháng 7-1945. Các đồng chí Nguyễn Quang
Chí, Trần Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao
Bằng, là chiến sĩ giải phóng quân, giúp việc
cho Bác trước tháng 8-1945 ở khu giải phóng
Việt Bắc.
Cả tám đồng chí nói trên đang im lặng thì
bỗng thấy Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang
phải theo thứ tự từng đồng chí đang ngồi sát
nhau theo hình vòng tròn, vừa nhẹ nhàng
nói:
- Từ hôm nay, Bác đặt tên cho mỗi chú
như sau: Chú Võ Chương là Trường; chú
Nguyễn Cần là Kỳ; chú Nguyễn Văn Lý là
Kháng; chú Nguyễn Hữu Văn là Chiến; chú
Hoàng Văn Lâm là Nhất; chú Chu Phương
Vương là Định; chú Nguyễn Quang Chí là
Thắng; chú Trần Đình là Lợi.
Nói xong, lặng im giây lát, Bác lại nhắc
tên tám đồng chí vừa mới đặt: Trường, Kỳ,
15
Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi.
Rồi Bác nhẹ nhàng hỏi một câu:
- Các chú có biết tại sao Bác đặt tên các
chú như vậy không?
Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ,
chưa ai lên tiếng. Bác giải thích luôn:
- Nhân dân ta vừa giành được chính
quyền chưa bao lâu thì đã phải bước vào cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của Bác là
cùng với Đảng, Chính phủ lãnh đạo nhân dân
ta tiến hành cuộc kháng chiến đến ngày thắng
lợi. Bác đặt tên các chú theo khẩu hiệu
“Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”
là để hằng ngày Bác gọi đến tên các chú, hay
nhớ đến các chú là nhắc nhở Bác phải lo làm
sao tìm mọi mưu kế, biện pháp để hoàn thành
bằng được nhiệm vụ cao cả đó.
Niềm vinh dự, tự hào được Chủ tịch nước
đặt tên mình gắn với ý chí và quyết tâm của
toàn dân tộc đang bước vào cuộc trường kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
đầy gian khổ nhưng nhất định thắng lợi càng
thôi thúc tám đồng chí không ngừng vươn
16
lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, trong tiếp xúc
hằng ngày, hai tiếng “Bác Hồ” chính thức
được gọi thay cho năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí
Minh” với cả tấm lòng kính trọng, biết ơn,
gần gũi và thương yêu vô hạn. Đối với
những người được vinh dự trực tiếp giúp
việc cho Bác Hồ càng hết sức vui mừng được
Bác gọi bằng “chú” với cả tình thương ân
cần, trìu mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có
chút cách biệt. Nhiều đồng chí đã lấy tên Bác
đặt cho mình làm tên chính thức suốt đời,
như Kỳ là đồng chí Vũ Kỳ - tức Nguyễn Cần;
Kháng là đồng chí Hoàng Hữu Kháng - tức là
Nguyễn Văn Lý; Chiến là đồng chí Tạ Quang
Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn...
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược bước sang giai đoạn chuẩn bị
cho tổng phản công, khối lượng công việc ở
C.Q41 càng bề bộn, khẩn trương. Người nào
cũng làm việc chăm chỉ, ít được ngơi nghỉ,
hòa trong khí thế sôi động từ các chiến
trường Bắc - Trung - Nam dội về nơi làm việc
của Bác. Và càng náo nức, hồ hởi khi được
Bác gợi ý là nên có một số chú đi xuống cơ sở
17
dài ngày để vừa hiểu biết thực tế cuộc sống
chiến đấu gian khổ nhưng rất anh dũng của
đồng bào, đồng chí, vừa có dịp học tập, rèn
luyện, góp phần phát huy khả năng của mình
vào sự nghiệp cách mạng. Bác còn nhấn
mạnh nếu chú nào cũng cứ ngồi hoài ở văn
phòng để nắm tình hình qua các bản báo cáo
hoặc điện thoại ở dưới gọi lên thì làm sao
hiểu được thực tế, làm sao tiến kịp theo đà
phát triển chung. Thực tế, ở cơ sở cũng là
một trường học để rèn luyện mình. Ít hôm
sau, được đồng chí Trường Chinh cho biết là
Bác đã đưa gợi ý đó ra trước Thường vụ
Trung ương Đảng và được Thường vụ rất
đồng tình. Thế là cả C.Q41 càng lấy làm phấn
chấn và tích cực hưởng ứng gợi ý của Bác.
Không bao lâu sau, đồng chí Vũ Kỳ được về
Hà Nội làm công tác “địch vận”. Khi chuẩn
bị mở chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1953,
Bác lại chỉ đạo cho đồng chí Vũ Kỳ đi vào lực
lượng thanh niên xung phong, phụ trách
Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương.
Cũng trong thời gian bí mật, khẩn trương,
náo nức đó, một số đồng chí của C.Q41 cũng
18
rời văn phòng xuống cơ sở, như đồng chí Tạ
Quang Chiến xuống phụ trách Đội Thanh
niên xung phong tại “An toàn khu”. Đồng
chí Hoàng Hữu Kháng làm Trưởng Ban tiếp
tế An toàn khu Trung ương, Cục trưởng Cục
Cảnh vệ Bộ Công an... Số đồng chí ở lại giúp
Bác càng làm việc bận rộn hơn. Thông cảm
với hoàn cảnh đó, những khi chưa có người
bổ sung kịp, Bác vừa thảo công văn, chỉ thị,
vừa tự đánh máy lấy. Một không khí làm
việc sôi động, hồ hởi, không quản mệt nhọc,
tất cả vì cơ sở, vì tiền tuyến và chiến thắng.
Những đồng chí do yêu cầu công việc phải
chuyển sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho
đồng chí mới được bổ sung như tên đồng
chí đã chuyển. Câu khẩu hiệu “Trường kỳ
kháng chiến, nhất định thắng lợi” luôn ở bên
Bác. Vì thế, khi kháng chiến thắng lợi đã có
ba đồng chí mang tên Trường, hai đồng chí
mang tên Nhất, hai đồng chí mang tên Thắng.
Một số đồng chí bổ sung trong hai năm 1948
- 1949 được Bác đặt tên mang những ý nghĩa
mới: Trung, Dũng, Đồng, Tâm, Kiên, Quyết,
Tiết, Kiệm.
19
Một hôm, trong không khí hòa bình, mới
về lại Thủ đô Hà Nội, nhân lúc Bác cháu
đang nói chuyện vui sau bữa cơm chiều, một
đồng chí quá lạc quan, đề nghị với Bác:
- Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình
mới, xin Bác cho đổi tên của hai đồng chí
Kháng và Chiến thành hai tên Hòa và Bình!
Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt hơi
nghiêm:
- Có kháng chiến mới có hòa bình. Song
hiện nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải
chuẩn bị kháng chiến ở miền Nam, vì kẻ địch
chưa dễ gì ngoan ngoãn làm theo Hiệp định
Giơnevơ năm 1954. Chớ có chủ quan!
Quả câu nói của Bác là một lời tiên tri.
Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Hai mươi
năm sau, giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc.
Kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên
Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Bác Hồ,
Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu
Việt Bắc, ngày 10-10-1954 về lại Thủ đô Hà
Nội. Các đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến
lần lượt được trở lại giúp việc cho Bác Hồ. Từ
20
đấy, trong hoàn cảnh miền Bắc được giải
phóng, miền Nam còn tạm thời trong tay
địch, tính chất công việc ở bộ phận trực tiếp
giúp Bác lại càng đòi hỏi mỗi người làm việc
sâu sát hơn, tỉ mỉ hơn, chính xác hơn, hiệu
quả hơn. Một số đồng chí mới rút từ Văn
phòng Trung ương Đảng và một vài địa
phương lần lượt được điều động, bổ sung
vào bộ phận giúp việc cho Bác, như các đồng
chí Đinh Văn Cẩn, Lê Văn Nhượng (bổ sung
năm 1950), Cù Văn Chước, Lê Hữu Lập, Trần
Văn Vượng, Nguyễn Văn Mùi, Lưu Quang
Lập, Ngô Văn Các, Hoàng Tấn Quang... Tất
cả gồm hơn mười người. Nếu kể tách bạch ra
thì công tác văn thư chỉ có bốn người, kể cả
đồng chí Vũ Kỳ. Số đồng chí khác được phân
công: người lo đánh máy, người làm cần vụ,
người lo nấu ăn, người lái xe, người làm
vườn, người tiếp khách, phục vụ hội nghị do
Bác chủ trì... Phân công chuyên môn như
vậy, nhưng khi cần thiết là có sự hỗ trợ công
việc lẫn nhau trong từng bộ phận văn thư
hoặc hậu cần. Bộ phận bảo vệ tiếp cận Bác
thuộc Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. Về tổ chức,
21
tài vụ, công tác đảng, văn phòng phẩm,
lương cán bộ, nhân viên của số anh em giúp
việc cho Bác đều do Văn phòng Phủ Thủ
tướng phụ trách. Khi Bác đón những đoàn
khách lớn nước ngoài hoặc tổ chức tiệc tùng
chiêu đãi thì chuyển giao cho các bộ phận
giao tế hoặc Bộ Ngoại giao đảm nhiệm.
