GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 9

TRANG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z5547940853696_c22e1de8ba6efc311887a62f5e563901.jpg Z5547940811788_25a94d4644ada0ae8a28a704440d8808.jpg Z5547940810742_117d36aa84d633f50a06fff45e988b07.jpg Z5547929511935_166ec05c4d6c1475f0eb506d54b29b71.jpg Z5547929456682_261a5bed5fad4a97d7dba4b3ec3699d2.jpg Z5547929448801_126266d54659f74f38252045ee8a1acc.jpg Z5547929432436_7e13bc07c3a7a3d8354de847005f90f5.jpg Z5547929424023_6d8abea7541817a8bd661b044a148b2a.jpg Z5547922612174_13666a638e8142e7c46809c9ba6eeba5.jpg Z5547922611148_793b00be8f3385a236984507ea1413b4.jpg Z5547922592137_6e0c82d7662daef7d6093eb879f1c9a2.jpg Z5547922584614_25fd4f958afbba6a7a1e4a5b5ba14fc5.jpg Z5547940768588_fcb6f157dacd8274e8a9169ac6cd4c22.jpg Z5547940757126_7dd7723249b1fa5bcaac7fc0f61a7730.jpg Z5547921981851_835f3a4d0676ff63f0b1af949b5de289.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WELLCOME

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10

    DANH NGÔN VỀ ĐỌC SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH

    GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY

    Chuyện thường ngày của Bác Hồ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phùng Thu Hương
    Ngày gửi: 16h:48' 29-06-2024
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    CHUYỆN THƯỜNG NGÀY CỦA BÁC HỒ

    1

    Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện
    Quốc gia Việt Nam
    Hồng Khanh
    Chuyện thường ngày của Bác Hồ/Hồng
    Khanh. - Tái bản. - H.: Chính trị Quốc gia, 2015. 184tr. ; 19cm
    1. Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Cách mạng, chính
    trị gia, 1890-1969, Việt Nam 2. Truyện kể
    959.704092 - dc23 CTH0238p-CIP

    2

    Mã số:

    3K5H6
    CTQG2015

    3

    HỒNG KHANH

    CHUYỆN THƯỜNG NGÀY CỦA BÁC HỒ
    (Tái bản có sửa chữa, bổ sung)

    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
    HÀ NỘI - 2015

    4

    5

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo
    đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng,
    người cộng sản vĩ đại, anh hùng giải phóng
    dân tộc, nhà văn hóa lớn, nhưng đồng thời
    cũng là một con người bình dị, gần gũi, ai
    cũng có thể học và làm theo, đặc biệt về
    phong cách của Bác.
    Trong đời sống hằng ngày, ngoài những
    lúc làm việc và tiếp khách, Bác thường tranh
    thủ đi thăm, chuyện trò thân tình với các cụ
    già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào các địa
    phương để nắm tình hình và tâm tư, nguyện
    vọng của nhân dân. Bác đến với mọi người
    một cách rất tự nhiên và bình dị. Điều đó đã
    trở thành một nhu cầu, một nếp sống, trở
    thành điều tâm niệm suốt đời của Người.
    6

    Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, học
    tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
    Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự
    thật xuất bản cuốn sách: Chuyện thường ngày
    của Bác Hồ của Nhà báo Hồng Khanh Nguyên Ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
    Cuốn sách được khởi thảo năm 2003 và
    liên tục được tái bản tại Nhà xuất bản Thanh
    niên, lần xuất bản gần đây nhất là năm 2011
    tại Nhà xuất bản Thế giới. Thông qua lời kể
    của các đồng chí nguyên là cận vệ của Bác,
    Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại những câu
    chuyện thường ngày của Bác theo các chủ đề:
    Người giúp việc; Những nơi ở; Khi mặt trời lên;
    Cách ăn mặc; Ngoài giờ làm việc; Đến với dân;
    Đêm xuống; Giấc ngủ ngon lành. Mỗi câu
    chuyện đều thể hiện phong cách giản dị, gần
    gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối sống, tác
    phong quần chúng thường ngày của Bác luôn
    là chuẩn mực nhân cách con người cách
    mạng nhưng lại không xa lạ với mỗi con
    người bình thường, mà ai cũng có thể soi
    mình, học tập, noi theo.
    7

    Cuốn sách mỏng, nội dung phong phú, dễ
    hiểu, rất bổ ích cho những ai muốn quan tâm
    nghiên cứu, tìm hiểu về Bác Hồ và đạo đức,
    tác phong của Bác.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng
    bạn đọc.
    Tháng 4 năm 2015
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    8

    LỜI GIỚI THIỆU
    Sáng kiến của tác giả Hồng Khanh viết
    cuốn sách về Chuyện thường ngày của Bác Hồ
    chắc chắn được đông đảo bạn đọc hoan
    nghênh. Cuốn sách này gúp phần vào việc
    giúp thế hệ trẻ tìm hiểu về con người vĩ đại
    của dân tộc ta qua đời thường bằng những
    mẩu chuyện sinh động. Một nét nổi bật trong
    cuộc sống đời thường thể hiện sự cao thượng
    của Bác Hồ là sự giản dị, gần gũi với mọi
    người, sống và làm việc như đồng bào, đồng
    chí.
    Những chuyện kể cũng cho chúng ta thấy
    những người là nhân chứng đã phục vụ Bác
    Hồ trên 20 năm Người làm Chủ tịch nước.
    Những nhân chứng này cũng nêu gương
    sáng về tinh thần phục vụ Tổ quốc bằng sự
    săn sóc chu đáo người lãnh đạo của nhân dân
    9

    ta.
    Đồng chí Hồng Khanh là nhà báo lâu năm
    của báo Nhân dân. Trong thời gian kháng chiến
    chống Mỹ, cứu nước, Hồng Khanh là phóng
    viên của một tờ báo ở Vĩnh Linh viết nhiều
    cho báo từ tuyến lửa ở dưới địa đạo. Sau
    chiến tranh, đồng chí viết về lĩnh vực kinh tế
    với những bài điều tra và bình luận sắc sảo.
    Là một nhà báo chiến sĩ, từng trải qua gian
    khổ, thử thách, Hồng Khanh là người có thể
    đảm trách những bài viết quan trọng của
    cuốn sách này.
    Ngày 11 tháng 6 năm 2003
    HOÀNG TÙNG, Nguyên Bí thư Trung ương
    Đảng
    Cộng
    sản
    Việt
    Nam,
    nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân

    10

    NGƯỜI GIÚP VIỆC
    Người ta sinh ra ở đời, dù làm đến chức
    cao nhất nước, hay chỉ là người dân bình
    thường, hằng ngày đều phải ăn, mặc, ở, đi
    lại, làm việc, tiếp xúc với mọi người... Những
    sinh hoạt thường ngày không thể thiếu ấy
    được thể hiện cầu kỳ hay giản dị, lịch sự hay
    buông thả, xa hoa hay tiết kiệm, đài các hay
    bình dân..., phụ thuộc một phần điều kiện
    vật chất, hoàn cảnh xã hội, nhưng phần lớn
    hơn có tính quyết định là phụ thuộc ý thức,
    tư tưởng và ý chí rèn luyện không ngừng của
    con người đó.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà cách mạng lỗi
    lạc, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt
    Nam. Người đã sáng lập Đảng Cộng sản
    Việt Nam, Mặt trận, Nhà nước và Quân đội
    nhân dân Việt Nam anh hùng. Bao nhiêu
    sách báo trong nước và ngoài nước đã, đang
    và tiếp tục viết về sự nghiệp hoạt động cách
    mạng, tư tưởng và cả cuộc sống sinh hoạt
    thường ngày của Người.
    Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945
    11

    thành công đến ngày Người đi xa (2-9-1969),
    khoảng xấp xỉ trên một phần tư thế kỷ ấy,
    đất nước Việt Nam gặp biết bao thăng trầm,
    sóng gió, nhưng dưới tay lái vững vàng của
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng
    Việt Nam vẫn tiến lên vượt mọi khó khăn
    gian khổ, giành hết thắng lợi này đến thắng
    lợi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh - một con
    người Việt Nam không những vĩ đại trong tư
    tưởng, trong sự nghiệp vì dân, vì nước, mà
    còn vĩ đại, mẫu mực cả trong nếp sống
    thường ngày.
    Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
    Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
    đời. Để giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và
    Chính phủ điều hành đất nước, Văn phòng
    Phủ Thủ tướng được hình thành, trong đó có
    một bộ phận đặc biệt, bước đầu gồm tám
    người được phân công phục vụ trực tiếp Bác
    Hồ về các công việc sự vụ hằng ngày từ hành
    chính, cận vệ, chăm sóc sức khỏe đến lái xe...
    Sáng ngày 6-3-1947, tại một địa điểm sơ
    tán ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú
    Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tám đồng chí
    12

    trực tiếp giúp việc cho Người ngồi bàn công
    tác “quân sự hóa”. Nghĩa là cơ quan giúp
    việc cho Bác phải gọn, nhẹ, cơ động, bí mật,
    nhanh chóng, đi không ai biết, đến không ai
    hay. Cho nên mỗi người phải có một cái
    balô. Ngoài ra, thêm một cái balô đựng máy
    chữ của Bác Hồ mang từ Hà Nội lên. Khi ấy,
    các đồng chí trực tiếp giúp việc cho Người
    được coi là cán bộ Văn phòng Chủ tịch nước,
    hoặc Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, là
    một bộ phận đặc biệt thuộc biên chế Văn
    phòng Chủ tịch nước. Bởi lẽ, sau Tổng tuyển
    cử ngày 6-1-1946, Quốc hội khóa I của nước
    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu Người làm
    Chủ tịch nước kiêm luôn Thủ tướng Chính
    phủ1. Bộ phận này trong suốt thời gian ở
    chiến khu Việt Bắc, để bảo đảm bí mật,
    thường được gọi là C.Q41, nghĩa là cơ quan
    41. Con số 41 là lấy hai số cuối của năm
    1941, năm Bác Hồ về nước sau 30 năm bôn

    1. Mãi tới tháng 8-1949 mới có Phó Thủ tướng Phạm
    Văn Đồng ở bên Bác; đến tháng 9-1955, đồng chí Phạm Văn
    Đồng mới là Thủ tướng.

    13

    ba nước ngoài tìm đường cứu nước.
    Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí
    đang ngồi quanh Người, bỗng càng lấy làm
    phấn khởi khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh âu
    yếm nhìn từng người một. Đó là các đồng
    chí: Võ Chương, quê ở Thừa Thiên Huế,
    nguyên là giáo viên, hoạt động Việt Minh tại
    Thanh Hóa, Hà Nội, sau Cách mạng Tháng
    Tám năm 1945 trở thành chiến sĩ trong đội tự
    vệ cứu quốc thành Hoàng Diệu, được chọn
    bổ sung vào tổ cận vệ Bác Hồ. Đồng chí
    Nguyễn Cần, quê ở Thường Tín, Hà Nội,
    từng tham gia Thanh niên phản đế Trường
    Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật thám Pháp bắt giam
    ở Hỏa Lò năm 1943, tháng 3-1945 vượt ngục,
    trở về công tác tại nội thành Hà Nội. Đồng
    chí Nguyễn Văn Lý, quê ở tỉnh Thái Bình,
    tham gia hoạt động cách mạng trong phong
    trào công nhân từ trước năm 1940, bị địch bắt
    giam ở Sơn La, Thái Nguyên, rồi vượt ngục
    trở về hoạt động ở căn cứ địa Tân Trào, tỉnh
    Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn,
    quê ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong
    phong trào Thanh niên cứu quốc Hà Nội,
    14

