GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
Cuộc Nổi Dậy Của Nhà Tây Sơn - George Dutton

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thành
Ngày gửi: 10h:40' 29-05-2024
Dung lượng: 3.7 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thành
Ngày gửi: 10h:40' 29-05-2024
Dung lượng: 3.7 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
CUỘC NỔI DẬY CỦA NHÀ TÂY SƠN
Tác giả: George Dutton
Lê Nguyễn dịch và giới thiệu
NXB tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
ebook©vctvegroup
Tặng Jessief Talia và Miranda
LỜI GIỚI THIỆU
Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và
nhà Tây Sơn là sự kiện đưa đến nhiều dị biệt nhất về mặt quan điểm
hay nhận thức. Nổi bật nhất là quan điểm đưa ra cách nay hơn nửa
thế kỷ, coi phong trào Tây Sơn như cuộc nổi dậy của giới nông dân
bị áp bức, bóc lột, chống lại nhà Nguyễn thối nát và mang lại công
bằng xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân. Sự lý tưởng hóa hầu như
mọi hoạt động của phong trào Tây Sơn đã dẫn đến một số nhận
định chủ quan về thực chất của phong trào này và cũng từ đó, nhiều
sự thật lịch sử liên quan đến phong trào chưa được làm sáng tỏ.
Gần đây, cuộc nội chiến kéo dài 30 năm từ đầu thập niên 1770 đến
đầu thập niên 1800 được nhiều học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài
để tâm tìm hiểu, dựa vào nhiều nguồn tư liệu ở các văn khố nước
ngoài, tiêu biểu là văn khố của Bộ Hải quân và Thuộc địa cũ và Hội
Truyền giáo Hải ngoại Paris (Pháp). Nhờ thế mà số dữ kiện được
đưa ra về thời kỳ này phong phú hơn, nhiều sự thật lịch sử trước
đây, vì lý do này hay lý do khác, còn mơ hồ, chưa thống nhất, nay
được rõ ràng, dứt khoát hơn.
Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho chủ đề này là The Tây
Sơn uprising (Cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn) của giáo sư sử học
người Mỹ George Dutton mà bản dịch đang nằm trên tay quý bạn
đọc. Tác giả là giáo sư bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa châu Á thuộc
trường Đại học California tại Los Angeles (UCLA), Mỹ; từng giảng
dạy môn lịch sử Việt Nam cận và hiện đại, đồng thời là tác giả nhiều
sách viết về xã hội Việt Nam các thế kỷ XVIII, XIX và XX. Riêng tác
phẩm The Tây Sơn Uprising được trường Đại học Hawai'i xuất bản
năm 2006 là một công trình nghiên cứu quan trọng của Dutton về
phong trào Tây Sơn những năm 1771-1802, trong khuôn khổ một
cuộc nội chiến ác liệt và dằng dai kéo dài hơn 30 năm, với những di
chứng còn tồn tại đến thế kỷ XIX.
Dutton đã dành phần lớn tác phẩm này để bàn về mối quan hệ
giữa nhà Tây Sơn với các thành phần xã hội phức tạp lúc bấy giờ,
gồm có giới nông dân, người châu Âu tại Đại Việt, các sắc tộc thiểu
số như người Hoa, người Chăm, người Khmer, đồng bào Thượng
trên cao nguyên và cả những thành phần cư dân mà tác giả gọi là
“những kẻ sống bên lề xã hội”. Ở mỗi chủ đề, tác giả đã tham khảo
nhiều nguồn tư liệu bằng các ngôn ngữ khác nhau để lý giải vấn đề,
chủ yếu nhằm làm sáng tỏ nhiều chi tiết lịch sử còn thiếu sót hay mơ
hồ.
Trước tiên, bàn đến quan điểm xem nhà Tây Sơn là một phong
trào nông dân, Dutton đưa ra một số luận cứ nhằm minh họa cho
cách nhìn của ông. Ông viết: “Người nông dân thời kỳ Tây Sơn là
những kẻ lót đường cho quân đội, là đối tượng của sự lao dịch, là
nguồn tiếp tế và nguồn lợi tức cho phong trào. Những người đàn
ông và đàn bà đó có thể nuôi ước vọng về một cuộc sống tốt hơn,
điều này phản ánh trong sự ủng hộ đầy vẻ lạc quan của họ khi nhìn
thấy những biểu hiện sớm sủa của cuộc nổi dậy, song những ước
vọng đó sớm nhường chỗ cho một thực tế đầy thất vọng và theo
những chứng cứ khả dĩ nhất, ít có người nông dân nào nhìn thấy
một sự cải tiến đáng kể trong đòi sống của họ phát xuất từ hành
động của nhà Tây Sơn*”.
Không phải ai cũng đồng tình với quan điểm của tác giả, song sự
gợi mở của ông tạo nên sức sống mới cho sinh hoạt học thuật về
thời kỳ này đã từ lâu đi theo những lối mòn.
Dutton nhận định rằng, lúc bắt đầu cuộc nổi dậy, nhà Tây Sơn
cũng chỉ tái phân phối những tài sản có giá trị thấp, hoặc lúa gạo
cho người nông dân thay vì thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất của
họ thông qua những chứng từ hợp pháp. Người nông dân trong
cuộc nội chiến 1771-1802 trở thành công cụ lớn nhất cho mục tiêu
tối hậu của anh em Tây Sơn, để rồi, như một nhận định khá chua
chát của Dutton, cuối cùng “họ trở thành kẻ đồng lõa với sự áp bức
chính họ*”, bởi vì sự đóng góp công sức của họ đã được đền đáp
bằng sự bóc lột họ bằng sưu cao thuế nặng.
Trong thành phần những sắc dân thuộc khối thiểu số, qua ngòi
bút của George Dutton, mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và người
Hoa cũng phức tạp không kém. Mối quan hệ này khởi đầu từ việc
thu nhận các lực lượng người Hoa dưới quyền của hai thương nhân
Tập Đình và Lý Tài vào trong hàng ngũ Tây Sơn, và nó chặt chẽ đến
nỗi vào năm 1775, một nhà quan sát người Âu đã viết rằng, phần
lớn quân nổi dậy là người Hoa. Song mối quan hệ đó sớm lụi tàn,
nhường chỗ cho những ân oán kéo dài, nhất là vào thập niên 1780,
khi nhà Tây Sơn tàn sát hàng ngàn người Hoa tại vùng Gia Định.
Cuộc thảm sát này mang màu sắc một sự trả thù cho viên tướng
Tây Sơn Phạm Ngạn bị sát hại bởi đạo quân Hòa Nghĩa gồm phần
lớn là người Hoa, song theo Dutton (và một số tác giả khác), mối
quan hệ căng thẳng giữa nhà Tây Sơn và người Hoa lúc bấy giờ bị
chi phối bởi nỗi lo ngại cộng đồng này là những trung tâm tài chánh
nếu không tự nguyện đóng góp vật chất cho đạo quân nhà Nguyễn
thì ít nhất cũng nằm trong tầm ảnh hưởng và sự chỉ phối của đạo
quân này. Song Dutton cũng cho rằng không phải lúc nào mối quan
hệ giữa nhà Tây Sơn và người Hoa cũng mang màu sắc tiêu cực.
Chỉ một năm sau cuộc thảm sát người Hoa tại Sài Gòn (1782), các
tàu buôn của họ tiếp tục cập bến buôn bán tấp nập.
Đối với người Âu, chủ yếu là những người Pháp đang sống bên
trong hay bên ngoài guồng máy chiến tranh, qua ngòi bút của
Dutton, nhà Tây Sơn thường cho rằng các cuộc thất trận lớn của họ
là do có sự tham gia của những người Âu thiện chiến trong lực
lượng của Nguyễn Ánh. Tuy nhận định này có tính phóng đại ít
nhiều, song họ cũng nỗ lực chiêu dụ những người Pháp có năng lực
về mặt kỹ thuật, công nghệ, gia nhập vào đạo quân của họ. Trường
hợp cựu đại tá công binh Olivier de Puymanel (có tên Việt là ông
Tín), người đã xây thành bát quái (thành Sài Gòn) cho chúa Nguyễn
vào năm 1790, là một ví dụ tiêu biểu cho sự níu kéo của nhà Tây
Sơn đối với người Pháp. Trong tác phẩm của mình, George Dutton
đã viện dẫn tài liệu của một giáo sĩ kể lại câu chuyện vào năm 1795,
Thái sư nhà Tây Sơn là Bùi Đắc Tuyên đã công khai yêu cầu các
giáo sĩ giao Puymanel cho ông ta nếu không muốn các nhà thờ bị
phá hủy. Tuyên còn có ý định nhờ một Tổng trấn ở Manila
(Philippines) bắt giữ Puymanel giùm. Cũng từng có cuộc tiếp xúc
giữa một đại diện thương mại Anh là Charles Chapman với Nguyễn
Nhạc và nhà lãnh đạo Tây Sơn muốn nhờ Tổng trấn Bengale cử
người huấn luyện quân sĩ giùm, nhưng những ý định của ông ta
cũng không thành hiện thực.
Cuối cùng, mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và hải tặc Trung Hoa
là chủ đề được Dutton đề cập khá kỹ, ông nêu ra những dữ kiện
minh chứng cho mối quan hệ giữa phong trào này và các nhóm hải
tặc Trung Hoa bị chính quyền nhà Thanh tróc nã, phải trôi dạt xuống
các vùng biển phía nam. Đây là một lực lượng quan trọng cả về
nhân số lẫn phương tiện và vũ khí, có những đạo quân hải tặc lên
tới hàng ngàn người và một số tàu thuyền hàng trăm chiếc. Nhà Tây
Sơn đã tuyển mộ thành phần này và sử dụng họ dưới hai hình thức
chính: một là để kiểm soát đường biển, ngăn chặn các tàu thuyền di
chuyển nhằm mục đích tiếp xúc, tiếp tế cho chúa Nguyễn Ánh; hai là
để chia sẻ một phần lợi kiếm được cho phong trào này, bù đắp vào
những khoản thiếu hụt về vật tư và tài chánh. Dutton đã mô tả với
nhiều chi tiết hơn về điểm này: “Được đánh giá cao do khả năng hạn
chế các hoạt động của con người, bọn hải tặc cũng có ích về mặt tài
chánh cho nhà Tây Sơn. Đổi lại với việc cung cấp cho hải tặc nơi trú
ẩn an toàn trong vịnh Bắc phần, nhà Tây Sơn nhận được một tỷ lệ
phần trăm những của cải mà tàu thuyền của chúng cướp được. Về
những của cải được đưa qua vùng biển này, hoạt động tuần tra có
lọt rất nhiều cho cả hai phía. Cứ mỗi mùa xuân và mùa hè, các tàu
hải tặc bắt đầu mùa cướp bóc, rồi khi mùa thu đến thì chúng quay
về nơi trú ẩn an toàn. Murray viết rằng, các hải tặc sẽ nộp của cải
cướp được cho nhà Tây Sơn (ít nhất về mặt lý thuyết); Tây Sơn lại
mang bán chúng ở Đại Việt rồi hoàn từ 20 đến 40% tiền thu được
cho hảỉ tặc...*”.