Hơn chục anh em trực tiếp giúp việc cho
Bác chỉ lo làm sao bảo đảm được mọi nhu cầu
về vật chất và tinh thần cần thiết hằng ngày
của Bác để Bác vừa có thêm thời gian lo việc
dân, việc nước, vừa còn có thể thư giãn, nghỉ
ngơi, giải trí. Anh em thường nói với nhau:
“Sức khỏe của Bác là tài sản quốc gia”. “Ngày
nào Bác cũng vui, cũng khỏe, cũng thanh
thản là mong ước của đồng bào cả nước”. Vì
vậy, hơn chục anh em này đều chí thú lo toan
công việc được giao. Và mỗi khi Bác đi công
tác xa vài ba ngày trở lên, Bác không quên
nhắc đồng chí phụ trách có thể cho anh em
thay nhau về nghỉ với vợ con, gia đình, quê
hương. Sự quan tâm dù nhỏ ấy của Bác càng
động viên anh em phấn khởi làm việc hết
mình.
22
*
*
*
Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ XXI.
Tôi lần lượt tìm đến nhà riêng của những
đồng chí đó có thời gian gần gũi giúp việc
Bác. Với dụng ý, qua các nhân chứng đặc biệt
này, có thể được biết thêm về những công
việc sinh hoạt thường ngày của Bác Hồ. Nhất
là trong suốt thời gian 24 năm Người làm
Chủ tịch nước, bận trăm công nghìn việc của
Đảng, của Chính phủ, của chế độ dân chủ
cộng hòa mới ra đời và hình thành. Hằng
ngày, Bác vẫn rèn luyện, xây dựng cho mình
một phong cách sống thư thái, giản dị, trong
sáng, mẫu mực, hết lòng vì dân, vì nước.
Trong số tám đồng chí đầu tiên giúp việc
cho Bác Hồ mà đã vinh dự được Người đặt
tên “Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định,
Thắng, Lợi” thì đến năm 2001 đã có sáu đồng
chí nối tiếp nhau theo Bác Hồ về cõi vĩnh
hằng trong những năm cuối của thế kỷ XX.
Hai đồng chí còn lại, ít tuổi nhất so với các
23
đồng chí kia, là đồng chí Vũ Kỳ, tuổi đã
ngoài 80, sức khỏe có giảm, nhưng vẫn tỉnh
táo, minh mẫn; đồng chí Tạ Quang Chiến,
tuổi đã 77, trời cho còn khỏe mạnh, hồng hào,
nói năng lưu loát. Các đồng chí bổ sung sau
năm 1954, khi miền Bắc đã được giải phóng,
tuổi cũng đã trên dưới 70. Nhưng may mắn
thay là đồng chí nào cũng còn nhanh nhẹn,
hoạt bát. Điều rất mừng là khi kể lại, đồng
chí nào cũng còn nhớ khá đậm nét những kỷ
niệm về công việc và sinh hoạt thường ngày
của Bác Hồ mà các đồng chí đó, cũng như các
đồng chí tiền nhiệm đã kể lại, được vinh dự ở
bên Người, giúp việc cho Người trong suốt
những năm tháng Người nhận trách nhiệm
cao cả trước Đảng, trước nhân dân là làm
Chủ tịch nước.
Cuốn sách này chủ yếu ghi lại những lời kể
về cuộc sống đời thường: ăn, mặc, ở, đi lại, giải
trí, rèn luyện sức khỏe của Bác Hồ mà các
đồng chí giúp việc cho Người từng chứng
kiến. Những việc thường ngày ấy cũng là
một yếu tố rất quan trọng góp phần quyết
định tạo nên con người Hồ Chí Minh với ý
24
nghĩa đầy đủ, tuyệt vời cả tài - đức - trí - lực.
Qua đó, giúp chúng ta hiểu thêm về phong
cách, phẩm chất, tư tưởng nhất quán trong
mục đích, hướng đi, sự nghiệp cách mạng
của Bác Hồ - vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu
của dân tộc Việt Nam đã suốt đời hy sinh
quên mình cho cách mạng, cho sự ấm no, tự
do, hạnh phúc của nhân dân.
Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi sắp
xếp nội dung các câu chuyện theo thứ tự sau:
- Những nơi ở
- Khi mặt trời lên
- Cách ăn mặc
- Ngoài giờ làm việc
- Đến với dân
- Đêm xuống
- Giấc ngủ ngon lành.
TÁC GIẢ
Hồng Khanh
25
NHỮNG NƠI Ở
Các đồng chí kể rằng, nếu tính từ ngày rời
căn cứ cách mạng Tân Trào, lần đầu tiên Bác
về Hà Nội, vào nội thành là chiều thứ bảy,
ngày 25-8-1945, tức ngày 18-7 năm Ất Dậu.
Ngày đó, Hà Nội mới giành được chính
quyền trọn một tuần, đang trong khí thế sục
sôi Cách mạng Tháng Tám. Phố xá treo đầy
cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ “Ủng hộ Việt
Minh!”, “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Vào
lúc sâm sẩm tối, tại làng Phú Gia, cạnh sông
Hồng, đồng chí Trường Chinh đã đến chờ
sẵn để đón Bác. Chiếc xe Ford cũ màu đen
đưa Bác từ Phú Gia chạy dọc theo đê sông
Hồng, về Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than,
qua phố Chả Cá, đến trước số nhà 35 Hàng
Cân, rồi rẽ vào phía trong có cửa phụ. Đến
đây, xe ô tô dừng lại. Bác xuống xe. Đồng chí
26
Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng, mời
Bác vào nhà, lên gác hai là nơi Thường vụ
Trung ương Đảng bố trí Bác đến ở. Ngôi
nhà này xây ba tầng, khá cao giữa phố cũ Hà
Nội, của một thương gia lớn là ông bà Trịnh
Văn Bô. Nhà có cửa chính phía trước mang
biển số 48 phố Hàng Ngang. Cửa chính bằng
sắt chắc chắn, rất thuận lợi cho công tác bảo
vệ. Gác hai của ngôi nhà này có một căn
phòng rộng mà chủ nhà dựng làm phòng ăn.
Giữa phòng kê một bàn gỗ dài, to. Quanh
bàn có tám ghế tựa đệm mềm. Bộ bàn ghế
này là nơi Bác Hồ thường làm việc với các
đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối
phòng, ở sát tường phía sau, kê một chiếc
bàn tròn mà Bác và số đồng chí giúp việc cho
Bác thường dùng làm chỗ ngồi ăn sáng và ăn
cơm bữa tối. Bác Hồ thường ngồi suy nghĩ,
làm việc, hoặc đánh máy ở chiếc bàn con kê
sát tường góc phía trong. Mặt bàn này hình
vuông, bọc da màu xanh lá mạ, vừa đủ để
tập giấy, bút và chiếc máy chữ nhỏ, cũ, mang
từ căn cứ cách mạng Tân Trào về. Chính tại
gác hai ngôi nhà này, Bác Hồ đã trầm ngâm
27
suy nghĩ phác thảo nên bản Tuyên ngôn độc
lập lịch sử.
Ngày 29-8, Bác Hồ và một số đồng chí
giúp việc được Trung ương bố trí đến ở và
làm việc tại nhà số 12 Ngô Quyền, cạnh
vườn hoa Chí Linh, nơi trước đó là dinh của
Thống sứ Bắc Kỳ, nay là Nhà khách Chính
phủ.
Ngày 31-8, để chuẩn bị cho lễ ra mắt
Chính phủ Cách mạng lâm thời trước quốc
dân đồng bào, Bác hỏi anh em giúp việc:
- Nơi dự định họp míttinh như thế nào?
Các chú thử vẽ phác qua cho Bác xem.
Xem xong sơ đồ, Bác hỏi:
- Liệu chứa được bao nhiêu người?
- Dạ! Thưa Bác khoảng vài vạn người!
Bác hỏi thêm:
- Đã bố trí chỗ đồng bào đi vệ sinh chưa?
Thấy anh em nhìn nhau hơi lúng túng,
đoán là chưa nghĩ đến, Bác gợi ý ngay:
- Việc đó tuy nhỏ, nếu không chú ý bố trí
cho tốt thì dễ mất trật tự.
Theo gợi ý thêm của Bác, mọi công việc
28
chuẩn bị cho cuộc míttinh được tiến hành
khẩn trương, hoàn thành chu tất.
Đúng ngày 2-9-1945, trước hàng vạn đồng
bào, đồng chí tập trung ở Quảng trường Ba
Đình, thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm
thời, Bác Hồ trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn
độc lập. Đang đọc, bỗng Bác dừng lại hỏi một
câu:
- Tôi nói đồng bào nghe rõ không?