    cuối năm 1945 được tuyển vào tổ cận vệ Bác
    Hồ. Đồng chí Hoàng Văn Lâm, người dân tộc
    Tày ở Lạng Sơn, sớm giác ngộ cách mạng.
    Đồng chí Chu Phương Vương, người dân tộc
    Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho Bác
    từ tháng 7-1945. Các đồng chí Nguyễn Quang
    Chí, Trần Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao
    Bằng, là chiến sĩ giải phóng quân, giúp việc
    cho Bác trước tháng 8-1945 ở khu giải phóng
    Việt Bắc.
    Cả tám đồng chí nói trên đang im lặng thì
    bỗng thấy Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang
    phải theo thứ tự từng đồng chí đang ngồi sát
    nhau theo hình vòng tròn, vừa nhẹ nhàng
    nói:
    - Từ hôm nay, Bác đặt tên cho mỗi chú
    như sau: Chú Võ Chương là Trường; chú
    Nguyễn Cần là Kỳ; chú Nguyễn Văn Lý là
    Kháng; chú Nguyễn Hữu Văn là Chiến; chú
    Hoàng Văn Lâm là Nhất; chú Chu Phương
    Vương là Định; chú Nguyễn Quang Chí là
    Thắng; chú Trần Đình là Lợi.
    Nói xong, lặng im giây lát, Bác lại nhắc
    tên tám đồng chí vừa mới đặt: Trường, Kỳ,
    15

    Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi.
    Rồi Bác nhẹ nhàng hỏi một câu:
    - Các chú có biết tại sao Bác đặt tên các
    chú như vậy không?
    Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ,
    chưa ai lên tiếng. Bác giải thích luôn:
    - Nhân dân ta vừa giành được chính
    quyền chưa bao lâu thì đã phải bước vào cuộc
    kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
    Nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của Bác là
    cùng với Đảng, Chính phủ lãnh đạo nhân dân
    ta tiến hành cuộc kháng chiến đến ngày thắng
    lợi. Bác đặt tên các chú theo khẩu hiệu
    “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”
    là để hằng ngày Bác gọi đến tên các chú, hay
    nhớ đến các chú là nhắc nhở Bác phải lo làm
    sao tìm mọi mưu kế, biện pháp để hoàn thành
    bằng được nhiệm vụ cao cả đó.
    Niềm vinh dự, tự hào được Chủ tịch nước
    đặt tên mình gắn với ý chí và quyết tâm của
    toàn dân tộc đang bước vào cuộc trường kỳ
    kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
    đầy gian khổ nhưng nhất định thắng lợi càng
    thôi thúc tám đồng chí không ngừng vươn
    16

    lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, trong tiếp xúc
    hằng ngày, hai tiếng “Bác Hồ” chính thức
    được gọi thay cho năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí
    Minh” với cả tấm lòng kính trọng, biết ơn,
    gần gũi và thương yêu vô hạn. Đối với
    những người được vinh dự trực tiếp giúp
    việc cho Bác Hồ càng hết sức vui mừng được
    Bác gọi bằng “chú” với cả tình thương ân
    cần, trìu mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có
    chút cách biệt. Nhiều đồng chí đã lấy tên Bác
    đặt cho mình làm tên chính thức suốt đời,
    như Kỳ là đồng chí Vũ Kỳ - tức Nguyễn Cần;
    Kháng là đồng chí Hoàng Hữu Kháng - tức là
    Nguyễn Văn Lý; Chiến là đồng chí Tạ Quang
    Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn...
    Khi cuộc kháng chiến chống thực dân
    Pháp xâm lược bước sang giai đoạn chuẩn bị
    cho tổng phản công, khối lượng công việc ở
    C.Q41 càng bề bộn, khẩn trương. Người nào
    cũng làm việc chăm chỉ, ít được ngơi nghỉ,
    hòa trong khí thế sôi động từ các chiến
    trường Bắc - Trung - Nam dội về nơi làm việc
    của Bác. Và càng náo nức, hồ hởi khi được
    Bác gợi ý là nên có một số chú đi xuống cơ sở
    17

    dài ngày để vừa hiểu biết thực tế cuộc sống
    chiến đấu gian khổ nhưng rất anh dũng của
    đồng bào, đồng chí, vừa có dịp học tập, rèn
    luyện, góp phần phát huy khả năng của mình
    vào sự nghiệp cách mạng. Bác còn nhấn
    mạnh nếu chú nào cũng cứ ngồi hoài ở văn
    phòng để nắm tình hình qua các bản báo cáo
    hoặc điện thoại ở dưới gọi lên thì làm sao
    hiểu được thực tế, làm sao tiến kịp theo đà
    phát triển chung. Thực tế, ở cơ sở cũng là
    một trường học để rèn luyện mình. Ít hôm
    sau, được đồng chí Trường Chinh cho biết là
    Bác đã đưa gợi ý đó ra trước Thường vụ
    Trung ương Đảng và được Thường vụ rất
    đồng tình. Thế là cả C.Q41 càng lấy làm phấn
    chấn và tích cực hưởng ứng gợi ý của Bác.
    Không bao lâu sau, đồng chí Vũ Kỳ được về
    Hà Nội làm công tác “địch vận”. Khi chuẩn
    bị mở chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1953,
    Bác lại chỉ đạo cho đồng chí Vũ Kỳ đi vào lực
    lượng thanh niên xung phong, phụ trách
    Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương.
    Cũng trong thời gian bí mật, khẩn trương,
    náo nức đó, một số đồng chí của C.Q41 cũng
    18