Những gì George Dutton trình bày trong tác phẩm của ông cho
thấy một thực trạng chung của cả hai bên trong cuộc nội chiến kéo
dài hơn 30 năm, đó là sự câu kết, hợp tác với những thế lực bên
ngoài để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho lực lượng của mình.
Tác giả đã có nhận định khá tinh tế về vấn đề này: “Kết luận rằng
trộm cướp và hải tặc giữ vai trò quan trọng trong cuộc nổi dậy của
nhà Tây Sơn không nhằm làm mất uy tín các lãnh tụ phong trào,
như ý đồ của các sử gia triều Nguyễn, cần trung thực hơn khi miêu
tả thành phần phức tạp của cuộc nổi dậy, phản ánh tính không đồng
nhất của xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XVIII. Cũng như đối thủ của họ
là chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn trước tiên là những kẻ thực dụng,
trong việc tuyển mộ quân đội, họ không nghĩ đến nền tảng xã hội, và
kinh nghiệm, mà chỉ nghĩ đến những con số tuyệt đối. Đối với người
tuyển mộ của nhà Tây Sơn, một kẻ cắp hay cướp biển không phải là
một tên tội phạm cần tiêu diệt, mà là một người có kinh nghiệm
chiến đấu, có thể tự trang bị vũ khí, sẵn sàng thách thức với nhà
cầm quyền*”.
Khi đánh giá chung về nhà Tây Sơn, George Dutton có những
nhận định khá thẳng thắn khi ông viết: "... các lãnh tụ Tây Sơn
không phải là những người canh tân hay những nhà cách mạng, mà
chỉ là những kẻ cơ hội về chính trị. Họ tỏ ra thực dụng khi đưa ra
nhiều lời kêu gọi khác nhau, theo nhiều cách khác nhau, vào những
thời điểm khác nhau, sử dụng những công cụ tìm thấy, và những
tình huống bắt gặp được để tranh thủ sự ủng hộ và để họp pháp hóa
bản thân họ cũng như phong trào của họ. Cho dù một vài sử gia
người Việt cố gán cho cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn những mưu
định lớn lao, một cái nhìn sâu sát hơn cho thấy họ chẳng có một
chiến lược nào tài giỏi, rất ít khi dựa vào một triết lý đặc biệt nào.
Tuyên ngôn của các nhà lãnh đạo Tây Sơn về những mục tiêu nào
đó thường được tính toán nhắm vào lợi ích riêng tư và quyền lực
chính trị cùa họ, mà không nhằm tạo sự chuyển biến cho đất nước
họ hay cho đời sống của cư dân của họ*”
Ở một đoạn khác, tác giả còn tỏ ra gay gắt hơn: “Vì thế, thay vì
miêu tả anh em nhà Tây Sơn như những nhà cách mạng, chính xác
hơn là chúng ta nên xem họ như những diễn viên phụ (cho dù là ghê
gớm) trên một sân khấu chính trị đông đúc và rộng lớn mà diễn viên
và đồ dùng đã được dọn sẵn. Mở rộng cách ẩn dụ này hơn nữa, có
thể nói các lãnh tụ Tây Sơn là những diễn viên không có kịch bản,
tùy nghi ứng biến vai diễn của họ cũng như hướng giải quyết của vở
kịch. Họ được dẫn dắt không phải bởi một tầm nhìn dài hạn mà bởi
động cơ cá nhân ngắn hạn, đáp ứng với những tình huống hay thay
đổi*”.
Trên là nhận định của tác giả về nhà Tây Sơn nói chung, song
tách riêng nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ, Dutton có một cái nhìn
khác, sâu sắc và trọng thị hơn rất nhiều: "... Sự tin tưởng của người
xứ Đàng Ngoài vào vua Quang Trung phát xuất phần lớn từ việc ông
bảo vệ đất nước Đại Việt chống lại cuộc xâm lược của quân nhà
Thanh vào năm 1788. Chính hành động này, hơn bất cứ hành động
nào khác, đã củng cố tầm vóc của ông trong con mắt của các nho sĩ
Bắc hà cũng như trong quảng đại quần chúng. Chiến thắng quân
Thanh của ông đã dứt khoát đưa ông vào ngôi đền của những anh
hùng dân tộc - Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi, là những
người đã bảo vệ đất nước chống lại người láng giềng phương Bắc.
ông gợi nhớ lại chiến công của những vị anh hùng này khi tập họp
quân đội tấn công quân Thanh và chiến công của ông rõ ràng đã kết
nối thành tích của ông với thành tích của các vị anh hùng. Chỗ đứng
của Quang Trung trên vũ đài quốc gia được xác định bởi chiến công
của ông về mặt quân sự hơn là tầm nhìn chính trị của ông. Hình như
là sau nhiều năm xa chiến trường, vua Quang Trung cần đến sự
kích động và một sự tưởng thưởng hậu hĩnh từ một cuộc đối đầu
quân sự khác. Thật vậy, cuộc xâm lăng có trù tính nhắm vào nhà
Thanh chứng tỏ logic quân sự và chính trị được liên kết đến mức độ
nào trong đầu óc của ít nhất một lãnh tụ nhà Tây Sơn*".
Thưa quý độc giả
Dịch ra Việt ngữ một tác phẩm như The Tây Sơn uprising là điều
cực khó, khi phải lồng những văn từ bằng tiếng nước ngoài thời hiện
đại vào khuôn khổ xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII với nhiều dị biệt về
tổ chức chính quyền, phong tục tập quán, ngôn ngữ thông dụng.
Điều này đòi hỏi người dịch phải có một kiến thức nhất định về lịch
sử Việt Nam thời kỳ này để chuyển tải đến người đọc những nội
dung mà tác giả của nó muốn gửi gắm, đồng thời để bổ sung những
thiếu sót hay đính chánh những chi tiết mà tác giả có phần nhầm lẫn
khi đi sâu vào những vấn đề lịch sử phức tạp. Nỗi khó khăn càng
nhân lên nhiều hơn khi phải “hoàn nguyên” những chỗ tác giả trích
dịch ra tiếng Anh một đoạn tác phẩm bằng Việt ngữ. Dù rất cố gắng,
song có những tác phẩm bằng Việt ngữ, người dịch và người biên
tập không tìm thấy để có thể ghi lại đúng nguyên văn phần đã được
tác giả tham khảo và dịch ra tiếng Anh. Trong trường hợp này, sự
dịch ngược trở lại chỉ có thể đáp ứng về mặt nội dung, đành bỏ qua
nguyên văn của tài liệu gốc. Đôi lúc, chúng tôi có được may mắn
phát hiện những sai sót “chết người” của tác giả khi dịch ngôn ngữ
Việt ra tiếng Anh, ví dụ khi ông dịch từ “trăm họ” trong sách Đại Nam
thực lục là “hundred sumames” hay từ “thiên hạ” là “under heaven”,
song những phát hiện ít ỏi đó không có nghĩa là những sai sót như
thế đã được tìm thấy hết.
Vì tác phẩm này dựa vào một nguồn tài liệu thật phong phú nên
chỉ trong hơn 300 trang bản thảo dạng pdf, đã có đến 764 chú thích!
Số lượng chú thích khổng lồ này lại được tập trung hết vào cuối
quyển sách, có thể không thuận tiện cho người đọc, cho nên chúng
tôi đã cố gắng đưa chúng xuống cuối mỗi trang sách để bạn đọc dễ
dàng theo dõi hơn. Dù số chú thích của tác giả đã quá nhiều, người
dịch vẫn thấy có trách nhiệm bổ sung những chú thích của riêng
mình đối với các chi tiết lịch sử mà tác giả đã không trình bày một
cách đầy đủ hay sai lạc. Những chú thích của riêng người dịch sẽ
được ghi thêm ở cuối câu ký hiệu (" ND). Tất nhiên chúng tôi vẫn rất
cần ở quý độc giả sự hợp tác để giúp chúng tôi bổ sung, chấn chỉnh
những sai sót của tác giả hay người dịch trong các lần tái bản sau.
Trân trọng,
Lê Nguyễn
LỜI CẢM TẠ
Tác phầm này xuất phát từ một luận án tiến sĩ tôi đã nghiên cứu
và soạn thảo khi làm việc tại trường Đại học Washington, giữa
những năm 1994 và 2001. Trong thời gian ở Đại học Washington, tôi
nhận được rất nhiều sự hỗ trợ và khích lệ của các thành viên ủy ban
duyệt xét luận án, đặc biệt là bà Laurie Sears và ông Christoph
Giebel. Hướng dẫn luận án cho tôi, Laurie là người mà một nghiên
cứu sinh có thể kỳ vọng: một người tư vấn nhiệt tình, một nhà phê
bình sâu sắc và mạnh dạn. Tôi tự thấy mình may mắn được làm
người học trò của bà. Christoph cũng hay giúp đỡ như vậy, ngay lúc
tác phẩm này mới được khối thảo, ông đã dành cho tôi những lời
phê bình sâu sắc và đặt ra cho tôi những câu hỏi gợi lên nhiều suy
nghĩ. Tôi cũng nhận được sự hỗ trợ và động viên của các bạn
nghiên cứu sinh về lịch sử Việt Nam ở trường Đại học Washington
và nhiều nơi khác, đặc biệt các bạn Judith Henchy, Jamie Anderson,
Michele Thompson, David Biggs, Liam Kelley và Charles Wheeler.