Cả biển người cả trai, gái, trẻ, già, ăn mặc
đủ màu sắc, đồng thanh trả lời: “Nghe rõ!
Nghe rõ!”.
Bác trịnh trọng tuyên bố tiếp với đồng bào
Thủ đô thay mặt nhân dân cả nước và qua
làn sóng phát thanh truyền ra thế giới: “...
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp
hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân
tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
lập!... Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả
tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để
giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”1.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
29
Từ đó, trong không khí đất nước hồ hởi
giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác
Hồ và các đồng chí lãnh đạo càng bộn bề
mọi công việc. Số nhà 12 Ngô Quyền không
những là nơi ở và làm việc của Bác, mà còn là
điểm tìm đến của bao nhân sĩ, trí thức, người
giàu có và nhân dân lao động để góp phần
đem sự hiểu biết, lòng trung thành và của cải,
sức lực của mình ra sức xây dựng và bảo vệ
chính quyền cách mạng non trẻ do Bác Hồ
lãnh đạo. Ít lâu sau, chính tại nơi ở 12 Ngô
Quyền này, một sự việc hết sức đặc biệt đã
xảy ra, bất ngờ sau hơn ba thập kỷ anh chị
em ruột xa nhau. Đó là sau khi lần đầu tiên
thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà con họ
hàng bên nội ở làng Kim Liên, bên ngoại ở
làng Hoàng Trù, thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An, bàn tán nhau nửa tin, nửa ngờ:
“Phải chăng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn
Ái Quốc, là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn
Sinh Cung?”1. Để rõ sự thật, bà con cả hai bên
2011, t.4, tr.3.
1. Tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ là Nguyễn Sinh Cung,
30
nội ngoại liền cử cụ Thanh, tên thật là
Nguyễn Thị Bích Liên - chị gái Bác Hồ, khăn
gói lên đường ra Hà Nội xem sao.
Khi đến cổng số 12 Ngô Quyền, cô Thanh
để tạm xuống đất hai con vịt và chiếc bị cói
trong đựng vài chục quả trứng gà xung
quanh phủ trấu, mang từ trong quê ra. Rồi cô
đứng phủi phủi bộ quần áo nâu đang mặc,
sửa sang lại ngay ngắn chiếc khăn nhung đen
vấn quanh đầu. Vừa lúc, người gác cổng
bước đến hỏi cô:
- Bà có việc gì, cần gặp ai?
- Tôi là chị ruột Cụ Hồ. Tôi ra thăm Cụ
một chút rồi tôi về!
Nghe vậy, người gác cổng bảo cô chờ.
Quả nhiên, chờ một chốc là có người ra dẫn
cô vào nhà. Hai chị em gặp nhau sau mấy
chục năm xa cách, người nào cũng nghẹn
ngào xúc động. Chuyện trò được một lát,
khoảng nửa giờ, thấy có người vào trình việc,
biết Cụ Hồ đang phải giải quyết nhiều việc
cần kíp của đất nước khi mới giành được độc
tiếng địa phương gọi là Nguyễn Sinh Cung.
31
lập, cô Thanh về nhà người quen ở phố Hàng
Nón. Hôm biết cô Thanh sắp về quê, Bác Hồ
đang bận rộn quá nhiều công việc, phải nhờ
người đem đến biếu cô mấy mét vải lĩnh để
về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm sau
nhiều năm chị em xa cách giữa lúc đất nước
chìm đắm trong tối tăm, nô lệ. Nay hai chị
em gặp lại trong không khí Tổ quốc đã giành
được chính quyền về tay nhân dân.
Còn ông Cả Khiêm, tức Nguyễn Sinh
Khiêm (tức Nguyễn Tất Đạt), người anh ruột
hơn Bác Hồ hai tuổi, nhưng kém bà Thanh
bốn tuổi, ít lâu sau cũng ra gặp Bác Hồ ở tầng
hai của ngôi nhà số 12 Ngô Quyền. Khi thấy
Bác Hồ trong phòng làm việc bước ra, nhận
rõ là em ruột mình, không nén nổi xúc động,
ông Cả Khiêm bước nhanh đến ôm chầm lấy
Bác, miệng nói lặp đi, lặp lại:
- Chú Cung! Chú Cung! Chú có khỏe
không?
Bác Hồ cũng rất xúc động, ôm chặt lấy
ông Cả Khiêm, áp chòm râu rung rung lên
má người anh ruột của mình nói rất thân
tình:
32
- Anh đã ra thăm em... Đáng lẽ em phải về
thăm anh trước... Anh có khỏe không?
Hai người cứ ôm nhau như vậy, lặng đi
hàng phút, rồi ông Cả Khiêm mới buông tay
và nói tiếp:
- Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo là
chú gầy lắm, công việc bận suốt ngày...
Nói xong, ông Cả Khiêm mở chiếc vali
đan bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam
Xứ Đoài biếu Bác Hồ.
Bác Hồ đỡ lấy cam, cảm động rơm rớm
nước mắt. Nỗi nhớ họ hàng, quê hương trào
lên, Bác đọc luôn câu ca về xứ Nghệ:
Quê ta ngọt mía Nam Đàn
Bụi khoai Chợ Rộ, thơm cam Xứ Đoài
Ai về ai nhớ chăng ai
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh.
*
*
*
Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ tuy hằng ngày
làm việc chính thức tại nhà số 12 Ngô Quyền,
họp Hội đồng Chính phủ, tiếp khách trong
33
nước và quốc tế, nhưng ban đêm rất ít khi
Bác nghỉ tại đây mà về số 8 Lê Thái Tổ, là nhà
của nguyên chánh án Tòa thượng thẩm
Đông Dương, trước là Nhà hàng Thủy Tạ
bây giờ. Hoặc Bác lui tới địa điểm dự bị bí
mật tại Đê La Thành gần chợ Bưởi (từ
tháng 10-1945 đến tháng 4-1946).
Tại nơi ở nhà số 8 Lê Thái Tổ và nhà số 12
Ngô Quyền lúc đó có một số nhân viên phục
vụ chính quyền cũ. Bác Hồ chỉ thị giữ lại cho
họ có việc làm. Tất cả số người này tận tụy
phục vụ chính quyền cách mạng, và sau đó
đi theo kháng chiến. Con cái của họ đều công
tác tiến bộ; có hai người là đại tá Quân đội
nhân dân Việt Nam.
Kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, Bác
tạm sơ tán về làng Vạn Phúc, Hà Đông. Tại
đây, Bác ở, làm việc và ăn ngủ trong một căn
gác xép của một nhà dân. Ban đêm, các đồng
chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên
Giáp... từ Hà Nội vào báo cáo tình hình cho
Bác, rồi lại trở về Hà Nội. Chính tại căn gác
xép ở làng Vạn Phúc này, với ngọn đèn dầu
leo lét, chiếc bút sắt, cái bàn gỗ cũ, ngày 1934
12-1946, Bác Hồ đã viết lời kêu gọi Toàn quốc
kháng chiến: ... Chúng ta thà hy sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!1.
Ngày 19-12-1946, lúc 18 giờ 45 phút, Bác
Hồ và anh em giúp việc rời làng Vạn Phúc,
mang balô, máy chữ và những thứ cần thiết
lên Xuyên Dương, Cần Kiệm, Sài Sơn. Rồi từ
Sài Sơn, Hà Nội, đi lần lên chiến khu Việt Bắc
để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiến
hành cuộc kháng chiến chín năm chống thực
dân Pháp xâm lược.
Trong những năm tháng đầy gian khổ và
kiên cường đó, do hoàn cảnh giữ bí mật phải
sơ tán luôn, Bác đó di chuyển nơi ở và làm
việc tới 30 địa điểm trên địa bàn của các tỉnh
Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao
Bằng, Bắc Kạn... Thay đổi chỗ ở luôn, cũng có
nghĩa là mỗi lần đến địa điểm mới lại phải
làm nhà mới. Thời gian đầu chưa có người
1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.