    rời văn phòng xuống cơ sở, như đồng chí Tạ
    Quang Chiến xuống phụ trách Đội Thanh
    niên xung phong tại “An toàn khu”. Đồng
    chí Hoàng Hữu Kháng làm Trưởng Ban tiếp
    tế An toàn khu Trung ương, Cục trưởng Cục
    Cảnh vệ Bộ Công an... Số đồng chí ở lại giúp
    Bác càng làm việc bận rộn hơn. Thông cảm
    với hoàn cảnh đó, những khi chưa có người
    bổ sung kịp, Bác vừa thảo công văn, chỉ thị,
    vừa tự đánh máy lấy. Một không khí làm
    việc sôi động, hồ hởi, không quản mệt nhọc,
    tất cả vì cơ sở, vì tiền tuyến và chiến thắng.
    Những đồng chí do yêu cầu công việc phải
    chuyển sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho
    đồng chí mới được bổ sung như tên đồng
    chí đã chuyển. Câu khẩu hiệu “Trường kỳ
    kháng chiến, nhất định thắng lợi” luôn ở bên
    Bác. Vì thế, khi kháng chiến thắng lợi đã có
    ba đồng chí mang tên Trường, hai đồng chí
    mang tên Nhất, hai đồng chí mang tên Thắng.
    Một số đồng chí bổ sung trong hai năm 1948
    - 1949 được Bác đặt tên mang những ý nghĩa
    mới: Trung, Dũng, Đồng, Tâm, Kiên, Quyết,
    Tiết, Kiệm.
    19

    Một hôm, trong không khí hòa bình, mới
    về lại Thủ đô Hà Nội, nhân lúc Bác cháu
    đang nói chuyện vui sau bữa cơm chiều, một
    đồng chí quá lạc quan, đề nghị với Bác:
    - Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình
    mới, xin Bác cho đổi tên của hai đồng chí
    Kháng và Chiến thành hai tên Hòa và Bình!
    Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt hơi
    nghiêm:
    - Có kháng chiến mới có hòa bình. Song
    hiện nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải
    chuẩn bị kháng chiến ở miền Nam, vì kẻ địch
    chưa dễ gì ngoan ngoãn làm theo Hiệp định
    Giơnevơ năm 1954. Chớ có chủ quan!
    Quả câu nói của Bác là một lời tiên tri.
    Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Hai mươi
    năm sau, giải phóng miền Nam, thống nhất
    Tổ quốc.
    Kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên
    Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Bác Hồ,
    Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu
    Việt Bắc, ngày 10-10-1954 về lại Thủ đô Hà
    Nội. Các đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến
    lần lượt được trở lại giúp việc cho Bác Hồ. Từ
    20

    đấy, trong hoàn cảnh miền Bắc được giải
    phóng, miền Nam còn tạm thời trong tay
    địch, tính chất công việc ở bộ phận trực tiếp
    giúp Bác lại càng đòi hỏi mỗi người làm việc
    sâu sát hơn, tỉ mỉ hơn, chính xác hơn, hiệu
    quả hơn. Một số đồng chí mới rút từ Văn
    phòng Trung ương Đảng và một vài địa
    phương lần lượt được điều động, bổ sung
    vào bộ phận giúp việc cho Bác, như các đồng
    chí Đinh Văn Cẩn, Lê Văn Nhượng (bổ sung
    năm 1950), Cù Văn Chước, Lê Hữu Lập, Trần
    Văn Vượng, Nguyễn Văn Mùi, Lưu Quang
    Lập, Ngô Văn Các, Hoàng Tấn Quang... Tất
    cả gồm hơn mười người. Nếu kể tách bạch ra
    thì công tác văn thư chỉ có bốn người, kể cả
    đồng chí Vũ Kỳ. Số đồng chí khác được phân
    công: người lo đánh máy, người làm cần vụ,
    người lo nấu ăn, người lái xe, người làm
    vườn, người tiếp khách, phục vụ hội nghị do
    Bác chủ trì... Phân công chuyên môn như
    vậy, nhưng khi cần thiết là có sự hỗ trợ công
    việc lẫn nhau trong từng bộ phận văn thư
    hoặc hậu cần. Bộ phận bảo vệ tiếp cận Bác
    thuộc Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. Về tổ chức,
    21

    tài vụ, công tác đảng, văn phòng phẩm,
    lương cán bộ, nhân viên của số anh em giúp
    việc cho Bác đều do Văn phòng Phủ Thủ
    tướng phụ trách. Khi Bác đón những đoàn
    khách lớn nước ngoài hoặc tổ chức tiệc tùng
    chiêu đãi thì chuyển giao cho các bộ phận
    giao tế hoặc Bộ Ngoại giao đảm nhiệm.
    Hơn chục anh em trực tiếp giúp việc cho
    Bác chỉ lo làm sao bảo đảm được mọi nhu cầu
    về vật chất và tinh thần cần thiết hằng ngày
    của Bác để Bác vừa có thêm thời gian lo việc
    dân, việc nước, vừa còn có thể thư giãn, nghỉ
    ngơi, giải trí. Anh em thường nói với nhau:
    “Sức khỏe của Bác là tài sản quốc gia”. “Ngày
    nào Bác cũng vui, cũng khỏe, cũng thanh
    thản là mong ước của đồng bào cả nước”. Vì
    vậy, hơn chục anh em này đều chí thú lo toan
    công việc được giao. Và mỗi khi Bác đi công
    tác xa vài ba ngày trở lên, Bác không quên
    nhắc đồng chí phụ trách có thể cho anh em
    thay nhau về nghỉ với vợ con, gia đình, quê
    hương. Sự quan tâm dù nhỏ ấy của Bác càng
    động viên anh em phấn khởi làm việc hết
    mình.
    22