Về sau, khi tôi chuyển bản luận án này thành tác phẩm, tôi được
hỗ trợ bởi những ý kiến sâu sắc, những gợi ý và sửa chữa của
những người đã đọc từng phần hay toàn bộ tác phẩm dưới nhiều
hình thức khác nhau. Tôi đặc biệt biết ơn những lời phê bình rộng
lượng của Victor Lieberman, Peter Zinoman, Li Tana, Nola Cooke,
Liam Kelley và David Chandler. Những phê bình của họ đã khiến tôi
suy nghĩ lại về nhiều điều trong bản thảo và giúp tôi biên soạn một
bản thảo cuối cùng mà tôi hi vọng là sẽ tốt hơn. Tôi cũng đánh giá
cao nhiệt tình của Alexander Woodside khi trả lời một số câu hỏi của
tôi và góp ý với tôi về các vấn đề liên quan đến nguồn tư liệu và
nghiên cứu. Cuối cùng, khi tôi tiếp tục duyệt lại bản thảo, tôi nhận
được sự hỗ trợ và động viên tinh thần của khoa Ngôn ngữ và Văn
hóa châu Á của tôi ở Đại học California, Los Angeles (UCLA), đặc
biệt là tình thân hữu của Thu Hương Nguyễn Võ, Namhee Lee, và
Michael Bourdaghs. Nói lời biết ơn về tất cả những góp ý và phê
bình mà tôi nhận được trong lúc viết ra tác phẩm này, tất nhiên tôi là
người chịu trách nhiệm sau hết đối với sản phẩm cuối cùng và
những khuyết điểm còn lại của nó. Có nhiều cách để viết lịch sử về
nhà Tây Sơn; đây là một trong những cách như thế.
Cuộc nghiên cứu để làm ra tác phẩm này được hỗ trợ một phần
bởi Chương trình học bổng Fulbright-Hayes cho việc nghiên cứu
luận án ở nước ngoài và học bổng VI FLAS. Cuộc nghiên cứu này
cũng không thể có được nếu không có những sự giúp đỡ trong thời
gian tôi lưu lại Việt Nam, Pháp và Rome. Tại Việt Nam, các ông
Nguyễn Quang Ngọc, Phan Huy Lê và Đỗ Bang đã giúp đỡ đặc biệt
cho việc nghiên cứu được dễ dàng, cũng như các viên chức ở Viện
Hán Nôm, các Thư viện Khoa học xã hội ở Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện tỉnh Bình Định ở Qui
Nhơn. Tại Paris, tôi may mắn được tiếp cận kho tài liệu gồm những
thư từ thật cập thiết của các giáo sĩ được lưu trữ tại Văn khố Hội
Truyền giáo Hải ngoại Paris. Vị giám đốc văn khố là Cha Gérard
Moussay và người phụ tá của ông là Brigitte Appavou đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi được sử dụng nguồn tư liệu này. Tôi cũng
muốn cảm tạ các viên chức ở Thư viện Vatican, nơi tôi được tiếp
cận các bản thảo thật hấp dẫn của một giáo dân Việt Nam tên Jesuit
Philiphê Bỉnh.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Jessie Yuan, hiền nội của tôi, và Talia,
con gái tôi. Họ góp ý rất nhiều khi tôi nghiên cứu và viết quyển sách
này, tôi rất biết ơn họ vì điều này. Họ luôn nhắc nhở rằng, những gì
quan trọng đối với tôi không nằm trong những tài liệu ghi chép khô
khan (dù hấp dẫn) về những người khuất bóng đã lâu rồi.
DẪN NHẬP
Mùa xuân năm 1773, một đạo quân nhỏ gồm những bộ tộc sống ở
vùng cao và nông dân ở vùng đồng bằng mở đường đi xuống từ
vùng cao nguyên An Khê, nơi ngày nay là vùng Nam Trung Việt
Nam, để tấn công phủ lỵ Qui Nhơn* có tường thành bao quanh, cầm
đầu đạo quân này là một người buôn trầu cau và làm biện lại, tên
Nguyễn Nhạc. Không tìm ra phương kế tấn công trực diện vào thành,
lực lượng nổi dậy sử dụng một mưu chước. Họ giả vờ bắt người cầm
đầu (Nguyễn Nhạc) bỏ vào cũi và giải giao ông ta cho quan phủ, ông
này cho giam Nhạc trong thành như một tù nhân. Đêm hôm đó, Nhạc
tự giải thoát và mở cổng thành cho đạo quân của ông ta đang chờ
sẵn. Những kẻ nổi dậy nhanh chóng vô hiệu hóa lực lượng bảo vệ
thành, đốt cháy doanh trại, khiến quan Tuần phủ hoảng sợ bỏ chạy*.
Thắng lợi củng cố lòng tự tin, quân nổi dậy nhanh chóng tiến đánh
các mục tiêu khác dọc theo bờ biển. Khi họ di chuyển về vùng quê,
bước dưới một ngọn cờ to màu đỏ, quân lính đội khăn màu đỏ và tạo
ra những tiếng động lớn nhằm đe dọa đối phương. Đạo quân của
Nguyễn Nhạc tịch thu tài sản của những người giàu có bất hợp tác
với họ và mang chia cho những người nông dân nghèo khổ vốn coi
họ như những “kẻ cướp nhân đức và giàu lòng từ thiện*”.
Chuỗi sự kiện này đánh dấu sự khỏi đầu của một trong những thời
kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam, thời kỳ mà sự biến động
về kinh tế và xã hội diễn ra suốt gần ba thập kỷ và ảnh hưởng còn
kéo dài đến thế kỷ XIX. Những cuộc xung đột vào cuối thế kỷ XVIII
nổ ra trên đồng ruộng và ở các vùng duyên hải thuộc lãnh thổ Việt
Nam, cũng như trong những trung tâm quyền lực chính trị đang tồn
tại hoặc sẽ xuất hiện trong lúc cuộc nổi dậy xảy ra. Trước khi đạo
quân nổi dậy bị đánh bại hoàn toàn vào năm 1802, họ đã lật đổ hai
dòng họ trị vì, thống nhất trong thời gian ngắn một lãnh thổ đã được
cai trị lâu dài bởi hai vương triều khác nhau và đánh dấu chấm hết
cho một triều đại kéo dài ba trăm năm. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn
Nhạc và hai người em trai - Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ - quân nổi
dậy cũng khiêu khích và đẩy lùi các cuộc xâm lược qui mô lớn xuất
phát từ Xiêm và Trung Quốc, và bản thân họ cũng tiến hành những
cuộc phiêu lưu quân sự tại hai vương quốc láng giềng Khmer và Lào.
Khi cuộc nổi dậy và tiếp theo là những trận chiến kéo dài, lính đánh
thuê người Pháp, người Bồ Đào Nha, người Trung Hoa và người
Đông Nam Á lao vào cuộc chiến, và hàng trăm ngàn người đã ngã
xuống bởi chiến tranh và nạn đói. Nhiều người khác nữa đã rời bỏ
nhà cửa, ruộng vườn khi xã hội Việt Nam “ từ giai cấp nông dân đến
những thành phần ưu tú về tri thức và chính trị, những nhà tu hành
và các bộ tộc thiểu số - phải đối mặt với một vương quốc đang hồi
biến loạn.
Cuộc nổi dậy mang tên của ấp Tây Sơn là nơi mà những người
lãnh đạo xuất hiện. Với ý nghĩa "núi về phía tây'", cái tên này có liên
quan đến vị trí ngôi làng ở cạnh một vùng đất cao nhô lên từ khu vực
ven biển gần Qui Nhơn, trong một vương quốc mà người thời đó gọi
là Đàng Trong, còn người châu Âu thì gọi là Cochin - China. Cư dân
vùng Qui Nhơn xuất thân từ những nhóm người đi lập nghiệp, những
cựu tù nhân bị bắt giữ trong các cuộc chiến tranh vào thế kỷ XVII
giữa chính quyền họ Nguyễn ở phương Nam và chính quyền họ
Trịnh ở phương Bắc. Hai dòng họ tranh giành nhau quyền lực chính
trị trên suốt chiều dài lãnh thổ Việt Nam. Người Việt ở Qui Nhơn và
vùng nội địa sống rất gần với những nhóm người miền cao rất trung
thành với các chúa Nguyễn. Vùng Qui Nhơn cũng là nơỉ tồn tại
những di tích của vương quốc Chăm hùng mạnh từng thống trị vùng
duyên hải Nam-Trung Việt Nam ngày nay. Khu vực này trở thành nơi
bùng phát sự thù nghịch vây bọc lãnh thổ Việt Nam trong hơn 30
năm trời.
Những anh em lãnh đạo cuộc nổi dậy được người đương thời biết
đến với nhiều cái tên. Người đầu lãnh được viên chỉ huy quân Trịnh
vào chiếm lấy Đàng Trong năm 1774 gọi là "Biện Nhạc ngông
cuồng"; "biện” là từ ám chỉ vai trò viên chức thu thuế* cho địa
phương. Với những người khác thì Nhạc được gọi là "trại chủ*”,
nhằm nói đến sự liên kết quân sự giữa ông ta với nhiều băng cướp
cùng phe. Một vài nhân chứng là giáo sĩ người Âu gọi ông ta là "cái
ông Nhạc bội giáo ấy”, tin rằng ông ta sinh ra trong một gia đình
Thiên Chúa giáo*. Người em trai của ông ta là Nguyễn Huệ cũng có
một biệt hiệu được phổ biến rộng rãi như thế. Với những hải tặc
Trung Hoa mà ông ấy tuyển mộ vào lực lượng hải quân của ông, Huệ
là “Đại soái Việt Nam”, và là “kẻ dấy loạn bảo vệ cho hải tặc*”. Đối
với giới nhân sĩ ở Đàng Ngoài, khi chạm trán với nhân vật huênh
hoang này, người đã xâm chiếm vương quốc của họ vào năm 1786,
ông ấy là "Chế Bồng Nga” - ám chỉ ông vua Chăm cũng từng đánh
chiếm lấy thành Thăng Long (nay là Hà Nội) vào thế kỷ XIV như vậy.