35
biết làm nhà, anh em giúp việc Bác chỉ dựng
tạm tre nứa như một túp lều để ở. Sau đó Cơ
quan 41 (C.Q41) bổ sung thêm các đồng chí
Cần, Kiệm công tác tại Ban xây dựng An toàn
khu Trung ương là hai thợ mộc khéo tay; việc
làm nhà đỡ vất vả hơn. Mỗi lần chuyển đến
địa điểm mới, anh em giúp việc thường cố
gắng đáp ứng yêu cầu của Bác là chỉ cần một
mái lán tranh xinh xinh, dưới tán cây cao,
gần sông hoặc suối thì càng tốt. Dần dần anh
em làm nhà cho Bác theo kiểu nhà sàn ở miền
núi, Bác rất thích nhưng chỉ cho làm vừa đủ ở
và làm việc. Nhà sàn đó, tầng dưới dùng làm
việc ban ngày; tầng trên dùng làm việc và
nghỉ ban đêm. Kiểu nhà sàn này tránh được
khí hậu ẩm thấp và phòng thú dữ bất ngờ tấn
công. Ngôi nhà sàn ấy chiều cao mỗi tầng có
thể đứng nhón chân với tay được; chiều
ngang thì đưa tay sang phải, đưa tay sang
trái là có thể lấy được các vật dụng gài trên
vách. Từng tầng tuy đơn sơ, nhưng vẫn có
cái bàn con và mấy chiếc ghế đơn giản. Đồ
dùng của Bác cũng giản dị, chỉ có cái chăn
chiên, cái màn một, vài bộ quần áo... Cho nên
36
khi phải di chuyển chỉ việc lấy quần áo, màn
cuộn vào cái chăn thành một gói nhỏ. Số tài
liệu cần thì đựng trong chiếc túi vải Bác
mang lấy. Bác chỉ để anh em giúp việc mang
hộ chiếc máy chữ. Nơi Bác ở lâu nhất khoảng
hơn năm tháng là Khấu Lấu, Tuyên Quang,
và Điềm Mặc, Định Hóa, Thái Nguyên (từ
tháng 5 đến tháng 10-1947). Tổng cộng trong
chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
Bác Hồ và bộ phận giúp việc cho Bác đã ở các
địa điểm thuộc tỉnh Thái Nguyên là 19 tháng,
thuộc tỉnh Tuyên Quang là 5 năm, 10 tháng...
Có địa điểm ở rồi chuyển đi, năm sau lại trở
về, như: Khuôn Tát (Thái Nguyên) ba lần;
Khấu Lấu (Tuyên Quang) bốn lần... Dạo ở
Khấu Lấu, Sơn Dương, Tuyên Quang, nhà
sàn của Bác được làm gần sông, dưới tán cây
rừng ken dày lá. Có vạt đất rộng, bằng, làm
được sân bóng chuyền để chiều chiều sau khi
làm việc căng thẳng, Bác có điều kiện chơi
bóng chuyền. Cạnh sân bóng chuyền Bác cho
làm một dãy bàn tre. Hai bên bàn tre là hai
dãy ghế dài dùng làm nơi ngồi nghỉ cho
những “cầu thủ” trong khi tập, vừa là chỗ
37
tiếp khách khi cần, vừa làm nơi ăn cơm của
Bác và số anh em giúp việc. Dưới gầm nhà
sàn có đường hào đi ra hầm trú ẩn. Những
quả bầu, quả bí do Bác trồng được quanh nhà
sàn thì để gần nhà bếp nấu ăn. Bác thường
nói với anh em giúp việc:
- Trồng bầu, trồng bí là nhanh thu
hoạch, cho ta ăn được cả hoa, lá, quả. Nếu
phải chuyển địa điểm đến nơi khác thì để
lại cây tăng gia được cho bà con khác.
Hàm ý của Bác dạo đó là giáo dục mọi
người luôn quán triệt tư tưởng đánh địch lâu
dài: “Trường kỳ kháng chiến, nhất định
thắng lợi”. Cho nên mỗi lần một vài cán bộ
của các ngành, đơn vị có dịp đến báo cáo
công việc cho Bác nghe, gặp lúc vào mùa quả,
trước khi ra về, thường được Bác tặng, người
thì quả bầu, người thì quả bí. Vừa tặng, Bác
vừa nói rất tự nhiên:
- Chú cầm về..., góp thêm cải thiện bữa
ăn.
*
*
38
*
Cuộc kháng chiến chín năm chống thực
dân Pháp xâm lược thắng lợi. Ngày 10-101954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng. Bác
Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ về lại Thủ
đô. Để đề phòng âm mưu phá hoại của địch,
Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ Chính trị
cùng Văn phòng Trung ương Đảng đến ở
tạm tại nhà thương Đồn Thủy của Pháp, nay
là Bệnh viện Hữu nghị và Bệnh viện Quân
đội 108. Trong thời gian đó, Văn phòng
Chính phủ và Văn phòng Trung ương Đảng
giao cho một số anh em chuẩn bị nơi ở và nơi
làm việc cho Bác và Trung ương. Do biết là
Bác Hồ không chịu về ở và làm việc t...
1
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện
Quốc gia Việt Nam
Hồng Khanh
Chuyện thường ngày của Bác Hồ/Hồng
Khanh. - Tái bản. - H.: Chính trị Quốc gia, 2015. 184tr. ; 19cm
1. Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Cách mạng, chính
trị gia, 1890-1969, Việt Nam 2. Truyện kể
959.704092 - dc23 CTH0238p-CIP
2
Mã số:
3K5H6
CTQG2015
3
HỒNG KHANH
CHUYỆN THƯỜNG NGÀY CỦA BÁC HỒ
(Tái bản có sửa chữa, bổ sung)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2015
4
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo
đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng,
người cộng sản vĩ đại, anh hùng giải phóng
dân tộc, nhà văn hóa lớn, nhưng đồng thời
cũng là một con người bình dị, gần gũi, ai
cũng có thể học và làm theo, đặc biệt về
phong cách của Bác.
Trong đời sống hằng ngày, ngoài những
lúc làm việc và tiếp khách, Bác thường tranh
thủ đi thăm, chuyện trò thân tình với các cụ
già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào các địa
phương để nắm tình hình và tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân. Bác đến với mọi người
một cách rất tự nhiên và bình dị. Điều đó đã
trở thành một nhu cầu, một nếp sống, trở
thành điều tâm niệm suốt đời của Người.
6
Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự
thật xuất bản cuốn sách: Chuyện thường ngày
của Bác Hồ của Nhà báo Hồng Khanh Nguyên Ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
Cuốn sách được khởi thảo năm 2003 và
liên tục được tái bản tại Nhà xuất bản Thanh
niên, lần xuất bản gần đây nhất là năm 2011
tại Nhà xuất bản Thế giới. Thông qua lời kể
của các đồng chí nguyên là cận vệ của Bác,
Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại những câu
chuyện thường ngày của Bác theo các chủ đề:
Người giúp việc; Những nơi ở; Khi mặt trời lên;
Cách ăn mặc; Ngoài giờ làm việc; Đến với dân;
Đêm xuống; Giấc ngủ ngon lành. Mỗi câu
chuyện đều thể hiện phong cách giản dị, gần
gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối sống, tác
phong quần chúng thường ngày của Bác luôn
là chuẩn mực nhân cách con người cách
mạng nhưng lại không xa lạ với mỗi con
người bình thường, mà ai cũng có thể soi
mình, học tập, noi theo.
7
Cuốn sách mỏng, nội dung phong phú, dễ
hiểu, rất bổ ích cho những ai muốn quan tâm
nghiên cứu, tìm hiểu về Bác Hồ và đạo đức,
tác phong của Bác.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng
bạn đọc.
Tháng 4 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
8
LỜI GIỚI THIỆU
Sáng kiến của tác giả Hồng Khanh viết
cuốn sách về Chuyện thường ngày của Bác Hồ
chắc chắn được đông đảo bạn đọc hoan
nghênh. Cuốn sách này gúp phần vào việc
giúp thế hệ trẻ tìm hiểu về con người vĩ đại
của dân tộc ta qua đời thường bằng những
mẩu chuyện sinh động. Một nét nổi bật trong
cuộc sống đời thường thể hiện sự cao thượng
của Bác Hồ là sự giản dị, gần gũi với mọi
người, sống và làm việc như đồng bào, đồng
chí.
Những chuyện kể cũng cho chúng ta thấy
những người là nhân chứng đã phục vụ Bác
Hồ trên 20 năm Người làm Chủ tịch nước.
Những nhân chứng này cũng nêu gương
sáng về tinh thần phục vụ Tổ quốc bằng sự
săn sóc chu đáo người lãnh đạo của nhân dân
9
ta.
Đồng chí Hồng Khanh là nhà báo lâu năm
của báo Nhân dân. Trong thời gian kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Hồng Khanh là phóng
viên của một tờ báo ở Vĩnh Linh viết nhiều
cho báo từ tuyến lửa ở dưới địa đạo. Sau
chiến tranh, đồng chí viết về lĩnh vực kinh tế
với những bài điều tra và bình luận sắc sảo.
Là một nhà báo chiến sĩ, từng trải qua gian
khổ, thử thách, Hồng Khanh là người có thể
đảm trách những bài viết quan trọng của
cuốn sách này.
Ngày 11 tháng 6 năm 2003
HOÀNG TÙNG, Nguyên Bí thư Trung ương
Đảng
Cộng
sản
Việt
Nam,
nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân
10
NGƯỜI GIÚP VIỆC
Người ta sinh ra ở đời, dù làm đến chức
cao nhất nước, hay chỉ là người dân bình
thường, hằng ngày đều phải ăn, mặc, ở, đi
lại, làm việc, tiếp xúc với mọi người... Những
sinh hoạt thường ngày không thể thiếu ấy
được thể hiện cầu kỳ hay giản dị, lịch sự hay
buông thả, xa hoa hay tiết kiệm, đài các hay
bình dân..., phụ thuộc một phần điều kiện
vật chất, hoàn cảnh xã hội, nhưng phần lớn
hơn có tính quyết định là phụ thuộc ý thức,
tư tưởng và ý chí rèn luyện không ngừng của
con người đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà cách mạng lỗi
lạc, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt
Nam. Người đã sáng lập Đảng Cộng sản
Việt Nam, Mặt trận, Nhà nước và Quân đội
nhân dân Việt Nam anh hùng. Bao nhiêu
sách báo trong nước và ngoài nước đã, đang
và tiếp tục viết về sự nghiệp hoạt động cách
mạng, tư tưởng và cả cuộc sống sinh hoạt
thường ngày của Người.
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945
11
thành công đến ngày Người đi xa (2-9-1969),
khoảng xấp xỉ trên một phần tư thế kỷ ấy,
đất nước Việt Nam gặp biết bao thăng trầm,
sóng gió, nhưng dưới tay lái vững vàng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng
Việt Nam vẫn tiến lên vượt mọi khó khăn
gian khổ, giành hết thắng lợi này đến thắng
lợi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh - một con
người Việt Nam không những vĩ đại trong tư
tưởng, trong sự nghiệp vì dân, vì nước, mà
còn vĩ đại, mẫu mực cả trong nếp sống
thường ngày.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời. Để giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Chính phủ điều hành đất nước, Văn phòng
Phủ Thủ tướng được hình thành, trong đó có
một bộ phận đặc biệt, bước đầu gồm tám
người được phân công phục vụ trực tiếp Bác
Hồ về các công việc sự vụ hằng ngày từ hành
chính, cận vệ, chăm sóc sức khỏe đến lái xe...
Sáng ngày 6-3-1947, tại một địa điểm sơ
tán ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú
Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tám đồng chí
12
trực tiếp giúp việc cho Người ngồi bàn công
tác “quân sự hóa”. Nghĩa là cơ quan giúp
việc cho Bác phải gọn, nhẹ, cơ động, bí mật,
nhanh chóng, đi không ai biết, đến không ai
hay. Cho nên mỗi người phải có một cái
balô. Ngoài ra, thêm một cái balô đựng máy
chữ của Bác Hồ mang từ Hà Nội lên. Khi ấy,
các đồng chí trực tiếp giúp việc cho Người
được coi là cán bộ Văn phòng Chủ tịch nước,
hoặc Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, là
một bộ phận đặc biệt thuộc biên chế Văn
phòng Chủ tịch nước. Bởi lẽ, sau Tổng tuyển
cử ngày 6-1-1946, Quốc hội khóa I của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu Người làm
Chủ tịch nước kiêm luôn Thủ tướng Chính
phủ1. Bộ phận này trong suốt thời gian ở
chiến khu Việt Bắc, để bảo đảm bí mật,
thường được gọi là C.Q41, nghĩa là cơ quan
41. Con số 41 là lấy hai số cuối của năm
1941, năm Bác Hồ về nước sau 30 năm bôn
1. Mãi tới tháng 8-1949 mới có Phó Thủ tướng Phạm
Văn Đồng ở bên Bác; đến tháng 9-1955, đồng chí Phạm Văn
Đồng mới là Thủ tướng.
13
ba nước ngoài tìm đường cứu nước.
Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí
đang ngồi quanh Người, bỗng càng lấy làm
phấn khởi khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh âu
yếm nhìn từng người một. Đó là các đồng
chí: Võ Chương, quê ở Thừa Thiên Huế,
nguyên là giáo viên, hoạt động Việt Minh tại
Thanh Hóa, Hà Nội, sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 trở thành chiến sĩ trong đội tự
vệ cứu quốc thành Hoàng Diệu, được chọn
bổ sung vào tổ cận vệ Bác Hồ. Đồng chí
Nguyễn Cần, quê ở Thường Tín, Hà Nội,
từng tham gia Thanh niên phản đế Trường
Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật thám Pháp bắt giam
ở Hỏa Lò năm 1943, tháng 3-1945 vượt ngục,
trở về công tác tại nội thành Hà Nội. Đồng
chí Nguyễn Văn Lý, quê ở tỉnh Thái Bình,
tham gia hoạt động cách mạng trong phong
trào công nhân từ trước năm 1940, bị địch bắt
giam ở Sơn La, Thái Nguyên, rồi vượt ngục
trở về hoạt động ở căn cứ địa Tân Trào, tỉnh
Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn,
quê ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong
phong trào Thanh niên cứu quốc Hà Nội,
14
cuối năm 1945 được tuyển vào tổ cận vệ Bác
Hồ. Đồng chí Hoàng Văn Lâm, người dân tộc
Tày ở Lạng Sơn, sớm giác ngộ cách mạng.
Đồng chí Chu Phương Vương, người dân tộc
Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho Bác
từ tháng 7-1945. Các đồng chí Nguyễn Quang
Chí, Trần Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao
Bằng, là chiến sĩ giải phóng quân, giúp việc
cho Bác trước tháng 8-1945 ở khu giải phóng
Việt Bắc.
Cả tám đồng chí nói trên đang im lặng thì
bỗng thấy Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang
phải theo thứ tự từng đồng chí đang ngồi sát
nhau theo hình vòng tròn, vừa nhẹ nhàng
nói:
- Từ hôm nay, Bác đặt tên cho mỗi chú
như sau: Chú Võ Chương là Trường; chú
Nguyễn Cần là Kỳ; chú Nguyễn Văn Lý là
Kháng; chú Nguyễn Hữu Văn là Chiến; chú
Hoàng Văn Lâm là Nhất; chú Chu Phương
Vương là Định; chú Nguyễn Quang Chí là
Thắng; chú Trần Đình là Lợi.
Nói xong, lặng im giây lát, Bác lại nhắc
tên tám đồng chí vừa mới đặt: Trường, Kỳ,
15
Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi.
Rồi Bác nhẹ nhàng hỏi một câu:
- Các chú có biết tại sao Bác đặt tên các
chú như vậy không?
Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ,
chưa ai lên tiếng. Bác giải thích luôn:
- Nhân dân ta vừa giành được chính
quyền chưa bao lâu thì đã phải bước vào cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của Bác là
cùng với Đảng, Chính phủ lãnh đạo nhân dân
ta tiến hành cuộc kháng chiến đến ngày thắng
lợi. Bác đặt tên các chú theo khẩu hiệu
“Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”
là để hằng ngày Bác gọi đến tên các chú, hay
nhớ đến các chú là nhắc nhở Bác phải lo làm
sao tìm mọi mưu kế, biện pháp để hoàn thành
bằng được nhiệm vụ cao cả đó.
Niềm vinh dự, tự hào được Chủ tịch nước
đặt tên mình gắn với ý chí và quyết tâm của
toàn dân tộc đang bước vào cuộc trường kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
đầy gian khổ nhưng nhất định thắng lợi càng
thôi thúc tám đồng chí không ngừng vươn
16
lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, trong tiếp xúc
hằng ngày, hai tiếng “Bác Hồ” chính thức
được gọi thay cho năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí
Minh” với cả tấm lòng kính trọng, biết ơn,
gần gũi và thương yêu vô hạn. Đối với
những người được vinh dự trực tiếp giúp
việc cho Bác Hồ càng hết sức vui mừng được
Bác gọi bằng “chú” với cả tình thương ân
cần, trìu mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có
chút cách biệt. Nhiều đồng chí đã lấy tên Bác
đặt cho mình làm tên chính thức suốt đời,
như Kỳ là đồng chí Vũ Kỳ - tức Nguyễn Cần;
Kháng là đồng chí Hoàng Hữu Kháng - tức là
Nguyễn Văn Lý; Chiến là đồng chí Tạ Quang
Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn...
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược bước sang giai đoạn chuẩn bị
cho tổng phản công, khối lượng công việc ở
C.Q41 càng bề bộn, khẩn trương. Người nào
cũng làm việc chăm chỉ, ít được ngơi nghỉ,
hòa trong khí thế sôi động từ các chiến
trường Bắc - Trung - Nam dội về nơi làm việc
của Bác. Và càng náo nức, hồ hởi khi được
Bác gợi ý là nên có một số chú đi xuống cơ sở
17
dài ngày để vừa hiểu biết thực tế cuộc sống
chiến đấu gian khổ nhưng rất anh dũng của
đồng bào, đồng chí, vừa có dịp học tập, rèn
luyện, góp phần phát huy khả năng của mình
vào sự nghiệp cách mạng. Bác còn nhấn
mạnh nếu chú nào cũng cứ ngồi hoài ở văn
phòng để nắm tình hình qua các bản báo cáo
hoặc điện thoại ở dưới gọi lên thì làm sao
hiểu được thực tế, làm sao tiến kịp theo đà
phát triển chung. Thực tế, ở cơ sở cũng là
một trường học để rèn luyện mình. Ít hôm
sau, được đồng chí Trường Chinh cho biết là
Bác đã đưa gợi ý đó ra trước Thường vụ
Trung ương Đảng và được Thường vụ rất
đồng tình. Thế là cả C.Q41 càng lấy làm phấn
chấn và tích cực hưởng ứng gợi ý của Bác.
Không bao lâu sau, đồng chí Vũ Kỳ được về
Hà Nội làm công tác “địch vận”. Khi chuẩn
bị mở chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1953,
Bác lại chỉ đạo cho đồng chí Vũ Kỳ đi vào lực
lượng thanh niên xung phong, phụ trách
Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương.
Cũng trong thời gian bí mật, khẩn trương,
náo nức đó, một số đồng chí của C.Q41 cũng
18
rời văn phòng xuống cơ sở, như đồng chí Tạ
Quang Chiến xuống phụ trách Đội Thanh
niên xung phong tại “An toàn khu”. Đồng
chí Hoàng Hữu Kháng làm Trưởng Ban tiếp
tế An toàn khu Trung ương, Cục trưởng Cục
Cảnh vệ Bộ Công an... Số đồng chí ở lại giúp
Bác càng làm việc bận rộn hơn. Thông cảm
với hoàn cảnh đó, những khi chưa có người
bổ sung kịp, Bác vừa thảo công văn, chỉ thị,
vừa tự đánh máy lấy. Một không khí làm
việc sôi động, hồ hởi, không quản mệt nhọc,
tất cả vì cơ sở, vì tiền tuyến và chiến thắng.
Những đồng chí do yêu cầu công việc phải
chuyển sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho
đồng chí mới được bổ sung như tên đồng
chí đã chuyển. Câu khẩu hiệu “Trường kỳ
kháng chiến, nhất định thắng lợi” luôn ở bên
Bác. Vì thế, khi kháng chiến thắng lợi đã có
ba đồng chí mang tên Trường, hai đồng chí
mang tên Nhất, hai đồng chí mang tên Thắng.
Một số đồng chí bổ sung trong hai năm 1948
- 1949 được Bác đặt tên mang những ý nghĩa
mới: Trung, Dũng, Đồng, Tâm, Kiên, Quyết,
Tiết, Kiệm.
19
Một hôm, trong không khí hòa bình, mới
về lại Thủ đô Hà Nội, nhân lúc Bác cháu
đang nói chuyện vui sau bữa cơm chiều, một
đồng chí quá lạc quan, đề nghị với Bác:
- Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình
mới, xin Bác cho đổi tên của hai đồng chí
Kháng và Chiến thành hai tên Hòa và Bình!
Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt hơi
nghiêm:
- Có kháng chiến mới có hòa bình. Song
hiện nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải
chuẩn bị kháng chiến ở miền Nam, vì kẻ địch
chưa dễ gì ngoan ngoãn làm theo Hiệp định
Giơnevơ năm 1954. Chớ có chủ quan!
Quả câu nói của Bác là một lời tiên tri.
Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Hai mươi
năm sau, giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc.
Kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên
Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Bác Hồ,
Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu
Việt Bắc, ngày 10-10-1954 về lại Thủ đô Hà
Nội. Các đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến
lần lượt được trở lại giúp việc cho Bác Hồ. Từ
20
đấy, trong hoàn cảnh miền Bắc được giải
phóng, miền Nam còn tạm thời trong tay
địch, tính chất công việc ở bộ phận trực tiếp
giúp Bác lại càng đòi hỏi mỗi người làm việc
sâu sát hơn, tỉ mỉ hơn, chính xác hơn, hiệu
quả hơn. Một số đồng chí mới rút từ Văn
phòng Trung ương Đảng và một vài địa
phương lần lượt được điều động, bổ sung
vào bộ phận giúp việc cho Bác, như các đồng
chí Đinh Văn Cẩn, Lê Văn Nhượng (bổ sung
năm 1950), Cù Văn Chước, Lê Hữu Lập, Trần
Văn Vượng, Nguyễn Văn Mùi, Lưu Quang
Lập, Ngô Văn Các, Hoàng Tấn Quang... Tất
cả gồm hơn mười người. Nếu kể tách bạch ra
thì công tác văn thư chỉ có bốn người, kể cả
đồng chí Vũ Kỳ. Số đồng chí khác được phân
công: người lo đánh máy, người làm cần vụ,
người lo nấu ăn, người lái xe, người làm
vườn, người tiếp khách, phục vụ hội nghị do
Bác chủ trì... Phân công chuyên môn như
vậy, nhưng khi cần thiết là có sự hỗ trợ công
việc lẫn nhau trong từng bộ phận văn thư
hoặc hậu cần. Bộ phận bảo vệ tiếp cận Bác
thuộc Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. Về tổ chức,
21
tài vụ, công tác đảng, văn phòng phẩm,
lương cán bộ, nhân viên của số anh em giúp
việc cho Bác đều do Văn phòng Phủ Thủ
tướng phụ trách. Khi Bác đón những đoàn
khách lớn nước ngoài hoặc tổ chức tiệc tùng
chiêu đãi thì chuyển giao cho các bộ phận
giao tế hoặc Bộ Ngoại giao đảm nhiệm.
Hơn chục anh em trực tiếp giúp việc cho
Bác chỉ lo làm sao bảo đảm được mọi nhu cầu
về vật chất và tinh thần cần thiết hằng ngày
của Bác để Bác vừa có thêm thời gian lo việc
dân, việc nước, vừa còn có thể thư giãn, nghỉ
ngơi, giải trí. Anh em thường nói với nhau:
“Sức khỏe của Bác là tài sản quốc gia”. “Ngày
nào Bác cũng vui, cũng khỏe, cũng thanh
thản là mong ước của đồng bào cả nước”. Vì
vậy, hơn chục anh em này đều chí thú lo toan
công việc được giao. Và mỗi khi Bác đi công
tác xa vài ba ngày trở lên, Bác không quên
nhắc đồng chí phụ trách có thể cho anh em
thay nhau về nghỉ với vợ con, gia đình, quê
hương. Sự quan tâm dù nhỏ ấy của Bác càng
động viên anh em phấn khởi làm việc hết
mình.
22
*
*
*
Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ XXI.
Tôi lần lượt tìm đến nhà riêng của những
đồng chí đó có thời gian gần gũi giúp việc
Bác. Với dụng ý, qua các nhân chứng đặc biệt
này, có thể được biết thêm về những công
việc sinh hoạt thường ngày của Bác Hồ. Nhất
là trong suốt thời gian 24 năm Người làm
Chủ tịch nước, bận trăm công nghìn việc của
Đảng, của Chính phủ, của chế độ dân chủ
cộng hòa mới ra đời và hình thành. Hằng
ngày, Bác vẫn rèn luyện, xây dựng cho mình
một phong cách sống thư thái, giản dị, trong
sáng, mẫu mực, hết lòng vì dân, vì nước.
Trong số tám đồng chí đầu tiên giúp việc
cho Bác Hồ mà đã vinh dự được Người đặt
tên “Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định,
Thắng, Lợi” thì đến năm 2001 đã có sáu đồng
chí nối tiếp nhau theo Bác Hồ về cõi vĩnh
hằng trong những năm cuối của thế kỷ XX.
Hai đồng chí còn lại, ít tuổi nhất so với các
23
đồng chí kia, là đồng chí Vũ Kỳ, tuổi đã
ngoài 80, sức khỏe có giảm, nhưng vẫn tỉnh
táo, minh mẫn; đồng chí Tạ Quang Chiến,
tuổi đã 77, trời cho còn khỏe mạnh, hồng hào,
nói năng lưu loát. Các đồng chí bổ sung sau
năm 1954, khi miền Bắc đã được giải phóng,
tuổi cũng đã trên dưới 70. Nhưng may mắn
thay là đồng chí nào cũng còn nhanh nhẹn,
hoạt bát. Điều rất mừng là khi kể lại, đồng
chí nào cũng còn nhớ khá đậm nét những kỷ
niệm về công việc và sinh hoạt thường ngày
của Bác Hồ mà các đồng chí đó, cũng như các
đồng chí tiền nhiệm đã kể lại, được vinh dự ở
bên Người, giúp việc cho Người trong suốt
những năm tháng Người nhận trách nhiệm
cao cả trước Đảng, trước nhân dân là làm
Chủ tịch nước.
Cuốn sách này chủ yếu ghi lại những lời kể
về cuộc sống đời thường: ăn, mặc, ở, đi lại, giải
trí, rèn luyện sức khỏe của Bác Hồ mà các
đồng chí giúp việc cho Người từng chứng
kiến. Những việc thường ngày ấy cũng là
một yếu tố rất quan trọng góp phần quyết
định tạo nên con người Hồ Chí Minh với ý
24
nghĩa đầy đủ, tuyệt vời cả tài - đức - trí - lực.
Qua đó, giúp chúng ta hiểu thêm về phong
cách, phẩm chất, tư tưởng nhất quán trong
mục đích, hướng đi, sự nghiệp cách mạng
của Bác Hồ - vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu
của dân tộc Việt Nam đã suốt đời hy sinh
quên mình cho cách mạng, cho sự ấm no, tự
do, hạnh phúc của nhân dân.
Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi sắp
xếp nội dung các câu chuyện theo thứ tự sau:
- Những nơi ở
- Khi mặt trời lên
- Cách ăn mặc
- Ngoài giờ làm việc
- Đến với dân
- Đêm xuống
- Giấc ngủ ngon lành.
TÁC GIẢ
Hồng Khanh
25
NHỮNG NƠI Ở
Các đồng chí kể rằng, nếu tính từ ngày rời
căn cứ cách mạng Tân Trào, lần đầu tiên Bác
về Hà Nội, vào nội thành là chiều thứ bảy,
ngày 25-8-1945, tức ngày 18-7 năm Ất Dậu.
Ngày đó, Hà Nội mới giành được chính
quyền trọn một tuần, đang trong khí thế sục
sôi Cách mạng Tháng Tám. Phố xá treo đầy
cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ “Ủng hộ Việt
Minh!”, “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Vào
lúc sâm sẩm tối, tại làng Phú Gia, cạnh sông
Hồng, đồng chí Trường Chinh đã đến chờ
sẵn để đón Bác. Chiếc xe Ford cũ màu đen
đưa Bác từ Phú Gia chạy dọc theo đê sông
Hồng, về Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than,
qua phố Chả Cá, đến trước số nhà 35 Hàng
Cân, rồi rẽ vào phía trong có cửa phụ. Đến
đây, xe ô tô dừng lại. Bác xuống xe. Đồng chí
26
Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng, mời
Bác vào nhà, lên gác hai là nơi Thường vụ
Trung ương Đảng bố trí Bác đến ở. Ngôi
nhà này xây ba tầng, khá cao giữa phố cũ Hà
Nội, của một thương gia lớn là ông bà Trịnh
Văn Bô. Nhà có cửa chính phía trước mang
biển số 48 phố Hàng Ngang. Cửa chính bằng
sắt chắc chắn, rất thuận lợi cho công tác bảo
vệ. Gác hai của ngôi nhà này có một căn
phòng rộng mà chủ nhà dựng làm phòng ăn.
Giữa phòng kê một bàn gỗ dài, to. Quanh
bàn có tám ghế tựa đệm mềm. Bộ bàn ghế
này là nơi Bác Hồ thường làm việc với các
đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối
phòng, ở sát tường phía sau, kê một chiếc
bàn tròn mà Bác và số đồng chí giúp việc cho
Bác thường dùng làm chỗ ngồi ăn sáng và ăn
cơm bữa tối. Bác Hồ thường ngồi suy nghĩ,
làm việc, hoặc đánh máy ở chiếc bàn con kê
sát tường góc phía trong. Mặt bàn này hình
vuông, bọc da màu xanh lá mạ, vừa đủ để
tập giấy, bút và chiếc máy chữ nhỏ, cũ, mang
từ căn cứ cách mạng Tân Trào về. Chính tại
gác hai ngôi nhà này, Bác Hồ đã trầm ngâm
27
suy nghĩ phác thảo nên bản Tuyên ngôn độc
lập lịch sử.
Ngày 29-8, Bác Hồ và một số đồng chí
giúp việc được Trung ương bố trí đến ở và
làm việc tại nhà số 12 Ngô Quyền, cạnh
vườn hoa Chí Linh, nơi trước đó là dinh của
Thống sứ Bắc Kỳ, nay là Nhà khách Chính
phủ.
Ngày 31-8, để chuẩn bị cho lễ ra mắt
Chính phủ Cách mạng lâm thời trước quốc
dân đồng bào, Bác hỏi anh em giúp việc:
- Nơi dự định họp míttinh như thế nào?
Các chú thử vẽ phác qua cho Bác xem.
Xem xong sơ đồ, Bác hỏi:
- Liệu chứa được bao nhiêu người?
- Dạ! Thưa Bác khoảng vài vạn người!
Bác hỏi thêm:
- Đã bố trí chỗ đồng bào đi vệ sinh chưa?
Thấy anh em nhìn nhau hơi lúng túng,
đoán là chưa nghĩ đến, Bác gợi ý ngay:
- Việc đó tuy nhỏ, nếu không chú ý bố trí
cho tốt thì dễ mất trật tự.
Theo gợi ý thêm của Bác, mọi công việc
28
chuẩn bị cho cuộc míttinh được tiến hành
khẩn trương, hoàn thành chu tất.
Đúng ngày 2-9-1945, trước hàng vạn đồng
bào, đồng chí tập trung ở Quảng trường Ba
Đình, thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm
thời, Bác Hồ trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn
độc lập. Đang đọc, bỗng Bác dừng lại hỏi một
câu:
- Tôi nói đồng bào nghe rõ không?
Cả biển người cả trai, gái, trẻ, già, ăn mặc
đủ màu sắc, đồng thanh trả lời: “Nghe rõ!
Nghe rõ!”.
Bác trịnh trọng tuyên bố tiếp với đồng bào
Thủ đô thay mặt nhân dân cả nước và qua
làn sóng phát thanh truyền ra thế giới: “...
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp
hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân
tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
lập!... Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả
tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để
giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”1.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
29
Từ đó, trong không khí đất nước hồ hởi
giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác
Hồ và các đồng chí lãnh đạo càng bộn bề
mọi công việc. Số nhà 12 Ngô Quyền không
những là nơi ở và làm việc của Bác, mà còn là
điểm tìm đến của bao nhân sĩ, trí thức, người
giàu có và nhân dân lao động để góp phần
đem sự hiểu biết, lòng trung thành và của cải,
sức lực của mình ra sức xây dựng và bảo vệ
chính quyền cách mạng non trẻ do Bác Hồ
lãnh đạo. Ít lâu sau, chính tại nơi ở 12 Ngô
Quyền này, một sự việc hết sức đặc biệt đã
xảy ra, bất ngờ sau hơn ba thập kỷ anh chị
em ruột xa nhau. Đó là sau khi lần đầu tiên
thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà con họ
hàng bên nội ở làng Kim Liên, bên ngoại ở
làng Hoàng Trù, thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An, bàn tán nhau nửa tin, nửa ngờ:
“Phải chăng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn
Ái Quốc, là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn
Sinh Cung?”1. Để rõ sự thật, bà con cả hai bên
2011, t.4, tr.3.
1. Tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ là Nguyễn Sinh Cung,
30
nội ngoại liền cử cụ Thanh, tên thật là
Nguyễn Thị Bích Liên - chị gái Bác Hồ, khăn
gói lên đường ra Hà Nội xem sao.
Khi đến cổng số 12 Ngô Quyền, cô Thanh
để tạm xuống đất hai con vịt và chiếc bị cói
trong đựng vài chục quả trứng gà xung
quanh phủ trấu, mang từ trong quê ra. Rồi cô
đứng phủi phủi bộ quần áo nâu đang mặc,
sửa sang lại ngay ngắn chiếc khăn nhung đen
vấn quanh đầu. Vừa lúc, người gác cổng
bước đến hỏi cô:
- Bà có việc gì, cần gặp ai?
- Tôi là chị ruột Cụ Hồ. Tôi ra thăm Cụ
một chút rồi tôi về!
Nghe vậy, người gác cổng bảo cô chờ.
Quả nhiên, chờ một chốc là có người ra dẫn
cô vào nhà. Hai chị em gặp nhau sau mấy
chục năm xa cách, người nào cũng nghẹn
ngào xúc động. Chuyện trò được một lát,
khoảng nửa giờ, thấy có người vào trình việc,
biết Cụ Hồ đang phải giải quyết nhiều việc
cần kíp của đất nước khi mới giành được độc
tiếng địa phương gọi là Nguyễn Sinh Cung.
31
lập, cô Thanh về nhà người quen ở phố Hàng
Nón. Hôm biết cô Thanh sắp về quê, Bác Hồ
đang bận rộn quá nhiều công việc, phải nhờ
người đem đến biếu cô mấy mét vải lĩnh để
về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm sau
nhiều năm chị em xa cách giữa lúc đất nước
chìm đắm trong tối tăm, nô lệ. Nay hai chị
em gặp lại trong không khí Tổ quốc đã giành
được chính quyền về tay nhân dân.
Còn ông Cả Khiêm, tức Nguyễn Sinh
Khiêm (tức Nguyễn Tất Đạt), người anh ruột
hơn Bác Hồ hai tuổi, nhưng kém bà Thanh
bốn tuổi, ít lâu sau cũng ra gặp Bác Hồ ở tầng
hai của ngôi nhà số 12 Ngô Quyền. Khi thấy
Bác Hồ trong phòng làm việc bước ra, nhận
rõ là em ruột mình, không nén nổi xúc động,
ông Cả Khiêm bước nhanh đến ôm chầm lấy
Bác, miệng nói lặp đi, lặp lại:
- Chú Cung! Chú Cung! Chú có khỏe
không?
Bác Hồ cũng rất xúc động, ôm chặt lấy
ông Cả Khiêm, áp chòm râu rung rung lên
má người anh ruột của mình nói rất thân
tình:
32
- Anh đã ra thăm em... Đáng lẽ em phải về
thăm anh trước... Anh có khỏe không?
Hai người cứ ôm nhau như vậy, lặng đi
hàng phút, rồi ông Cả Khiêm mới buông tay
và nói tiếp:
- Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo là
chú gầy lắm, công việc bận suốt ngày...
Nói xong, ông Cả Khiêm mở chiếc vali
đan bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam
Xứ Đoài biếu Bác Hồ.
Bác Hồ đỡ lấy cam, cảm động rơm rớm
nước mắt. Nỗi nhớ họ hàng, quê hương trào
lên, Bác đọc luôn câu ca về xứ Nghệ:
Quê ta ngọt mía Nam Đàn
Bụi khoai Chợ Rộ, thơm cam Xứ Đoài
Ai về ai nhớ chăng ai
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh.
*
*
*
Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ tuy hằng ngày
làm việc chính thức tại nhà số 12 Ngô Quyền,
họp Hội đồng Chính phủ, tiếp khách trong
33
nước và quốc tế, nhưng ban đêm rất ít khi
Bác nghỉ tại đây mà về số 8 Lê Thái Tổ, là nhà
của nguyên chánh án Tòa thượng thẩm
Đông Dương, trước là Nhà hàng Thủy Tạ
bây giờ. Hoặc Bác lui tới địa điểm dự bị bí
mật tại Đê La Thành gần chợ Bưởi (từ
tháng 10-1945 đến tháng 4-1946).
Tại nơi ở nhà số 8 Lê Thái Tổ và nhà số 12
Ngô Quyền lúc đó có một số nhân viên phục
vụ chính quyền cũ. Bác Hồ chỉ thị giữ lại cho
họ có việc làm. Tất cả số người này tận tụy
phục vụ chính quyền cách mạng, và sau đó
đi theo kháng chiến. Con cái của họ đều công
tác tiến bộ; có hai người là đại tá Quân đội
nhân dân Việt Nam.
Kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, Bác
tạm sơ tán về làng Vạn Phúc, Hà Đông. Tại
đây, Bác ở, làm việc và ăn ngủ trong một căn
gác xép của một nhà dân. Ban đêm, các đồng
chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên
Giáp... từ Hà Nội vào báo cáo tình hình cho
Bác, rồi lại trở về Hà Nội. Chính tại căn gác
xép ở làng Vạn Phúc này, với ngọn đèn dầu
leo lét, chiếc bút sắt, cái bàn gỗ cũ, ngày 1934
12-1946, Bác Hồ đã viết lời kêu gọi Toàn quốc
kháng chiến: ... Chúng ta thà hy sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!1.
Ngày 19-12-1946, lúc 18 giờ 45 phút, Bác
Hồ và anh em giúp việc rời làng Vạn Phúc,
mang balô, máy chữ và những thứ cần thiết
lên Xuyên Dương, Cần Kiệm, Sài Sơn. Rồi từ
Sài Sơn, Hà Nội, đi lần lên chiến khu Việt Bắc
để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiến
hành cuộc kháng chiến chín năm chống thực
dân Pháp xâm lược.
Trong những năm tháng đầy gian khổ và
kiên cường đó, do hoàn cảnh giữ bí mật phải
sơ tán luôn, Bác đó di chuyển nơi ở và làm
việc tới 30 địa điểm trên địa bàn của các tỉnh
Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao
Bằng, Bắc Kạn... Thay đổi chỗ ở luôn, cũng có
nghĩa là mỗi lần đến địa điểm mới lại phải
làm nhà mới. Thời gian đầu chưa có người
1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.
35
biết làm nhà, anh em giúp việc Bác chỉ dựng
tạm tre nứa như một túp lều để ở. Sau đó Cơ
quan 41 (C.Q41) bổ sung thêm các đồng chí
Cần, Kiệm công tác tại Ban xây dựng An toàn
khu Trung ương là hai thợ mộc khéo tay; việc
làm nhà đỡ vất vả hơn. Mỗi lần chuyển đến
địa điểm mới, anh em giúp việc thường cố
gắng đáp ứng yêu cầu của Bác là chỉ cần một
mái lán tranh xinh xinh, dưới tán cây cao,
gần sông hoặc suối thì càng tốt. Dần dần anh
em làm nhà cho Bác theo kiểu nhà sàn ở miền
núi, Bác rất thích nhưng chỉ cho làm vừa đủ ở
và làm việc. Nhà sàn đó, tầng dưới dùng làm
việc ban ngày; tầng trên dùng làm việc và
nghỉ ban đêm. Kiểu nhà sàn này tránh được
khí hậu ẩm thấp và phòng thú dữ bất ngờ tấn
công. Ngôi nhà sàn ấy chiều cao mỗi tầng có
thể đứng nhón chân với tay được; chiều
ngang thì đưa tay sang phải, đưa tay sang
trái là có thể lấy được các vật dụng gài trên
vách. Từng tầng tuy đơn sơ, nhưng vẫn có
cái bàn con và mấy chiếc ghế đơn giản. Đồ
dùng của Bác cũng giản dị, chỉ có cái chăn
chiên, cái màn một, vài bộ quần áo... Cho nên
36
khi phải di chuyển chỉ việc lấy quần áo, màn
cuộn vào cái chăn thành một gói nhỏ. Số tài
liệu cần thì đựng trong chiếc túi vải Bác
mang lấy. Bác chỉ để anh em giúp việc mang
hộ chiếc máy chữ. Nơi Bác ở lâu nhất khoảng
hơn năm tháng là Khấu Lấu, Tuyên Quang,
và Điềm Mặc, Định Hóa, Thái Nguyên (từ
tháng 5 đến tháng 10-1947). Tổng cộng trong
chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
Bác Hồ và bộ phận giúp việc cho Bác đã ở các
địa điểm thuộc tỉnh Thái Nguyên là 19 tháng,
thuộc tỉnh Tuyên Quang là 5 năm, 10 tháng...
Có địa điểm ở rồi chuyển đi, năm sau lại trở
về, như: Khuôn Tát (Thái Nguyên) ba lần;
Khấu Lấu (Tuyên Quang) bốn lần... Dạo ở
Khấu Lấu, Sơn Dương, Tuyên Quang, nhà
sàn của Bác được làm gần sông, dưới tán cây
rừng ken dày lá. Có vạt đất rộng, bằng, làm
được sân bóng chuyền để chiều chiều sau khi
làm việc căng thẳng, Bác có điều kiện chơi
bóng chuyền. Cạnh sân bóng chuyền Bác cho
làm một dãy bàn tre. Hai bên bàn tre là hai
dãy ghế dài dùng làm nơi ngồi nghỉ cho
những “cầu thủ” trong khi tập, vừa là chỗ
37
tiếp khách khi cần, vừa làm nơi ăn cơm của
Bác và số anh em giúp việc. Dưới gầm nhà
sàn có đường hào đi ra hầm trú ẩn. Những
quả bầu, quả bí do Bác trồng được quanh nhà
sàn thì để gần nhà bếp nấu ăn. Bác thường
nói với anh em giúp việc:
- Trồng bầu, trồng bí là nhanh thu
hoạch, cho ta ăn được cả hoa, lá, quả. Nếu
phải chuyển địa điểm đến nơi khác thì để
lại cây tăng gia được cho bà con khác.
Hàm ý của Bác dạo đó là giáo dục mọi
người luôn quán triệt tư tưởng đánh địch lâu
dài: “Trường kỳ kháng chiến, nhất định
thắng lợi”. Cho nên mỗi lần một vài cán bộ
của các ngành, đơn vị có dịp đến báo cáo
công việc cho Bác nghe, gặp lúc vào mùa quả,
trước khi ra về, thường được Bác tặng, người
thì quả bầu, người thì quả bí. Vừa tặng, Bác
vừa nói rất tự nhiên:
- Chú cầm về..., góp thêm cải thiện bữa
ăn.
*
*
38
*
Cuộc kháng chiến chín năm chống thực
dân Pháp xâm lược thắng lợi. Ngày 10-101954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng. Bác
Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ về lại Thủ
đô. Để đề phòng âm mưu phá hoại của địch,
Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ Chính trị
cùng Văn phòng Trung ương Đảng đến ở
tạm tại nhà thương Đồn Thủy của Pháp, nay
là Bệnh viện Hữu nghị và Bệnh viện Quân
đội 108. Trong thời gian đó, Văn phòng
Chính phủ và Văn phòng Trung ương Đảng
giao cho một số anh em chuẩn bị nơi ở và nơi
làm việc cho Bác và Trung ương. Do biết là
Bác Hồ không chịu về ở và làm việc t...
 