    *
    *

    *

    Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ XXI.
    Tôi lần lượt tìm đến nhà riêng của những
    đồng chí đó có thời gian gần gũi giúp việc
    Bác. Với dụng ý, qua các nhân chứng đặc biệt
    này, có thể được biết thêm về những công
    việc sinh hoạt thường ngày của Bác Hồ. Nhất
    là trong suốt thời gian 24 năm Người làm
    Chủ tịch nước, bận trăm công nghìn việc của
    Đảng, của Chính phủ, của chế độ dân chủ
    cộng hòa mới ra đời và hình thành. Hằng
    ngày, Bác vẫn rèn luyện, xây dựng cho mình
    một phong cách sống thư thái, giản dị, trong
    sáng, mẫu mực, hết lòng vì dân, vì nước.
    Trong số tám đồng chí đầu tiên giúp việc
    cho Bác Hồ mà đã vinh dự được Người đặt
    tên “Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định,
    Thắng, Lợi” thì đến năm 2001 đã có sáu đồng
    chí nối tiếp nhau theo Bác Hồ về cõi vĩnh
    hằng trong những năm cuối của thế kỷ XX.
    Hai đồng chí còn lại, ít tuổi nhất so với các
    23

    đồng chí kia, là đồng chí Vũ Kỳ, tuổi đã
    ngoài 80, sức khỏe có giảm, nhưng vẫn tỉnh
    táo, minh mẫn; đồng chí Tạ Quang Chiến,
    tuổi đã 77, trời cho còn khỏe mạnh, hồng hào,
    nói năng lưu loát. Các đồng chí bổ sung sau
    năm 1954, khi miền Bắc đã được giải phóng,
    tuổi cũng đã trên dưới 70. Nhưng may mắn
    thay là đồng chí nào cũng còn nhanh nhẹn,
    hoạt bát. Điều rất mừng là khi kể lại, đồng
    chí nào cũng còn nhớ khá đậm nét những kỷ
    niệm về công việc và sinh hoạt thường ngày
    của Bác Hồ mà các đồng chí đó, cũng như các
    đồng chí tiền nhiệm đã kể lại, được vinh dự ở
    bên Người, giúp việc cho Người trong suốt
    những năm tháng Người nhận trách nhiệm
    cao cả trước Đảng, trước nhân dân là làm
    Chủ tịch nước.
    Cuốn sách này chủ yếu ghi lại những lời kể
    về cuộc sống đời thường: ăn, mặc, ở, đi lại, giải
    trí, rèn luyện sức khỏe của Bác Hồ mà các
    đồng chí giúp việc cho Người từng chứng
    kiến. Những việc thường ngày ấy cũng là
    một yếu tố rất quan trọng góp phần quyết
    định tạo nên con người Hồ Chí Minh với ý
    24

    nghĩa đầy đủ, tuyệt vời cả tài - đức - trí - lực.
    Qua đó, giúp chúng ta hiểu thêm về phong
    cách, phẩm chất, tư tưởng nhất quán trong
    mục đích, hướng đi, sự nghiệp cách mạng
    của Bác Hồ - vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu
    của dân tộc Việt Nam đã suốt đời hy sinh
    quên mình cho cách mạng, cho sự ấm no, tự
    do, hạnh phúc của nhân dân.
    Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi sắp
    xếp nội dung các câu chuyện theo thứ tự sau:
    - Những nơi ở
    - Khi mặt trời lên
    - Cách ăn mặc
    - Ngoài giờ làm việc
    - Đến với dân
    - Đêm xuống
    - Giấc ngủ ngon lành.
    TÁC GIẢ
    Hồng Khanh

    25

    NHỮNG NƠI Ở
    Các đồng chí kể rằng, nếu tính từ ngày rời
    căn cứ cách mạng Tân Trào, lần đầu tiên Bác
    về Hà Nội, vào nội thành là chiều thứ bảy,
    ngày 25-8-1945, tức ngày 18-7 năm Ất Dậu.
    Ngày đó, Hà Nội mới giành được chính
    quyền trọn một tuần, đang trong khí thế sục
    sôi Cách mạng Tháng Tám. Phố xá treo đầy
    cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ “Ủng hộ Việt
    Minh!”, “Việt Nam độc lập muôn năm!”. Vào
    lúc sâm sẩm tối, tại làng Phú Gia, cạnh sông
    Hồng, đồng chí Trường Chinh đã đến chờ
    sẵn để đón Bác. Chiếc xe Ford cũ màu đen
    đưa Bác từ Phú Gia chạy dọc theo đê sông
    Hồng, về Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than,
    qua phố Chả Cá, đến trước số nhà 35 Hàng
    Cân, rồi rẽ vào phía trong có cửa phụ. Đến
    đây, xe ô tô dừng lại. Bác xuống xe. Đồng chí
    26

    Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng, mời
    Bác vào nhà, lên gác hai là nơi Thường vụ
    Trung ương Đảng bố trí Bác đến ở. Ngôi
    nhà này xây ba tầng, khá cao giữa phố cũ Hà
    Nội, của một thương gia lớn là ông bà Trịnh
    Văn Bô. Nhà có cửa chính phía trước mang
    biển số 48 phố Hàng Ngang. Cửa chính bằng
    sắt chắc chắn, rất thuận lợi cho công tác bảo
    vệ. Gác hai của ngôi nhà này có một căn
    phòng rộng mà chủ nhà dựng làm phòng ăn.
    Giữa phòng kê một bàn gỗ dài, to. Quanh
    bàn có tám ghế tựa đệm mềm. Bộ bàn ghế
    này là nơi Bác Hồ thường làm việc với các
    đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối
    phòng, ở sát tường phía sau, kê một chiếc
    bàn tròn mà Bác và số đồng chí giúp việc cho
    Bác thường dùng làm chỗ ngồi ăn sáng và ăn
    cơm bữa tối. Bác Hồ thường ngồi suy nghĩ,
    làm việc, hoặc đánh máy ở chiếc bàn con kê
    sát tường góc phía trong. Mặt bàn này hình
    vuông, bọc da màu xanh lá mạ, vừa đủ để
    tập giấy, bút và chiếc máy chữ nhỏ, cũ, mang
    từ căn cứ cách mạng Tân Trào về. Chính tại
    gác hai ngôi nhà này, Bác Hồ đã trầm ngâm
    27

    suy nghĩ phác thảo nên bản Tuyên ngôn độc
    lập lịch sử.
    Ngày 29-8, Bác Hồ và một số đồng chí
    giúp việc được Trung ương bố trí đến ở và
    làm việc tại nhà số 12 Ngô Quyền, cạnh
    vườn hoa Chí Linh, nơi trước đó là dinh của
    Thống sứ Bắc Kỳ, nay là Nhà khách Chính
    phủ.
    Ngày 31-8, để chuẩn bị cho lễ ra mắt
    Chính phủ Cách mạng lâm thời trước quốc
    dân đồng bào, Bác hỏi anh em giúp việc:
    - Nơi dự định họp míttinh như thế nào?
    Các chú thử vẽ phác qua cho Bác xem.
    Xem xong sơ đồ, Bác hỏi:
    - Liệu chứa được bao nhiêu người?
    - Dạ! Thưa Bác khoảng vài vạn người!
    Bác hỏi thêm:
    - Đã bố trí chỗ đồng bào đi vệ sinh chưa?
    Thấy anh em nhìn nhau hơi lúng túng,
    đoán là chưa nghĩ đến, Bác gợi ý ngay:
    - Việc đó tuy nhỏ, nếu không chú ý bố trí
    cho tốt thì dễ mất trật tự.
    Theo gợi ý thêm của Bác, mọi công việc
    28

    chuẩn bị cho cuộc míttinh được tiến hành
    khẩn trương, hoàn thành chu tất.
    Đúng ngày 2-9-1945, trước hàng vạn đồng
    bào, đồng chí tập trung ở Quảng trường Ba
    Đình, thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm
    thời, Bác Hồ trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn
    độc lập. Đang đọc, bỗng Bác dừng lại hỏi một
    câu:
    - Tôi nói đồng bào nghe rõ không?
    Cả biển người cả trai, gái, trẻ, già, ăn mặc
    đủ màu sắc, đồng thanh trả lời: “Nghe rõ!
    Nghe rõ!”.
    Bác trịnh trọng tuyên bố tiếp với đồng bào
    Thủ đô thay mặt nhân dân cả nước và qua
    làn sóng phát thanh truyền ra thế giới: “...
    Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp
    hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
    phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân
    tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
    lập!... Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả
    tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để
    giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”1.
    1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,

    29

    Từ đó, trong không khí đất nước hồ hởi
    giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác
    Hồ và các đồng chí lãnh đạo càng bộn bề
    mọi công việc. Số nhà 12 Ngô Quyền không
    những là nơi ở và làm việc của Bác, mà còn là
    điểm tìm đến của bao nhân sĩ, trí thức, người
    giàu có và nhân dân lao động để góp phần
    đem sự hiểu biết, lòng trung thành và của cải,
    sức lực của mình ra sức xây dựng và bảo vệ
    chính quyền cách mạng non trẻ do Bác Hồ
    lãnh đạo. Ít lâu sau, chính tại nơi ở 12 Ngô
    Quyền này, một sự việc hết sức đặc biệt đã
    xảy ra, bất ngờ sau hơn ba thập kỷ anh chị
    em ruột xa nhau. Đó là sau khi lần đầu tiên
    thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà con họ
    hàng bên nội ở làng Kim Liên, bên ngoại ở
    làng Hoàng Trù, thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh
    Nghệ An, bàn tán nhau nửa tin, nửa ngờ:
    “Phải chăng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn
    Ái Quốc, là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn
    Sinh Cung?”1. Để rõ sự thật, bà con cả hai bên
    2011, t.4, tr.3.
    1. Tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ là Nguyễn Sinh Cung,

    30

    nội ngoại liền cử cụ Thanh, tên thật là
    Nguyễn Thị Bích Liên - chị gái Bác Hồ, khăn
    gói lên đường ra Hà Nội xem sao.
    Khi đến cổng số 12 Ngô Quyền, cô Thanh
    để tạm xuống đất hai con vịt và chiếc bị cói
    trong đựng vài chục quả trứng gà xung
    quanh phủ trấu, mang từ trong quê ra. Rồi cô
    đứng phủi phủi bộ quần áo nâu đang mặc,
    sửa sang lại ngay ngắn chiếc khăn nhung đen
    vấn quanh đầu. Vừa lúc, người gác cổng
    bước đến hỏi cô:
    - Bà có việc gì, cần gặp ai?
    - Tôi là chị ruột Cụ Hồ. Tôi ra thăm Cụ
    một chút rồi tôi về!
    Nghe vậy, người gác cổng bảo cô chờ.
    Quả nhiên, chờ một chốc là có người ra dẫn
    cô vào nhà. Hai chị em gặp nhau sau mấy
    chục năm xa cách, người nào cũng nghẹn
    ngào xúc động. Chuyện trò được một lát,
    khoảng nửa giờ, thấy có người vào trình việc,
    biết Cụ Hồ đang phải giải quyết nhiều việc
    cần kíp của đất nước khi mới giành được độc
    tiếng địa phương gọi là Nguyễn Sinh Cung.