Với những giáo sĩ châu Âu, ông ấy gọi lên hình ảnh những kẻ phiêu
lưu quân sự thời xưa, và họ gọi ông là “Attila khác” hoặc “Alexandre
Đại đế*”. Và, như chúng ta đã biết, đối với một số nông dân Việt, ba
anh em nhà Tây Sơn là “những kẻ cướp nhân đức và giàu lòng từ
thiện”. Chính những gương mặt đầy màu sắc như tắc kè ấy, mà đối
với nhiều người chúng tượng trưng cho nhiều thứ, đã lãnh đạo cuộc
nổi dậy phi thường này.
Hình 1: Bản đồ Đại Việt thế kỷ XVIII cho thấy nhưng trung tâm đô thị lớn, các con sông
và sự phân chia lãnh thổ Trịnh-Nguyễn trước năm 1774.
Nhiều chiêu bài mà những người cầm đầu cuộc nổi dậy sử dụng
đã cho thấy rõ sự hiện diện của những nhóm xã hội phức tạp và
chồng chéo nhau dính líu vào những biến động của thời kỳ này. Trộm
cướp, hải tặc, người Chăm, giáo dân Công giáo, những kẻ phiêu lưu
quân sự, và các viên chức địa phương đều là những thành phần của
một mạng lưới xã hội đã được thử thách một cách dữ dội bởi cuộc
chiến dài 30 năm của nhà Tây Sơn.
Thời kỳ của nhà Tây Sơn quan trọng không đơn thuần do những
động lực xã hội phức tạp đã làm cho nó biến đổi một cách sâu sắc,
hoặc do sự tồn tại lâu dài và tác động lớn lao của nó lên dân tộc Việt
Nam. Điều quan trọng là nó đánh dấu một điểm gãy đổ của lịch sử,
khi mà các động lực nội tại đã tổng lược những chủ đề cơ bản được
dùng từ lâu để định hình tiến trình của lịch sử Việt Nam.
Như một điểm ngắt quãng, thời kỳ của nhà Tây Sơn được xem là
một tiêu biểu cho bi kịch cuối cùng trong sự chuyển dần quyền lực
chính trị và kinh tế tại vùng phía bắc châu thổ sông Hồng về phía
nam xuyên qua đèo Hải Vân và hướng về đồng bằng sông Cửu
Long. Đó là một chuyển biến đã diễn ra trên hai thế kỷ, thể hiện sức
mạnh đang lớn lên và sự thịnh trị của các chúa Nguyễn cùng với sự
mở rộng ảnh hưởng của họ trên vùng lãnh thổ phía nam của kinh đô
Phú Xuân (gần Huế ngày nay). Một chuyển biến cuối cùng đã làm
nảy sinh hai nhà nước độc lập với nhau về mặt chính trị - điều mà
nhà nghiên cứu Li Tana gọi là “hai nước Đại Việt” - với nhà Nguyễn
kiểm soát các lãnh thổ ở phía nam và dòng họ Trịnh ở phía bắc,
người Việt gọi là Đàng Ngoài, còn người châu Âu thì gọi là Đông
Kinh*. Sự kiện nhà Tây Sơn xâm chiếm Đàng Ngoài, khởi đầu vào
năm 1786, đã kết thúc chế độ tự trị về mặt chính trị của vùng này và
bắt đầu một tiến trình theo đó thế lực ở phía nam vươn lên, trước
tiên bởi chế độ mới do những người nổi dậy lập nên và sau đó, bởi
các chúa Nguyễn đã đánh bại họ.
Giai đoạn này cũng được đẩy nhanh bởi sự dính líu của người
châu Âu (đặc biệt phần lớn là người Pháp) vào vấn đề chính trị nội
bộ của người Việt Nam và của người Việt Nam vào những vấn đề
thuộc về lục địa Đông Nam Á. Cho dù sự tiếp xúc giữa người châu
Âu và người Việt đã bắt đầu từ thế kỷ XVI và đã trở nên ổn định vào
cuối thế kỷ XVIII, song sự dính líu của các giáo sĩ Pháp và hải tặc
vào đời sống chính trị của Đại Việt đã dâng lên rất cao trong cuộc
xung đột với nhà Tây Sơn. Điều này mở đường cho sự đính líu về
mặt quân sự và chính trị về sau này của người Pháp tại bán đảo
Đông Dương, dẫn đến những hậu quả to lớn vào giữa thế kỷ XIX. Ở
cùng thời điểm này, những năm tháng của triều đại Tây Sơn cũng
cho thấy sự gia tăng dính líu của người Việt vào những vấn đề chính
trị của các lân bang, bao gồm các vương quốc của người Khmer,
người Xiêm và người Lào. Có lúc người Xiêm trở thành đồng minh
của chúa Nguyễn trong cuộc chiến chống lại nhà Tây Sơn, trong lúc
các sứ giả Tây Sơn tìm cách tranh thủ sự hỗ trợ của người Xiêm cho
mục tiêu riêng của họ. Quân đội Tây Sơn cũng từng xâm chiếm lãnh
thổ của cả Chân Lạp lẫn Lào, lôi cuốn họ vào cuộc xung đột giữa
những người Việt với nhau. Vì thế mà những biến động vào thời kỳ
này đã đẩy người Việt dính líu sâu hơn vào các vấn đề chính trị của
lục địa Đông Nam Á diễn ra mạnh mẽ vào thế kỷ XIX. Trong khi
chúng ta có thể xem thời đại của nhà Tây Sơn là thời đại của sự gián
đoạn, nó cũng chứng tỏ được nhiều yếu tố liên tục trong một tiến
trình dài hơn của lịch sử Việt Nam.
Những điều này được tìm thấy trong cái cách mà các nhà lãnh
đạo chính trị Đại Việt sử dụng để thiết lập chế độ hợp pháp của họ
thông qua các tuyên bố dị thường và mang tính thể chế, thông qua
bản chất mối quan hệ bất đồng giữa nhà nước và cư dân của họ, mối
tương tác giữa người Việt ở vùng đồng bằng với nhiều nhóm dân tộc
khác nhau, bao gồm người ở vùng cao, người Hoa, người Chăm, vai
trò của những danh ngôn và thuật hùng biện của Khổng phu tử trong
việc trị nước và kiểm soát xã hội, và từ đó, định ra những giới hạn
thực sự. Các lãnh tụ Tây Sơn liên minh với nhiều nhóm sắc tộc và
thận trọng chiếm đoạt các yếu tố thuộc về di sản lịch sử của người
Chăm, họ viện dẫn ngay cả các nguyên lý của Khổng giáo để hợp
pháp hóa sự thống trị của họ. Theo cách này, thời đại Tây Sơn có thể
được xem vừa là thời kỳ chuyển tiếp dẫn đến sự trỗi dậy của những
thế lực mới mẻ có thể định hình cho những gì mà người Việt đã trải
qua trong các thế kỷ XIX và XX, vừa là một thế giới vi mô chứa đựng
những mặt cơ bản của kinh nghiệm lịch sử lâu dài của người Việt.
Công trình nghiên cứu này khảo sát những động lực của thời đại
Tây Sơn bằng cách phân tích mối quan hệ giữa các lãnh tụ Tây Sơn
nhiều nhóm xã hội, sắc tộc và kinh tế hình thành trong xã hội Đại Việt
thế kỷ XVIII. Điều cần nhấn mạnh là tôi đã sử dụng những cách thức
liên tục hơn là gián đoạn khi khảo sát những kiểu mẫu lâu đài định
hình mối tương tác giữa các lãnh tụ chính trị và những nhóm khác
nhau, trên danh nghĩa thuộc quyền hạn của họ. Và rồi, một vài nhóm
này, là người Công giáo hay người Tàu chẳng hạn, đã tạo nên những
tầng lớp xã hội mới bên trong lãnh thổ lớn hơn của người Việt, chống
lại quyền lực của nhà Tây Sơn với những thách thức chưa từng có.
Ngoài ra, tôi đã đưa ra giả thuyết rằng, các lãnh tụ nhà Tây Sơn và
cuộc nổi dậy của họ (và sau này là chế độ của họ) đã đứng giữa một
bên là những thực tế mới mẻ của vương quốc Đàng Trong và một
bên là những mô hình được thiết lập lâu dài khi Đại Việt còn là một
khu vực bị giới hạn về mặt địa lý và dân số. Rõ ràng rằng, cuộc nổi
dậy của nhà Tây Sơn là sản phẩm của một không gian và thời gian
đặc biệt trong vương quốc sống động của nhà Nguyễn. Tuy nhiên,
ảnh hưởng rộng lớn của nó và các cuộc chạm trán với nhiều nhóm
khác nhau ở các vương quốc Đàng Trong và Đàng Ngoài đã cho
thấy nhiều yếu tố vượt quá khoảng không gian và thời gian khởi
nguồn của nó.
Những biến động trong thời đại Tây Sơn phức tạp về mặt chính trị
do một loạt những tác nhân chính trị và quân sự có liên quan và do ở
mảnh đất mà chúng diễn ra. Những lãnh thổ từ lâu bị chia cách trong
hơn một thế kỷ được kết nối trở lại vào giữa những năm 1770 khi
quân Trịnh ở phương Bắc xâm chiếm vùng đất phía nam của Đại Việt
Cuộc phản công sau đó của nhà Tây Sơn vào năm 1786 đã khiến
cho hai khu vực rộng lớn Đàng Trong và Đàng Ngoài trở nên gần gũi
hơn về mặt chính trị. Và rồi, vì những lý do chính trị và địa lý, cả hai
miền lại tiếp tục chia cách nhau trong suốt thời kỳ này. Kinh nghiệm
về những rối loạn thời kỳ Tây Sơn thường rất khác nhau, một sự kiện
với những cấu trúc xã hội và kinh nghiệm lịch sử khác nhau, và với
những phân tranh về chính trị tồn tại cả trước và trong thời kỳ Tây
Sơn. Tuy nhiên, có nhiều kinh nghiệm được chia sẻ cho thấy yêu cầu
của các lãnh tụ nhà Tây Sơn và quân đội của họ hiếm khi được
người dân ở khắp các vùng miền tôn trọng. Trong công trình nghiên
cứu này, tôi sẽ xem những vùng miền này là những thực thể riêng rẽ,
làm nổi bật những khía cạnh của hoàn cảnh và kinh nghiệm riêng
của chúng, cho dù có những lúc tôi cũng nhấn mạnh đến sự tương
đồng giữa chúng với nhau. Thời đại nhà Tây Sơn có thể được nghiên
cứu một cách hữu hiệu từ một trong hai địa thế thuận lợi, ấy vậy mà
tôi đã chọn khảo sát cả hai, có thể đ...
Tác giả: George Dutton
Lê Nguyễn dịch và giới thiệu
NXB tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
ebook©vctvegroup
Tặng Jessief Talia và Miranda
LỜI GIỚI THIỆU
Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và
nhà Tây Sơn là sự kiện đưa đến nhiều dị biệt nhất về mặt quan điểm
hay nhận thức. Nổi bật nhất là quan điểm đưa ra cách nay hơn nửa
thế kỷ, coi phong trào Tây Sơn như cuộc nổi dậy của giới nông dân
bị áp bức, bóc lột, chống lại nhà Nguyễn thối nát và mang lại công
bằng xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân. Sự lý tưởng hóa hầu như
mọi hoạt động của phong trào Tây Sơn đã dẫn đến một số nhận
định chủ quan về thực chất của phong trào này và cũng từ đó, nhiều
sự thật lịch sử liên quan đến phong trào chưa được làm sáng tỏ.
Gần đây, cuộc nội chiến kéo dài 30 năm từ đầu thập niên 1770 đến
đầu thập niên 1800 được nhiều học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài
để tâm tìm hiểu, dựa vào nhiều nguồn tư liệu ở các văn khố nước
ngoài, tiêu biểu là văn khố của Bộ Hải quân và Thuộc địa cũ và Hội
Truyền giáo Hải ngoại Paris (Pháp). Nhờ thế mà số dữ kiện được
đưa ra về thời kỳ này phong phú hơn, nhiều sự thật lịch sử trước
đây, vì lý do này hay lý do khác, còn mơ hồ, chưa thống nhất, nay
được rõ ràng, dứt khoát hơn.
Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho chủ đề này là The Tây
Sơn uprising (Cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn) của giáo sư sử học
người Mỹ George Dutton mà bản dịch đang nằm trên tay quý bạn
đọc. Tác giả là giáo sư bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa châu Á thuộc
trường Đại học California tại Los Angeles (UCLA), Mỹ; từng giảng
dạy môn lịch sử Việt Nam cận và hiện đại, đồng thời là tác giả nhiều
sách viết về xã hội Việt Nam các thế kỷ XVIII, XIX và XX. Riêng tác
phẩm The Tây Sơn Uprising được trường Đại học Hawai'i xuất bản
năm 2006 là một công trình nghiên cứu quan trọng của Dutton về
phong trào Tây Sơn những năm 1771-1802, trong khuôn khổ một
cuộc nội chiến ác liệt và dằng dai kéo dài hơn 30 năm, với những di
chứng còn tồn tại đến thế kỷ XIX.
Dutton đã dành phần lớn tác phẩm này để bàn về mối quan hệ
giữa nhà Tây Sơn với các thành phần xã hội phức tạp lúc bấy giờ,
gồm có giới nông dân, người châu Âu tại Đại Việt, các sắc tộc thiểu
số như người Hoa, người Chăm, người Khmer, đồng bào Thượng
trên cao nguyên và cả những thành phần cư dân mà tác giả gọi là
“những kẻ sống bên lề xã hội”. Ở mỗi chủ đề, tác giả đã tham khảo
nhiều nguồn tư liệu bằng các ngôn ngữ khác nhau để lý giải vấn đề,
chủ yếu nhằm làm sáng tỏ nhiều chi tiết lịch sử còn thiếu sót hay mơ
hồ.
Trước tiên, bàn đến quan điểm xem nhà Tây Sơn là một phong
trào nông dân, Dutton đưa ra một số luận cứ nhằm minh họa cho
cách nhìn của ông. Ông viết: “Người nông dân thời kỳ Tây Sơn là
những kẻ lót đường cho quân đội, là đối tượng của sự lao dịch, là
nguồn tiếp tế và nguồn lợi tức cho phong trào. Những người đàn
ông và đàn bà đó có thể nuôi ước vọng về một cuộc sống tốt hơn,
điều này phản ánh trong sự ủng hộ đầy vẻ lạc quan của họ khi nhìn
thấy những biểu hiện sớm sủa của cuộc nổi dậy, song những ước
vọng đó sớm nhường chỗ cho một thực tế đầy thất vọng và theo
những chứng cứ khả dĩ nhất, ít có người nông dân nào nhìn thấy
một sự cải tiến đáng kể trong đòi sống của họ phát xuất từ hành
động của nhà Tây Sơn*”.
Không phải ai cũng đồng tình với quan điểm của tác giả, song sự
gợi mở của ông tạo nên sức sống mới cho sinh hoạt học thuật về
thời kỳ này đã từ lâu đi theo những lối mòn.
Dutton nhận định rằng, lúc bắt đầu cuộc nổi dậy, nhà Tây Sơn
cũng chỉ tái phân phối những tài sản có giá trị thấp, hoặc lúa gạo
cho người nông dân thay vì thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất của
họ thông qua những chứng từ hợp pháp. Người nông dân trong
cuộc nội chiến 1771-1802 trở thành công cụ lớn nhất cho mục tiêu
tối hậu của anh em Tây Sơn, để rồi, như một nhận định khá chua
chát của Dutton, cuối cùng “họ trở thành kẻ đồng lõa với sự áp bức
chính họ*”, bởi vì sự đóng góp công sức của họ đã được đền đáp
bằng sự bóc lột họ bằng sưu cao thuế nặng.
Trong thành phần những sắc dân thuộc khối thiểu số, qua ngòi
bút của George Dutton, mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và người
Hoa cũng phức tạp không kém. Mối quan hệ này khởi đầu từ việc
thu nhận các lực lượng người Hoa dưới quyền của hai thương nhân
Tập Đình và Lý Tài vào trong hàng ngũ Tây Sơn, và nó chặt chẽ đến
nỗi vào năm 1775, một nhà quan sát người Âu đã viết rằng, phần
lớn quân nổi dậy là người Hoa. Song mối quan hệ đó sớm lụi tàn,
nhường chỗ cho những ân oán kéo dài, nhất là vào thập niên 1780,
khi nhà Tây Sơn tàn sát hàng ngàn người Hoa tại vùng Gia Định.
Cuộc thảm sát này mang màu sắc một sự trả thù cho viên tướng
Tây Sơn Phạm Ngạn bị sát hại bởi đạo quân Hòa Nghĩa gồm phần
lớn là người Hoa, song theo Dutton (và một số tác giả khác), mối
quan hệ căng thẳng giữa nhà Tây Sơn và người Hoa lúc bấy giờ bị
chi phối bởi nỗi lo ngại cộng đồng này là những trung tâm tài chánh
nếu không tự nguyện đóng góp vật chất cho đạo quân nhà Nguyễn
thì ít nhất cũng nằm trong tầm ảnh hưởng và sự chỉ phối của đạo
quân này. Song Dutton cũng cho rằng không phải lúc nào mối quan
hệ giữa nhà Tây Sơn và người Hoa cũng mang màu sắc tiêu cực.
Chỉ một năm sau cuộc thảm sát người Hoa tại Sài Gòn (1782), các
tàu buôn của họ tiếp tục cập bến buôn bán tấp nập.
Đối với người Âu, chủ yếu là những người Pháp đang sống bên
trong hay bên ngoài guồng máy chiến tranh, qua ngòi bút của
Dutton, nhà Tây Sơn thường cho rằng các cuộc thất trận lớn của họ
là do có sự tham gia của những người Âu thiện chiến trong lực
lượng của Nguyễn Ánh. Tuy nhận định này có tính phóng đại ít
nhiều, song họ cũng nỗ lực chiêu dụ những người Pháp có năng lực
về mặt kỹ thuật, công nghệ, gia nhập vào đạo quân của họ. Trường
hợp cựu đại tá công binh Olivier de Puymanel (có tên Việt là ông
Tín), người đã xây thành bát quái (thành Sài Gòn) cho chúa Nguyễn
vào năm 1790, là một ví dụ tiêu biểu cho sự níu kéo của nhà Tây
Sơn đối với người Pháp. Trong tác phẩm của mình, George Dutton
đã viện dẫn tài liệu của một giáo sĩ kể lại câu chuyện vào năm 1795,
Thái sư nhà Tây Sơn là Bùi Đắc Tuyên đã công khai yêu cầu các
giáo sĩ giao Puymanel cho ông ta nếu không muốn các nhà thờ bị
phá hủy. Tuyên còn có ý định nhờ một Tổng trấn ở Manila
(Philippines) bắt giữ Puymanel giùm. Cũng từng có cuộc tiếp xúc
giữa một đại diện thương mại Anh là Charles Chapman với Nguyễn
Nhạc và nhà lãnh đạo Tây Sơn muốn nhờ Tổng trấn Bengale cử
người huấn luyện quân sĩ giùm, nhưng những ý định của ông ta
cũng không thành hiện thực.
Cuối cùng, mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và hải tặc Trung Hoa
là chủ đề được Dutton đề cập khá kỹ, ông nêu ra những dữ kiện
minh chứng cho mối quan hệ giữa phong trào này và các nhóm hải
tặc Trung Hoa bị chính quyền nhà Thanh tróc nã, phải trôi dạt xuống
các vùng biển phía nam. Đây là một lực lượng quan trọng cả về
nhân số lẫn phương tiện và vũ khí, có những đạo quân hải tặc lên
tới hàng ngàn người và một số tàu thuyền hàng trăm chiếc. Nhà Tây
Sơn đã tuyển mộ thành phần này và sử dụng họ dưới hai hình thức
chính: một là để kiểm soát đường biển, ngăn chặn các tàu thuyền di
chuyển nhằm mục đích tiếp xúc, tiếp tế cho chúa Nguyễn Ánh; hai là
để chia sẻ một phần lợi kiếm được cho phong trào này, bù đắp vào
những khoản thiếu hụt về vật tư và tài chánh. Dutton đã mô tả với
nhiều chi tiết hơn về điểm này: “Được đánh giá cao do khả năng hạn
chế các hoạt động của con người, bọn hải tặc cũng có ích về mặt tài
chánh cho nhà Tây Sơn. Đổi lại với việc cung cấp cho hải tặc nơi trú
ẩn an toàn trong vịnh Bắc phần, nhà Tây Sơn nhận được một tỷ lệ
phần trăm những của cải mà tàu thuyền của chúng cướp được. Về
những của cải được đưa qua vùng biển này, hoạt động tuần tra có
lọt rất nhiều cho cả hai phía. Cứ mỗi mùa xuân và mùa hè, các tàu
hải tặc bắt đầu mùa cướp bóc, rồi khi mùa thu đến thì chúng quay
về nơi trú ẩn an toàn. Murray viết rằng, các hải tặc sẽ nộp của cải
cướp được cho nhà Tây Sơn (ít nhất về mặt lý thuyết); Tây Sơn lại
mang bán chúng ở Đại Việt rồi hoàn từ 20 đến 40% tiền thu được
cho hảỉ tặc...*”.
Những gì George Dutton trình bày trong tác phẩm của ông cho
thấy một thực trạng chung của cả hai bên trong cuộc nội chiến kéo
dài hơn 30 năm, đó là sự câu kết, hợp tác với những thế lực bên
ngoài để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho lực lượng của mình.
Tác giả đã có nhận định khá tinh tế về vấn đề này: “Kết luận rằng
trộm cướp và hải tặc giữ vai trò quan trọng trong cuộc nổi dậy của
nhà Tây Sơn không nhằm làm mất uy tín các lãnh tụ phong trào,
như ý đồ của các sử gia triều Nguyễn, cần trung thực hơn khi miêu
tả thành phần phức tạp của cuộc nổi dậy, phản ánh tính không đồng
nhất của xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XVIII. Cũng như đối thủ của họ
là chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn trước tiên là những kẻ thực dụng,
trong việc tuyển mộ quân đội, họ không nghĩ đến nền tảng xã hội, và
kinh nghiệm, mà chỉ nghĩ đến những con số tuyệt đối. Đối với người
tuyển mộ của nhà Tây Sơn, một kẻ cắp hay cướp biển không phải là
một tên tội phạm cần tiêu diệt, mà là một người có kinh nghiệm
chiến đấu, có thể tự trang bị vũ khí, sẵn sàng thách thức với nhà
cầm quyền*”.
Khi đánh giá chung về nhà Tây Sơn, George Dutton có những
nhận định khá thẳng thắn khi ông viết: "... các lãnh tụ Tây Sơn
không phải là những người canh tân hay những nhà cách mạng, mà
chỉ là những kẻ cơ hội về chính trị. Họ tỏ ra thực dụng khi đưa ra
nhiều lời kêu gọi khác nhau, theo nhiều cách khác nhau, vào những
thời điểm khác nhau, sử dụng những công cụ tìm thấy, và những
tình huống bắt gặp được để tranh thủ sự ủng hộ và để họp pháp hóa
bản thân họ cũng như phong trào của họ. Cho dù một vài sử gia
người Việt cố gán cho cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn những mưu
định lớn lao, một cái nhìn sâu sát hơn cho thấy họ chẳng có một
chiến lược nào tài giỏi, rất ít khi dựa vào một triết lý đặc biệt nào.
Tuyên ngôn của các nhà lãnh đạo Tây Sơn về những mục tiêu nào
đó thường được tính toán nhắm vào lợi ích riêng tư và quyền lực
chính trị cùa họ, mà không nhằm tạo sự chuyển biến cho đất nước
họ hay cho đời sống của cư dân của họ*”
Ở một đoạn khác, tác giả còn tỏ ra gay gắt hơn: “Vì thế, thay vì
miêu tả anh em nhà Tây Sơn như những nhà cách mạng, chính xác
hơn là chúng ta nên xem họ như những diễn viên phụ (cho dù là ghê
gớm) trên một sân khấu chính trị đông đúc và rộng lớn mà diễn viên
và đồ dùng đã được dọn sẵn. Mở rộng cách ẩn dụ này hơn nữa, có
thể nói các lãnh tụ Tây Sơn là những diễn viên không có kịch bản,
tùy nghi ứng biến vai diễn của họ cũng như hướng giải quyết của vở
kịch. Họ được dẫn dắt không phải bởi một tầm nhìn dài hạn mà bởi
động cơ cá nhân ngắn hạn, đáp ứng với những tình huống hay thay
đổi*”.
Trên là nhận định của tác giả về nhà Tây Sơn nói chung, song
tách riêng nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ, Dutton có một cái nhìn
khác, sâu sắc và trọng thị hơn rất nhiều: "... Sự tin tưởng của người
xứ Đàng Ngoài vào vua Quang Trung phát xuất phần lớn từ việc ông
bảo vệ đất nước Đại Việt chống lại cuộc xâm lược của quân nhà
Thanh vào năm 1788. Chính hành động này, hơn bất cứ hành động
nào khác, đã củng cố tầm vóc của ông trong con mắt của các nho sĩ
Bắc hà cũng như trong quảng đại quần chúng. Chiến thắng quân
Thanh của ông đã dứt khoát đưa ông vào ngôi đền của những anh
hùng dân tộc - Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi, là những
người đã bảo vệ đất nước chống lại người láng giềng phương Bắc.
ông gợi nhớ lại chiến công của những vị anh hùng này khi tập họp
quân đội tấn công quân Thanh và chiến công của ông rõ ràng đã kết
nối thành tích của ông với thành tích của các vị anh hùng. Chỗ đứng
của Quang Trung trên vũ đài quốc gia được xác định bởi chiến công
của ông về mặt quân sự hơn là tầm nhìn chính trị của ông. Hình như
là sau nhiều năm xa chiến trường, vua Quang Trung cần đến sự
kích động và một sự tưởng thưởng hậu hĩnh từ một cuộc đối đầu
quân sự khác. Thật vậy, cuộc xâm lăng có trù tính nhắm vào nhà
Thanh chứng tỏ logic quân sự và chính trị được liên kết đến mức độ
nào trong đầu óc của ít nhất một lãnh tụ nhà Tây Sơn*".
Thưa quý độc giả
Dịch ra Việt ngữ một tác phẩm như The Tây Sơn uprising là điều
cực khó, khi phải lồng những văn từ bằng tiếng nước ngoài thời hiện
đại vào khuôn khổ xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII với nhiều dị biệt về
tổ chức chính quyền, phong tục tập quán, ngôn ngữ thông dụng.
Điều này đòi hỏi người dịch phải có một kiến thức nhất định về lịch
sử Việt Nam thời kỳ này để chuyển tải đến người đọc những nội
dung mà tác giả của nó muốn gửi gắm, đồng thời để bổ sung những
thiếu sót hay đính chánh những chi tiết mà tác giả có phần nhầm lẫn
khi đi sâu vào những vấn đề lịch sử phức tạp. Nỗi khó khăn càng
nhân lên nhiều hơn khi phải “hoàn nguyên” những chỗ tác giả trích
dịch ra tiếng Anh một đoạn tác phẩm bằng Việt ngữ. Dù rất cố gắng,
song có những tác phẩm bằng Việt ngữ, người dịch và người biên
tập không tìm thấy để có thể ghi lại đúng nguyên văn phần đã được
tác giả tham khảo và dịch ra tiếng Anh. Trong trường hợp này, sự
dịch ngược trở lại chỉ có thể đáp ứng về mặt nội dung, đành bỏ qua
nguyên văn của tài liệu gốc. Đôi lúc, chúng tôi có được may mắn
phát hiện những sai sót “chết người” của tác giả khi dịch ngôn ngữ
Việt ra tiếng Anh, ví dụ khi ông dịch từ “trăm họ” trong sách Đại Nam
thực lục là “hundred sumames” hay từ “thiên hạ” là “under heaven”,
song những phát hiện ít ỏi đó không có nghĩa là những sai sót như
thế đã được tìm thấy hết.
Vì tác phẩm này dựa vào một nguồn tài liệu thật phong phú nên
chỉ trong hơn 300 trang bản thảo dạng pdf, đã có đến 764 chú thích!
Số lượng chú thích khổng lồ này lại được tập trung hết vào cuối
quyển sách, có thể không thuận tiện cho người đọc, cho nên chúng
tôi đã cố gắng đưa chúng xuống cuối mỗi trang sách để bạn đọc dễ
dàng theo dõi hơn. Dù số chú thích của tác giả đã quá nhiều, người
dịch vẫn thấy có trách nhiệm bổ sung những chú thích của riêng
mình đối với các chi tiết lịch sử mà tác giả đã không trình bày một
cách đầy đủ hay sai lạc. Những chú thích của riêng người dịch sẽ
được ghi thêm ở cuối câu ký hiệu (" ND). Tất nhiên chúng tôi vẫn rất
cần ở quý độc giả sự hợp tác để giúp chúng tôi bổ sung, chấn chỉnh
những sai sót của tác giả hay người dịch trong các lần tái bản sau.
Trân trọng,
Lê Nguyễn
LỜI CẢM TẠ
Tác phầm này xuất phát từ một luận án tiến sĩ tôi đã nghiên cứu
và soạn thảo khi làm việc tại trường Đại học Washington, giữa
những năm 1994 và 2001. Trong thời gian ở Đại học Washington, tôi
nhận được rất nhiều sự hỗ trợ và khích lệ của các thành viên ủy ban
duyệt xét luận án, đặc biệt là bà Laurie Sears và ông Christoph
Giebel. Hướng dẫn luận án cho tôi, Laurie là người mà một nghiên
cứu sinh có thể kỳ vọng: một người tư vấn nhiệt tình, một nhà phê
bình sâu sắc và mạnh dạn. Tôi tự thấy mình may mắn được làm
người học trò của bà. Christoph cũng hay giúp đỡ như vậy, ngay lúc
tác phẩm này mới được khối thảo, ông đã dành cho tôi những lời
phê bình sâu sắc và đặt ra cho tôi những câu hỏi gợi lên nhiều suy
nghĩ. Tôi cũng nhận được sự hỗ trợ và động viên của các bạn
nghiên cứu sinh về lịch sử Việt Nam ở trường Đại học Washington
và nhiều nơi khác, đặc biệt các bạn Judith Henchy, Jamie Anderson,
Michele Thompson, David Biggs, Liam Kelley và Charles Wheeler.
Về sau, khi tôi chuyển bản luận án này thành tác phẩm, tôi được
hỗ trợ bởi những ý kiến sâu sắc, những gợi ý và sửa chữa của
những người đã đọc từng phần hay toàn bộ tác phẩm dưới nhiều
hình thức khác nhau. Tôi đặc biệt biết ơn những lời phê bình rộng
lượng của Victor Lieberman, Peter Zinoman, Li Tana, Nola Cooke,
Liam Kelley và David Chandler. Những phê bình của họ đã khiến tôi
suy nghĩ lại về nhiều điều trong bản thảo và giúp tôi biên soạn một
bản thảo cuối cùng mà tôi hi vọng là sẽ tốt hơn. Tôi cũng đánh giá
cao nhiệt tình của Alexander Woodside khi trả lời một số câu hỏi của
tôi và góp ý với tôi về các vấn đề liên quan đến nguồn tư liệu và
nghiên cứu. Cuối cùng, khi tôi tiếp tục duyệt lại bản thảo, tôi nhận
được sự hỗ trợ và động viên tinh thần của khoa Ngôn ngữ và Văn
hóa châu Á của tôi ở Đại học California, Los Angeles (UCLA), đặc
biệt là tình thân hữu của Thu Hương Nguyễn Võ, Namhee Lee, và
Michael Bourdaghs. Nói lời biết ơn về tất cả những góp ý và phê
bình mà tôi nhận được trong lúc viết ra tác phẩm này, tất nhiên tôi là
người chịu trách nhiệm sau hết đối với sản phẩm cuối cùng và
những khuyết điểm còn lại của nó. Có nhiều cách để viết lịch sử về
nhà Tây Sơn; đây là một trong những cách như thế.
Cuộc nghiên cứu để làm ra tác phẩm này được hỗ trợ một phần
bởi Chương trình học bổng Fulbright-Hayes cho việc nghiên cứu
luận án ở nước ngoài và học bổng VI FLAS. Cuộc nghiên cứu này
cũng không thể có được nếu không có những sự giúp đỡ trong thời
gian tôi lưu lại Việt Nam, Pháp và Rome. Tại Việt Nam, các ông
Nguyễn Quang Ngọc, Phan Huy Lê và Đỗ Bang đã giúp đỡ đặc biệt
cho việc nghiên cứu được dễ dàng, cũng như các viên chức ở Viện
Hán Nôm, các Thư viện Khoa học xã hội ở Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện tỉnh Bình Định ở Qui
Nhơn. Tại Paris, tôi may mắn được tiếp cận kho tài liệu gồm những
thư từ thật cập thiết của các giáo sĩ được lưu trữ tại Văn khố Hội
Truyền giáo Hải ngoại Paris. Vị giám đốc văn khố là Cha Gérard
Moussay và người phụ tá của ông là Brigitte Appavou đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi được sử dụng nguồn tư liệu này. Tôi cũng
muốn cảm tạ các viên chức ở Thư viện Vatican, nơi tôi được tiếp
cận các bản thảo thật hấp dẫn của một giáo dân Việt Nam tên Jesuit
Philiphê Bỉnh.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Jessie Yuan, hiền nội của tôi, và Talia,
con gái tôi. Họ góp ý rất nhiều khi tôi nghiên cứu và viết quyển sách
này, tôi rất biết ơn họ vì điều này. Họ luôn nhắc nhở rằng, những gì
quan trọng đối với tôi không nằm trong những tài liệu ghi chép khô
khan (dù hấp dẫn) về những người khuất bóng đã lâu rồi.
DẪN NHẬP
Mùa xuân năm 1773, một đạo quân nhỏ gồm những bộ tộc sống ở
vùng cao và nông dân ở vùng đồng bằng mở đường đi xuống từ
vùng cao nguyên An Khê, nơi ngày nay là vùng Nam Trung Việt
Nam, để tấn công phủ lỵ Qui Nhơn* có tường thành bao quanh, cầm
đầu đạo quân này là một người buôn trầu cau và làm biện lại, tên
Nguyễn Nhạc. Không tìm ra phương kế tấn công trực diện vào thành,
lực lượng nổi dậy sử dụng một mưu chước. Họ giả vờ bắt người cầm
đầu (Nguyễn Nhạc) bỏ vào cũi và giải giao ông ta cho quan phủ, ông
này cho giam Nhạc trong thành như một tù nhân. Đêm hôm đó, Nhạc
tự giải thoát và mở cổng thành cho đạo quân của ông ta đang chờ
sẵn. Những kẻ nổi dậy nhanh chóng vô hiệu hóa lực lượng bảo vệ
thành, đốt cháy doanh trại, khiến quan Tuần phủ hoảng sợ bỏ chạy*.
Thắng lợi củng cố lòng tự tin, quân nổi dậy nhanh chóng tiến đánh
các mục tiêu khác dọc theo bờ biển. Khi họ di chuyển về vùng quê,
bước dưới một ngọn cờ to màu đỏ, quân lính đội khăn màu đỏ và tạo
ra những tiếng động lớn nhằm đe dọa đối phương. Đạo quân của
Nguyễn Nhạc tịch thu tài sản của những người giàu có bất hợp tác
với họ và mang chia cho những người nông dân nghèo khổ vốn coi
họ như những “kẻ cướp nhân đức và giàu lòng từ thiện*”.
Chuỗi sự kiện này đánh dấu sự khỏi đầu của một trong những thời
kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam, thời kỳ mà sự biến động
về kinh tế và xã hội diễn ra suốt gần ba thập kỷ và ảnh hưởng còn
kéo dài đến thế kỷ XIX. Những cuộc xung đột vào cuối thế kỷ XVIII
nổ ra trên đồng ruộng và ở các vùng duyên hải thuộc lãnh thổ Việt
Nam, cũng như trong những trung tâm quyền lực chính trị đang tồn
tại hoặc sẽ xuất hiện trong lúc cuộc nổi dậy xảy ra. Trước khi đạo
quân nổi dậy bị đánh bại hoàn toàn vào năm 1802, họ đã lật đổ hai
dòng họ trị vì, thống nhất trong thời gian ngắn một lãnh thổ đã được
cai trị lâu dài bởi hai vương triều khác nhau và đánh dấu chấm hết
cho một triều đại kéo dài ba trăm năm. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn
Nhạc và hai người em trai - Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ - quân nổi
dậy cũng khiêu khích và đẩy lùi các cuộc xâm lược qui mô lớn xuất
phát từ Xiêm và Trung Quốc, và bản thân họ cũng tiến hành những
cuộc phiêu lưu quân sự tại hai vương quốc láng giềng Khmer và Lào.
Khi cuộc nổi dậy và tiếp theo là những trận chiến kéo dài, lính đánh
thuê người Pháp, người Bồ Đào Nha, người Trung Hoa và người
Đông Nam Á lao vào cuộc chiến, và hàng trăm ngàn người đã ngã
xuống bởi chiến tranh và nạn đói. Nhiều người khác nữa đã rời bỏ
nhà cửa, ruộng vườn khi xã hội Việt Nam “ từ giai cấp nông dân đến
những thành phần ưu tú về tri thức và chính trị, những nhà tu hành
và các bộ tộc thiểu số - phải đối mặt với một vương quốc đang hồi
biến loạn.
Cuộc nổi dậy mang tên của ấp Tây Sơn là nơi mà những người
lãnh đạo xuất hiện. Với ý nghĩa "núi về phía tây'", cái tên này có liên
quan đến vị trí ngôi làng ở cạnh một vùng đất cao nhô lên từ khu vực
ven biển gần Qui Nhơn, trong một vương quốc mà người thời đó gọi
là Đàng Trong, còn người châu Âu thì gọi là Cochin - China. Cư dân
vùng Qui Nhơn xuất thân từ những nhóm người đi lập nghiệp, những
cựu tù nhân bị bắt giữ trong các cuộc chiến tranh vào thế kỷ XVII
giữa chính quyền họ Nguyễn ở phương Nam và chính quyền họ
Trịnh ở phương Bắc. Hai dòng họ tranh giành nhau quyền lực chính
trị trên suốt chiều dài lãnh thổ Việt Nam. Người Việt ở Qui Nhơn và
vùng nội địa sống rất gần với những nhóm người miền cao rất trung
thành với các chúa Nguyễn. Vùng Qui Nhơn cũng là nơỉ tồn tại
những di tích của vương quốc Chăm hùng mạnh từng thống trị vùng
duyên hải Nam-Trung Việt Nam ngày nay. Khu vực này trở thành nơi
bùng phát sự thù nghịch vây bọc lãnh thổ Việt Nam trong hơn 30
năm trời.
Những anh em lãnh đạo cuộc nổi dậy được người đương thời biết
đến với nhiều cái tên. Người đầu lãnh được viên chỉ huy quân Trịnh
vào chiếm lấy Đàng Trong năm 1774 gọi là "Biện Nhạc ngông
cuồng"; "biện” là từ ám chỉ vai trò viên chức thu thuế* cho địa
phương. Với những người khác thì Nhạc được gọi là "trại chủ*”,
nhằm nói đến sự liên kết quân sự giữa ông ta với nhiều băng cướp
cùng phe. Một vài nhân chứng là giáo sĩ người Âu gọi ông ta là "cái
ông Nhạc bội giáo ấy”, tin rằng ông ta sinh ra trong một gia đình
Thiên Chúa giáo*. Người em trai của ông ta là Nguyễn Huệ cũng có
một biệt hiệu được phổ biến rộng rãi như thế. Với những hải tặc
Trung Hoa mà ông ấy tuyển mộ vào lực lượng hải quân của ông, Huệ
là “Đại soái Việt Nam”, và là “kẻ dấy loạn bảo vệ cho hải tặc*”. Đối
với giới nhân sĩ ở Đàng Ngoài, khi chạm trán với nhân vật huênh
hoang này, người đã xâm chiếm vương quốc của họ vào năm 1786,
ông ấy là "Chế Bồng Nga” - ám chỉ ông vua Chăm cũng từng đánh
chiếm lấy thành Thăng Long (nay là Hà Nội) vào thế kỷ XIV như vậy.
Với những giáo sĩ châu Âu, ông ấy gọi lên hình ảnh những kẻ phiêu
lưu quân sự thời xưa, và họ gọi ông là “Attila khác” hoặc “Alexandre
Đại đế*”. Và, như chúng ta đã biết, đối với một số nông dân Việt, ba
anh em nhà Tây Sơn là “những kẻ cướp nhân đức và giàu lòng từ
thiện”. Chính những gương mặt đầy màu sắc như tắc kè ấy, mà đối
với nhiều người chúng tượng trưng cho nhiều thứ, đã lãnh đạo cuộc
nổi dậy phi thường này.
Hình 1: Bản đồ Đại Việt thế kỷ XVIII cho thấy nhưng trung tâm đô thị lớn, các con sông
và sự phân chia lãnh thổ Trịnh-Nguyễn trước năm 1774.
Nhiều chiêu bài mà những người cầm đầu cuộc nổi dậy sử dụng
đã cho thấy rõ sự hiện diện của những nhóm xã hội phức tạp và
chồng chéo nhau dính líu vào những biến động của thời kỳ này. Trộm
cướp, hải tặc, người Chăm, giáo dân Công giáo, những kẻ phiêu lưu
quân sự, và các viên chức địa phương đều là những thành phần của
một mạng lưới xã hội đã được thử thách một cách dữ dội bởi cuộc
chiến dài 30 năm của nhà Tây Sơn.
Thời kỳ của nhà Tây Sơn quan trọng không đơn thuần do những
động lực xã hội phức tạp đã làm cho nó biến đổi một cách sâu sắc,
hoặc do sự tồn tại lâu dài và tác động lớn lao của nó lên dân tộc Việt
Nam. Điều quan trọng là nó đánh dấu một điểm gãy đổ của lịch sử,
khi mà các động lực nội tại đã tổng lược những chủ đề cơ bản được
dùng từ lâu để định hình tiến trình của lịch sử Việt Nam.
Như một điểm ngắt quãng, thời kỳ của nhà Tây Sơn được xem là
một tiêu biểu cho bi kịch cuối cùng trong sự chuyển dần quyền lực
chính trị và kinh tế tại vùng phía bắc châu thổ sông Hồng về phía
nam xuyên qua đèo Hải Vân và hướng về đồng bằng sông Cửu
Long. Đó là một chuyển biến đã diễn ra trên hai thế kỷ, thể hiện sức
mạnh đang lớn lên và sự thịnh trị của các chúa Nguyễn cùng với sự
mở rộng ảnh hưởng của họ trên vùng lãnh thổ phía nam của kinh đô
Phú Xuân (gần Huế ngày nay). Một chuyển biến cuối cùng đã làm
nảy sinh hai nhà nước độc lập với nhau về mặt chính trị - điều mà
nhà nghiên cứu Li Tana gọi là “hai nước Đại Việt” - với nhà Nguyễn
kiểm soát các lãnh thổ ở phía nam và dòng họ Trịnh ở phía bắc,
người Việt gọi là Đàng Ngoài, còn người châu Âu thì gọi là Đông
Kinh*. Sự kiện nhà Tây Sơn xâm chiếm Đàng Ngoài, khởi đầu vào
năm 1786, đã kết thúc chế độ tự trị về mặt chính trị của vùng này và
bắt đầu một tiến trình theo đó thế lực ở phía nam vươn lên, trước
tiên bởi chế độ mới do những người nổi dậy lập nên và sau đó, bởi
các chúa Nguyễn đã đánh bại họ.
Giai đoạn này cũng được đẩy nhanh bởi sự dính líu của người
châu Âu (đặc biệt phần lớn là người Pháp) vào vấn đề chính trị nội
bộ của người Việt Nam và của người Việt Nam vào những vấn đề
thuộc về lục địa Đông Nam Á. Cho dù sự tiếp xúc giữa người châu
Âu và người Việt đã bắt đầu từ thế kỷ XVI và đã trở nên ổn định vào
cuối thế kỷ XVIII, song sự dính líu của các giáo sĩ Pháp và hải tặc
vào đời sống chính trị của Đại Việt đã dâng lên rất cao trong cuộc
xung đột với nhà Tây Sơn. Điều này mở đường cho sự đính líu về
mặt quân sự và chính trị về sau này của người Pháp tại bán đảo
Đông Dương, dẫn đến những hậu quả to lớn vào giữa thế kỷ XIX. Ở
cùng thời điểm này, những năm tháng của triều đại Tây Sơn cũng
cho thấy sự gia tăng dính líu của người Việt vào những vấn đề chính
trị của các lân bang, bao gồm các vương quốc của người Khmer,
người Xiêm và người Lào. Có lúc người Xiêm trở thành đồng minh
của chúa Nguyễn trong cuộc chiến chống lại nhà Tây Sơn, trong lúc
các sứ giả Tây Sơn tìm cách tranh thủ sự hỗ trợ của người Xiêm cho
mục tiêu riêng của họ. Quân đội Tây Sơn cũng từng xâm chiếm lãnh
thổ của cả Chân Lạp lẫn Lào, lôi cuốn họ vào cuộc xung đột giữa
những người Việt với nhau. Vì thế mà những biến động vào thời kỳ
này đã đẩy người Việt dính líu sâu hơn vào các vấn đề chính trị của
lục địa Đông Nam Á diễn ra mạnh mẽ vào thế kỷ XIX. Trong khi
chúng ta có thể xem thời đại của nhà Tây Sơn là thời đại của sự gián
đoạn, nó cũng chứng tỏ được nhiều yếu tố liên tục trong một tiến
trình dài hơn của lịch sử Việt Nam.
Những điều này được tìm thấy trong cái cách mà các nhà lãnh
đạo chính trị Đại Việt sử dụng để thiết lập chế độ hợp pháp của họ
thông qua các tuyên bố dị thường và mang tính thể chế, thông qua
bản chất mối quan hệ bất đồng giữa nhà nước và cư dân của họ, mối
tương tác giữa người Việt ở vùng đồng bằng với nhiều nhóm dân tộc
khác nhau, bao gồm người ở vùng cao, người Hoa, người Chăm, vai
trò của những danh ngôn và thuật hùng biện của Khổng phu tử trong
việc trị nước và kiểm soát xã hội, và từ đó, định ra những giới hạn
thực sự. Các lãnh tụ Tây Sơn liên minh với nhiều nhóm sắc tộc và
thận trọng chiếm đoạt các yếu tố thuộc về di sản lịch sử của người
Chăm, họ viện dẫn ngay cả các nguyên lý của Khổng giáo để hợp
pháp hóa sự thống trị của họ. Theo cách này, thời đại Tây Sơn có thể
được xem vừa là thời kỳ chuyển tiếp dẫn đến sự trỗi dậy của những
thế lực mới mẻ có thể định hình cho những gì mà người Việt đã trải
qua trong các thế kỷ XIX và XX, vừa là một thế giới vi mô chứa đựng
những mặt cơ bản của kinh nghiệm lịch sử lâu dài của người Việt.
Công trình nghiên cứu này khảo sát những động lực của thời đại
Tây Sơn bằng cách phân tích mối quan hệ giữa các lãnh tụ Tây Sơn
nhiều nhóm xã hội, sắc tộc và kinh tế hình thành trong xã hội Đại Việt
thế kỷ XVIII. Điều cần nhấn mạnh là tôi đã sử dụng những cách thức
liên tục hơn là gián đoạn khi khảo sát những kiểu mẫu lâu đài định
hình mối tương tác giữa các lãnh tụ chính trị và những nhóm khác
nhau, trên danh nghĩa thuộc quyền hạn của họ. Và rồi, một vài nhóm
này, là người Công giáo hay người Tàu chẳng hạn, đã tạo nên những
tầng lớp xã hội mới bên trong lãnh thổ lớn hơn của người Việt, chống
lại quyền lực của nhà Tây Sơn với những thách thức chưa từng có.
Ngoài ra, tôi đã đưa ra giả thuyết rằng, các lãnh tụ nhà Tây Sơn và
cuộc nổi dậy của họ (và sau này là chế độ của họ) đã đứng giữa một
bên là những thực tế mới mẻ của vương quốc Đàng Trong và một
bên là những mô hình được thiết lập lâu dài khi Đại Việt còn là một
khu vực bị giới hạn về mặt địa lý và dân số. Rõ ràng rằng, cuộc nổi
dậy của nhà Tây Sơn là sản phẩm của một không gian và thời gian
đặc biệt trong vương quốc sống động của nhà Nguyễn. Tuy nhiên,
ảnh hưởng rộng lớn của nó và các cuộc chạm trán với nhiều nhóm
khác nhau ở các vương quốc Đàng Trong và Đàng Ngoài đã cho
thấy nhiều yếu tố vượt quá khoảng không gian và thời gian khởi
nguồn của nó.
Những biến động trong thời đại Tây Sơn phức tạp về mặt chính trị
do một loạt những tác nhân chính trị và quân sự có liên quan và do ở
mảnh đất mà chúng diễn ra. Những lãnh thổ từ lâu bị chia cách trong
hơn một thế kỷ được kết nối trở lại vào giữa những năm 1770 khi
quân Trịnh ở phương Bắc xâm chiếm vùng đất phía nam của Đại Việt
Cuộc phản công sau đó của nhà Tây Sơn vào năm 1786 đã khiến
cho hai khu vực rộng lớn Đàng Trong và Đàng Ngoài trở nên gần gũi
hơn về mặt chính trị. Và rồi, vì những lý do chính trị và địa lý, cả hai
miền lại tiếp tục chia cách nhau trong suốt thời kỳ này. Kinh nghiệm
về những rối loạn thời kỳ Tây Sơn thường rất khác nhau, một sự kiện
với những cấu trúc xã hội và kinh nghiệm lịch sử khác nhau, và với
những phân tranh về chính trị tồn tại cả trước và trong thời kỳ Tây
Sơn. Tuy nhiên, có nhiều kinh nghiệm được chia sẻ cho thấy yêu cầu
của các lãnh tụ nhà Tây Sơn và quân đội của họ hiếm khi được
người dân ở khắp các vùng miền tôn trọng. Trong công trình nghiên
cứu này, tôi sẽ xem những vùng miền này là những thực thể riêng rẽ,
làm nổi bật những khía cạnh của hoàn cảnh và kinh nghiệm riêng
của chúng, cho dù có những lúc tôi cũng nhấn mạnh đến sự tương
đồng giữa chúng với nhau. Thời đại nhà Tây Sơn có thể được nghiên
cứu một cách hữu hiệu từ một trong hai địa thế thuận lợi, ấy vậy mà
tôi đã chọn khảo sát cả hai, có thể đ...
 