    31

    lập, cô Thanh về nhà người quen ở phố Hàng
    Nón. Hôm biết cô Thanh sắp về quê, Bác Hồ
    đang bận rộn quá nhiều công việc, phải nhờ
    người đem đến biếu cô mấy mét vải lĩnh để
    về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm sau
    nhiều năm chị em xa cách giữa lúc đất nước
    chìm đắm trong tối tăm, nô lệ. Nay hai chị
    em gặp lại trong không khí Tổ quốc đã giành
    được chính quyền về tay nhân dân.
    Còn ông Cả Khiêm, tức Nguyễn Sinh
    Khiêm (tức Nguyễn Tất Đạt), người anh ruột
    hơn Bác Hồ hai tuổi, nhưng kém bà Thanh
    bốn tuổi, ít lâu sau cũng ra gặp Bác Hồ ở tầng
    hai của ngôi nhà số 12 Ngô Quyền. Khi thấy
    Bác Hồ trong phòng làm việc bước ra, nhận
    rõ là em ruột mình, không nén nổi xúc động,
    ông Cả Khiêm bước nhanh đến ôm chầm lấy
    Bác, miệng nói lặp đi, lặp lại:
    - Chú Cung! Chú Cung! Chú có khỏe
    không?
    Bác Hồ cũng rất xúc động, ôm chặt lấy
    ông Cả Khiêm, áp chòm râu rung rung lên
    má người anh ruột của mình nói rất thân
    tình:
    32

    - Anh đã ra thăm em... Đáng lẽ em phải về
    thăm anh trước... Anh có khỏe không?
    Hai người cứ ôm nhau như vậy, lặng đi
    hàng phút, rồi ông Cả Khiêm mới buông tay
    và nói tiếp:
    - Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo là
    chú gầy lắm, công việc bận suốt ngày...
    Nói xong, ông Cả Khiêm mở chiếc vali
    đan bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam
    Xứ Đoài biếu Bác Hồ.
    Bác Hồ đỡ lấy cam, cảm động rơm rớm
    nước mắt. Nỗi nhớ họ hàng, quê hương trào
    lên, Bác đọc luôn câu ca về xứ Nghệ:
    Quê ta ngọt mía Nam Đàn
    Bụi khoai Chợ Rộ, thơm cam Xứ Đoài
    Ai về ai nhớ chăng ai
    Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh.
    *
    *

    *

    Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ tuy hằng ngày
    làm việc chính thức tại nhà số 12 Ngô Quyền,
    họp Hội đồng Chính phủ, tiếp khách trong
    33

    nước và quốc tế, nhưng ban đêm rất ít khi
    Bác nghỉ tại đây mà về số 8 Lê Thái Tổ, là nhà
    của nguyên chánh án Tòa thượng thẩm
    Đông Dương, trước là Nhà hàng Thủy Tạ
    bây giờ. Hoặc Bác lui tới địa điểm dự bị bí
    mật tại Đê La Thành gần chợ Bưởi (từ
    tháng 10-1945 đến tháng 4-1946).
    Tại nơi ở nhà số 8 Lê Thái Tổ và nhà số 12
    Ngô Quyền lúc đó có một số nhân viên phục
    vụ chính quyền cũ. Bác Hồ chỉ thị giữ lại cho
    họ có việc làm. Tất cả số người này tận tụy
    phục vụ chính quyền cách mạng, và sau đó
    đi theo kháng chiến. Con cái của họ đều công
    tác tiến bộ; có hai người là đại tá Quân đội
    nhân dân Việt Nam.
    Kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, Bác
    tạm sơ tán về làng Vạn Phúc, Hà Đông. Tại
    đây, Bác ở, làm việc và ăn ngủ trong một căn
    gác xép của một nhà dân. Ban đêm, các đồng
    chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên
    Giáp... từ Hà Nội vào báo cáo tình hình cho
    Bác, rồi lại trở về Hà Nội. Chính tại căn gác
    xép ở làng Vạn Phúc này, với ngọn đèn dầu
    leo lét, chiếc bút sắt, cái bàn gỗ cũ, ngày 1934

    12-1946, Bác Hồ đã viết lời kêu gọi Toàn quốc
    kháng chiến: ... Chúng ta thà hy sinh tất cả,
    chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
    định không chịu làm nô lệ.
    Hỡi đồng bào!
    Chúng ta phải đứng lên!1.
    Ngày 19-12-1946, lúc 18 giờ 45 phút, Bác
    Hồ và anh em giúp việc rời làng Vạn Phúc,
    mang balô, máy chữ và những thứ cần thiết
    lên Xuyên Dương, Cần Kiệm, Sài Sơn. Rồi từ
    Sài Sơn, Hà Nội, đi lần lên chiến khu Việt Bắc
    để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiến
    hành cuộc kháng chiến chín năm chống thực
    dân Pháp xâm lược.
    Trong những năm tháng đầy gian khổ và
    kiên cường đó, do hoàn cảnh giữ bí mật phải
    sơ tán luôn, Bác đó di chuyển nơi ở và làm
    việc tới 30 địa điểm trên địa bàn của các tỉnh
    Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao
    Bằng, Bắc Kạn... Thay đổi chỗ ở luôn, cũng có
    nghĩa là mỗi lần đến địa điểm mới lại phải
    làm nhà mới. Thời gian đầu chưa có người
    1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.

    35

    biết làm nhà, anh em giúp việc Bác chỉ dựng
    tạm tre nứa như một túp lều để ở. Sau đó Cơ
    quan 41 (C.Q41) bổ sung thêm các đồng chí
    Cần, Kiệm công tác tại Ban xây dựng An toàn
    khu Trung ương là hai thợ mộc khéo tay; việc
    làm nhà đỡ vất vả hơn. Mỗi lần chuyển đến
    địa điểm mới, anh em giúp việc thường cố
    gắng đáp ứng yêu cầu của Bác là chỉ cần một
    mái lán tranh xinh xinh, dưới tán cây cao,
    gần sông hoặc suối thì càng tốt. Dần dần anh
    em làm nhà cho Bác theo kiểu nhà sàn ở miền
    núi, Bác rất thích nhưng chỉ cho làm vừa đủ ở
    và làm việc. Nhà sàn đó, tầng dưới dùng làm
    việc ban ngày; tầng trên dùng làm việc và
    nghỉ ban đêm. Kiểu nhà sàn này tránh được
    khí hậu ẩm thấp và phòng thú dữ bất ngờ tấn
    công. Ngôi nhà sàn ấy chiều cao mỗi tầng có
    thể đứng nhón chân với tay được; chiều
    ngang thì đưa tay sang phải, đưa tay sang
    trái là có thể lấy được các vật dụng gài trên
    vách. Từng tầng tuy đơn sơ, nhưng vẫn có
    cái bàn con và mấy chiếc ghế đơn giản. Đồ
    dùng của Bác cũng giản dị, chỉ có cái chăn
    chiên, cái màn một, vài bộ quần áo... Cho nên
    36

    khi phải di chuyển chỉ việc lấy quần áo, màn
    cuộn vào cái chăn thành một gói nhỏ. Số tài
    liệu cần thì đựng trong chiếc túi vải Bác
    mang lấy. Bác chỉ để anh em giúp việc mang
    hộ chiếc máy chữ. Nơi Bác ở lâu nhất khoảng
    hơn năm tháng là Khấu Lấu, Tuyên Quang,
    và Điềm Mặc, Định Hóa, Thái Nguyên (từ
    tháng 5 đến tháng 10-1947). Tổng cộng trong
    chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
    Bác Hồ và bộ phận giúp việc cho Bác đã ở các
    địa điểm thuộc tỉnh Thái Nguyên là 19 tháng,
    thuộc tỉnh Tuyên Quang là 5 năm, 10 tháng...
    Có địa điểm ở rồi chuyển đi, năm sau lại trở
    về, như: Khuôn Tát (Thái Nguyên) ba lần;
    Khấu Lấu (Tuyên Quang) bốn lần... Dạo ở
    Khấu Lấu, Sơn Dương, Tuyên Quang, nhà
    sàn của Bác được làm gần sông, dưới tán cây
    rừng ken dày lá. Có vạt đất rộng, bằng, làm
    được sân bóng chuyền để chiều chiều sau khi
    làm việc căng thẳng, Bác có điều kiện chơi
    bóng chuyền. Cạnh sân bóng chuyền Bác cho
    làm một dãy bàn tre. Hai bên bàn tre là hai
    dãy ghế dài dùng làm nơi ngồi nghỉ cho
    những “cầu thủ” trong khi tập, vừa là chỗ
    37

    tiếp khách khi cần, vừa làm nơi ăn cơm của
    Bác và số anh em giúp việc. Dưới gầm nhà
    sàn có đường hào đi ra hầm trú ẩn. Những
    quả bầu, quả bí do Bác trồng được quanh nhà
    sàn thì để gần nhà bếp nấu ăn. Bác thường
    nói với anh em giúp việc:
    - Trồng bầu, trồng bí là nhanh thu
    hoạch, cho ta ăn được cả hoa, lá, quả. Nếu
    phải chuyển địa điểm đến nơi khác thì để
    lại cây tăng gia được cho bà con khác.
    Hàm ý của Bác dạo đó là giáo dục mọi
    người luôn quán triệt tư tưởng đánh địch lâu
    dài: “Trường kỳ kháng chiến, nhất định
    thắng lợi”. Cho nên mỗi lần một vài cán bộ
    của các ngành, đơn vị có dịp đến báo cáo
    công việc cho Bác nghe, gặp lúc vào mùa quả,
    trước khi ra về, thường được Bác tặng, người
    thì quả bầu, người thì quả bí. Vừa tặng, Bác
    vừa nói rất tự nhiên:
    - Chú cầm về..., góp thêm cải thiện bữa
    ăn.
    *
    *
    38

    *

    Cuộc kháng chiến chín năm chống thực
    dân Pháp xâm lược thắng lợi. Ngày 10-101954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng. Bác
    Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ về lại Thủ
    đô. Để đề phòng âm mưu phá hoại của địch,
    Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ Chính trị
    cùng Văn phòng Trung ương Đảng đến ở
    tạm tại nhà thương Đồn Thủy của Pháp, nay
    là Bệnh viện Hữu nghị và Bệnh viện Quân
    đội 108. Trong thời gian đó, Văn phòng
    Chính phủ và Văn phòng Trung ương Đảng
    giao cho một số anh em chuẩn bị nơi ở và nơi
    làm việc cho Bác và Trung ương. Do biết là
    Bác Hồ không chịu về ở và làm việc t...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama