GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 9

TRANG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z5547940853696_c22e1de8ba6efc311887a62f5e563901.jpg Z5547940811788_25a94d4644ada0ae8a28a704440d8808.jpg Z5547940810742_117d36aa84d633f50a06fff45e988b07.jpg Z5547929511935_166ec05c4d6c1475f0eb506d54b29b71.jpg Z5547929456682_261a5bed5fad4a97d7dba4b3ec3699d2.jpg Z5547929448801_126266d54659f74f38252045ee8a1acc.jpg Z5547929432436_7e13bc07c3a7a3d8354de847005f90f5.jpg Z5547929424023_6d8abea7541817a8bd661b044a148b2a.jpg Z5547922612174_13666a638e8142e7c46809c9ba6eeba5.jpg Z5547922611148_793b00be8f3385a236984507ea1413b4.jpg Z5547922592137_6e0c82d7662daef7d6093eb879f1c9a2.jpg Z5547922584614_25fd4f958afbba6a7a1e4a5b5ba14fc5.jpg Z5547940768588_fcb6f157dacd8274e8a9169ac6cd4c22.jpg Z5547940757126_7dd7723249b1fa5bcaac7fc0f61a7730.jpg Z5547921981851_835f3a4d0676ff63f0b1af949b5de289.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WELLCOME

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10

    DANH NGÔN VỀ ĐỌC SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH

    GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY

    Đêm hội lông trì

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 09h:11' 07-03-2024
    Dung lượng: 895.4 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Nhà văn
    NGUYỄN HUY TƯỞNG
    (1912 – 1960)
    Quê quán: Dục Tú, Đông Anh, Hà Nội
    * Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, năm 1996
    Đêm hội Long Trì trong khuôn khổ một cốt truyện gọn, đã lôi
    cuốn được nhiều người xem. Những khung cảnh sinh hoạt tinh thần
    thi vị, tình yêu e ấp và thơ mộng, tội ác lộng hành, sự phẫn nộ của
    quần chúng, bi kịch của kẻ thủ phạm và cũng là nạn nhân, sự trừng
    phạt của công lý… tất cả lần lượt diễn biến qua từng trang sách với
    nhiều màu sắc đạo lý và thẩm mỹ.
    Giáo sư Hà Minh Đức
    CÙNG MỘT TÁC GIẢ
    Văn xuôi:
    • Đêm hội Long Trì
    • An Tư
    • Truyện anh Lục
    • Bốn năm sau
    • Sống mãi với Thủ đô
    • Lá cờ thêu sáu chữ vàng
    • Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng
    • Những truyện hay viết cho thiếu nhi
    • …

    Kịch:
    • Vũ Như Tô
    • Cột đồng Mã Viện
    • Bắc Sơn
    • Những người ở lại
    • Anh Sơ đầu quân
    • Lũy hoa (kịch bản điện ảnh)

    LỜI NÓI ĐẦU
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    Năm 1942, khi tiểu thuyết Đêm hội Long Trì được đăng tải trên
    tạp chí Tri tân thì đó có thể coi là một chứng chỉ để Nguyễn Huy
    Tưởng chính thức khẳng định mình trên văn đàn. Từ sự khởi đầu đầy
    chững chạc này, chỉ trong vòng mấy năm ông cho ra tiếp tiểu thuyết
    An Tư và đặc biệt, vở kịch Vũ Như Tô, tác phẩm rồi đây sẽ trở thành
    kiệt tác của ông.
    Cũng với Đêm hội Long Trì, người đọc sớm nhận thấy ở Nguyễn
    Huy Tưởng một ngòi bút có khuynh hướng lịch sử không trộn lẫn.
    Cho đến khi ấy, tấn bi kịch trong gia đình chúa Trịnh Sâm với sự can
    dự của người đẹp Đặng Thị Huệ đã được nhiều tác giả khai thác, từ
    Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tuỳ bút (Chuyện cũ trong phủ chúa),
    Ngô gia văn phái với cả một trường đoạn nổi tiếng trong Hoàng Lê
    nhất thống chí, cho đến Nguyễn Triệu Luật với tiểu thuyết Bà Chúa
    Chè... Đến lượt mình, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tiếp tục khai thác
    đề tài này, nhưng theo một cách hoàn toàn khác. Nếu như các tác
    phẩm trước đó thường đi sâu vào chuyện riêng tư của nhà chúa, với
    sự đam mê nữ sắc của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, âm mưu và tham
    vọng của Đặng Tuyên phi, sự càn rỡ của Cậu Trời Đặng Lân... trong
    khuôn khổ gia đình ít vượt khỏi khuôn viên phủ chúa, thì ở Đêm hội
    Long Trì, quy mô đề tài cùng các tuyến nhân vật được mở rộng hơn
    rất nhiều. Ngay ở chương đầu tiểu thuyết, cảnh lễ hội bên hồ Long Trì
    đã hướng câu chuyện ra ngoài khung cảnh thiên nhiên với nhiều chất
    sinh hoạt đời thường: cảnh người ta đi dự hội, trai thanh gái lịch
    chen vai đua sắc khoe tài; cảnh người ta bất kể sang hèn, sà vào các
    hàng quán, mặc cả, ăn quà, với không ít lả lơi, phóng túng… Và chính
    trong không khí hội hè dân dã ấy, các nhân vật chính, phụ, lịch sử và
    hư cấu đã lần lượt xuất hiện: nhân vật lịch sử như chúa Tĩnh Đô
    Trịnh Sâm và Tuyên phi Đặng Thị Huệ; nhân vật có thật nhưng với ít
    nhiều hư cấu như Quận mã Đặng Lân và Quận chúa Quỳnh Hoa, nạn
    nhân của gã; nhân vật hoàn toàn do tác giả sáng tạo nên, như thi sĩ
    Bảo Kim cùng nhóm bạn văn nhân của chàng, và đặc biệt, quan Hộ
    thành binh mã sứ Nguyễn Mại, người được chúa tin cậy giao trọng
    trách giữ việc trị an kinh thành.

    Dựa trên cái nền chắc chắn là chuyện bê bối trong phủ chúa mang
    nhiều nét bi kịch gia đình mà sử sách đã ghi lại, nhà văn Nguyễn Huy
    Tưởng đã dựng lên một bức tranh xã hội thời phong kiến với nhiều
    vấn đề được đặt ra. Nếu như ở Hoàng Lê nhất thống chí, gã Đặng
    Lân vì tội hãm hiếp đàn bà con gái, làm loạn kinh thành mà bị chúa
    bắt đi đày, thì ở tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, gã đã bị chính tay quan
    Hộ thành binh mã sứ Nguyễn Mại chém đầu khi đang “gây án”, bất kể
    gã là em trai Tuyên phi Đặng Thị Huệ, người được chúa sủng ái. Chỉ
    một câu đối đáp giữa Đặng Lân và Nguyễn Mại trước khi chàng võ
    quan vung kiếm chém cũng cho thấy tính chất quyết liệt trong sự
    hành xử của người thực thi pháp luật: “Ta là Cậu Trời!” - “Cậu Trời
    cũng chém!”
    Cũng vậy, sự đam mê nữ sắc của chúa Trịnh Sâm được tác giả
    nhìn nhận không chỉ như một bi kịch cá nhân mà còn với những hậu
    quả sâu rộng hơn rất nhiều. Chúng ta biết rằng, theo sử sách, Tĩnh Đô
    Vương vì si mê Đặng Tuyên phi đã gả con gái yêu là nàng Ngọc Lan
    cho gã Đặng Lân ngỗ ngược, em trai của bà. Lại cũng để chiều lòng
    người đẹp, chúa đã không lập con trưởng là Trịnh Tông làm thế tử, để
    rồi khi ngài chết đi, Đặng Thị Huệ đã cùng vây cánh đưa Trịnh Cán,
    con trai bà lên ngôi chúa… Việc tranh ngôi đoạt vị đã dẫn đến kết cục
    là gia đình nhà chúa rồi cả ngôi vị chúa Trịnh đều tiêu vong. Ở tiểu
    thuyết Đêm hội Long Trì, đó không còn là một tấn bi kịch gia đình,
    dòng họ - cho dù là nhà chúa thì vẫn mang tính riêng tư, mà quan
    thiết đến cả sự an nguy của kinh thành, hay rộng hơn, của đất nước.
    Được thể là con rể chúa, gã Đặng Lân càng lộng hành, càn rỡ, khiến
    người dân kinh thành lúc nào cũng nơm nớp lo bị vạ bởi tay hắn, nhà
    cửa nếu không bị cướp bóc thì vợ con bị hãm hiếp… Kỉ cương, phép
    nước không còn là gì khi chỉ một lời xin của Đặng Tuyên phi, chúa lại
    tha cho gã ngay cả những tội tày đình nhất. Dưới một “thể chế” như
    thế, tất cả chỉ trông vào sự tỉnh ngộ của chúa - điều đã không xảy ra,
    hoặc một nhân vật chịu xả thân vì nghĩa lớn - may mà thời ấy có quan
    Hộ thành binh mã xứ Nguyễn Mại, như trong tác phẩm của Nguyễn
    Huy Tưởng.
    Tiểu thuyết Đêm hội Long Trì được đăng báo từ cuối năm 1942,
    xuất bản thành sách năm 1944. Sau đó, do nhiều nguyên nhân, tác
    phẩm đã không được tái bản suốt một thời gian dài. Mãi đến thời kì
    đổi mới, Đêm hội Long Trì mới lại được “tái xuất” và trở thành một
    trong những cuốn sách được biết đến nhiều nhất của Nguyễn Huy
    Tưởng. Tác phẩm cũng được chuyển thể thành chèo, cải lương, kể cả

    điện ảnh - phim Đêm hội Long Trì được khá nhiều người yêu thích.
    Cắt nghĩa vì sao tác phẩm này được chọn làm phim, nhà nghiên cứu
    văn học Trần Quốc Huấn viết: “Những người làm phim Đêm hội
    Long Trì đã phát hiện ra, bằng khứu giác nghề nghiệp của mình,
    một thứ trầm hương kì lạ tàng ẩn trong tiểu thuyết.” Và, “đứng ở
    góc độ điện ảnh, cũng có thể phát hiện ra, nhìn thấy được phần cốt
    cách văn hóa của dân tộc”…
    Thiết nghĩ, không chỉ riêng điện ảnh, mà “thứ trầm hương” và
    “cốt cách văn hóa” ấy cần thiết cho tất cả các tác phẩm văn nghệ để
    đến được với mọi người.
    Xin trân trọng giới thiệu ấn phẩm này của nhà văn Nguyễn Huy
    Tưởng!
    NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG

    I
    Khi bọn Bảo Kim tới Bắc Cung thì hội mới bắt đầu khai mạc. Với
    chúa Tĩnh Đô, hội Trung thu lại càng náo nhiệt, và năm nay hội tưng
    bừng hơn cả mọi năm.
    Được vào đây, chỉ có những người trong hoàng gia, những người
    ngoài phủ chúa, những quan to, những mệnh phụ, những tiểu thư và
    cả những thư sinh cũng được vào. Muốn thưởng công những chiến sĩ
    đã chiến thắng quân Nguyễn ở Phú Xuân, Chúa đặc biệt cho cả những
    quan võ được dự vào cuộc vui rất trọng thể này.
    Hồ Long Trì đã thành một nơi bồng lai mộng ảo, cách biệt với
    phàm trần. Hồ rộng hơn nửa dặm, thả rất nhiều sen ấu. Bên hồ, có
    đắp những ngọn giả sơn rất to bằng đất hoặc bằng đá. Trong hang,
    trong hốc, hoặc trên đỉnh, hoặc dưới chân, hoặc trước hoặc sau ẩn ẩn,
    hiện hiện có những chàng Tương Như, hay những gã Tiêu Lang ngồi
    hòa nhạc, ăn mặc ra vẻ tiên phong đạo cốt. Núi vọng ra những tiếng
    bổng tiếng chìm, tiếng ti, tiếng trúc, nghe lả lướt du dương. Bờ hồ,
    trên cành hàng mấy trăm gốc phù dung, dương liễu có treo muôn thứ
    đèn lồng bằng gấm vóc. Những đèn ấy đều do chúa Tĩnh Đô sai cung
    nữ chế ra, tinh khéo tuyệt vời, mỗi chiếc đáng giá mấy lạng bạc. Xa
    trông như muôn vàn sao lốm đốm sáng.
    Và bàng bạc khắp nơi, tô điểm thêm lên là ánh trăng rằm. Trăng
    không trong, hơi đục, nên cảnh sắc càng thêm mông lung phiếu diểu.
    Đường đi, bóng cây in xuống, khi xóa khi hằn, theo với gió thu. Trời
    chưa mát, nhưng cũng không nực lắm. Hai bên đường, hoặc dựa vào
    chân núi, hoặc nối liền hai ngọn núi, hoặc dựng trên sườn, hoặc dựng
    biệt lập một nơi, có những cửa hàng bán khắp đồ tạp hóa phương
    nam, phương bắc, cho chí thịt, quả, rượu, nem không gì là không có.
    Những quan nội thị đều chít khăn vuông, ăn mặc như đàn bà. Họ giữ
    việc bán hàng.
    Nhưng họ có bán đâu? Bọn cung nữ đi đi lại lại trong chợ, tha hồ
    mà cướp mà mua, không hỏi giá cả gì. Họ tranh nhau lấy những tiếng
    hàng rau hàng cá mà nói chua nói chát lẫn nhau. Những mệnh phụ,
    những tiểu thư cũng bỏ thói đài các, ăn mặc trá hình, người quen

    không nhận ra nhau được, đi lẫn lộn với bọn trên, hoặc mua hoặc
    bán, lời ăn tiếng nói cũng rất là phóng túng.
    Theo ý Chúa, trong đêm duy nhất này, người ta sẽ sống thực tự
    do, nô đùa thực suồng sã, không biết tôn ti trật tự là gì nữa. Và sau
    cuộc vui hỗn hợp này, ai lại trở về bổn phận nấy, có chăng nữa chỉ
    còn giữ chút hương vị cuộc vui như một giấc mộng vàng.
    Chúa Tĩnh Đô chưa ngự tới, nhưng người mỗi lúc một đông. Sáu
    người bạn Bảo Kim cảm thấy cái thú cuồng dại đi bên muôn thức
    bông hoa, phần nhiều đội lốt những đàn bà con gái nhà quê, nhưng
    vẫn không sao giấu được vẻ phong lưu quý phái.
    Duy có Bảo Kim là thờ ơ hết cả. Năm ngoái chàng cũng có cái cảm
    giác mê ly như chúng bạn chàng, nhưng năm nay chàng khác hẳn.
    Mắt chàng chỉ tìm kiếm một người mà đã sáu tháng nay chàng trộm
    nhớ thầm yêu. Chàng chắc rằng trong đêm hội này, thế nào nàng cũng
    ra dự. Nhưng đi đã lâu mà chưa gặp. Chàng dừng lại bên một cây
    dương liễu, mơ mộng nhìn ra Long Trì xem ánh trăng đậu trên những
    lá ấu sen.
    Các bạn vốn yêu Bảo Kim, nên cũng đứng lại theo chàng.
    Lưu Sĩ Trực mải tặng một thiếu nữ đi qua một cụm hoa sen, thấy
    các bạn xúm quanh Bảo Kim, bèn quay lại hỏi:
    - Đang vui, đứng lại là cái gì? Đêm nay một khắc là một nén vàng,
    bỏ qua thì thiệt lắm. Trông kìa, đi mau đến...
    Vừa nói vừa lấy tay chỉ phía bên kia hồ. Chỗ ấy sáng bật hơn mọi
    khu, vì đèn lồng và đèn xếp rất nhiều.
    Một chiếc túi thêu ném trúng ngực Bảo Kim giữa những tiếng
    cười của một bọn thiếu nữ ăn bận lối con gái làng Lim. Người thanh
    niên cúi xuống nhặt lên xem, thì là một túi đựng hai miếng trầu mùi
    thơm thoang thoảng. Đáng nhẽ như mọi năm thì chàng đã sấn lại trêu
    bọn thiếu nữ, mở túi ra lấy trầu mời mọc và bắt đầu một câu chuyện
    tình dứt ra không hết. Nhưng năm nay chàng bỏ qua.
    Chàng cũng chẳng để ý xem ai đã vứt túi. Lãnh đạm và tàn ác,
    chàng tới gốc cây dương liễu, buộc túi gấm vào một đầu cành, rồi

    buông cho cành là xuống mặt nước.
    Trần Thành, người bộc trực nhất trong bọn, hỏi:
    - Anh làm gì mà giận dữ người ta thế?
    Bảo Kim cười, đáp lại:
    - Coi thường hết cả.
    Bọn con gái lấy làm phật ý vì thái độ ghẻ lạnh của chàng. Một
    người vốn mộ văn chương của Bảo Kim và đã sắm một chiếc quạt lụa,
    nan ngà, định xin chàng một bài tứ tuyệt, thấy cử chỉ chàng như thế,
    đành giấu chiếc quạt vào trong bọc.
    Các bạn giục giã. Đỗ Tuấn Giao, xinh đẹp như cô con gái, gắt gỏng
    hỏi Bảo Kim:
    - Thế nào? Bắt người ta chết đứng cả đây à? Si tình nên tính quẩn.
    Có đi thì mới tìm thấy bạn trăm năm, ai người ta làm cỗ sẵn cho
    mình?
    Bảo Kim tự biết làm phiền các bạn, chàng nói:
    - Các anh tha lỗi cho, tôi lãng quên mất. Vậy ta đi nào.
    Họ lại rẽ sóng giai nhân, thẳng chỗ sáng nhất mà đi. Một cái vỏ
    chuối ném vào giữa mặt Bảo Kim, tiếp theo một tràng tiếng chua
    ngoa:
    - Danh sĩ Bảo Kim sang năm đi thi thì trượt nhé!
    Bảo Kim lấy khăn tay lau mặt, thản nhiên không nói gì.
    Nhưng khi bỏ chiếc khăn tay vào túi, nhìn phía trước mặt, chàng
    bỗng rú lên một tiếng vui mừng. Dựa vào chân một cái giả sơn, rất
    cao, là một ngôi hàng rất xinh và sáng sủa, bán rượu, hoa quả và bánh
    trái. Trên tường treo la liệt những câu đối, những bức tứ bình; mấy
    cây dương liễu trước nhà, rủ xuống những dải lụa trắng bay phấp
    phới theo chiều gió.

    Chủ hàng là một thiếu nữ kiều mỵ: Quỳnh Hoa Quận chúa, ái nữ
    Tĩnh Vương, người mà Bảo Kim mơ ước. Trước cửa hàng, khách đã
    ngồi đầy, phần nhiều là những thi nhân mặc khách. Một bọn thị nữ
    đang tấp nập bán hàng.
    Quận chúa trạc 16, 17 tuổi, nàng hơi xanh dưới ánh trăng thu,
    người hơi gầy, nhưng vẻ thanh tú. Nàng bận chiếc áo vải đồng lầm,
    chít khăn vuông mỏ quạ. Mắt nàng chợt gặp mắt Bảo Kim. Chàng
    ngoảnh đi và nàng cúi gằm mặt xuống. Đỗ Tuấn Giao hóm hỉnh nói:
    - Đích thị rồi, Quỳnh Hoa Quận chúa.
    Hoàng Đình Nghiễm, người nhiều tuổi nhất trong bọn hỏi:
    - Vào chứ anh Kim?
    Rồi Trần Thành, Lưu Sĩ Trực và hai người nữa là Vũ Hoành, Lê
    Bá Hổ cùng phá lên cười, khiến cho các cống sĩ ngồi trong hàng đều
    phải ngoảnh ra.
    Bảo Kim còn đang lúng túng thì hai người thị nữ cũng ăn mặc quê
    mùa cầm đèn lồng bước lại, kính cẩn thưa:
    - Xin mời liệt vị vào hàng xơi nước. Nhân gặp tiết thu, cô chúng
    tôi có mở một ngôi hàng nhỏ để được tiếp các văn nhân và tập đòi thi
    lễ. Nay trường bút chiến mới bắt đầu, mời liệt vị cùng vào dự cuộc
    cho thêm phần long trọng.
    Cả bọn đồng thanh nói:
    - Xin đa tạ lĩnh ý.
    Anh em Bảo Kim theo hai người thị nữ bước qua thể môn, trên
    treo một cái đèn tuyệt mỹ, có đề ba chữ “Quần Anh hội”.
    Bọn văn nhân ngồi trước cửa hàng có đến hai ba chục người,
    trước mặt người nào cũng có văn phòng tứ bảo. Thấy có khách lạ, họ
    đứng dậy thi lễ. Nhưng khi nhận kỹ ra là bọn Bảo Kim, người nào
    người ấy đều có ý gờm gờm. Một người còn lẩm bẩm:
    - Chúng nó vào thì mình còn mong giật giải giật lèo làm sao được?

    Trong chốn kinh thành, bọn Bảo Kim đã lừng danh hay chữ. Bảo
    Kim lại trội hơn cả anh em. Người kẻ chợ đã tặng cho chàng tiếng
    danh sĩ. Tuy còn ít tuổi, nhưng chàng đã bác lãm quần thư, nghị luận
    giỏi, văn chương tao nhã.
    Bẩy anh em đến ngồi quanh một cái kỷ. Thị nữ bưng một cái đĩa
    sứ lớn đầy hoa quả, và một khay bạc đầy bánh trái. Một người lễ phép
    thưa:
    - Xin liệt vị chiếu cố.
    Bảo Kim nói:
    - Trước khi nhận quà ban tặng, xin cho dự trường bút chiến đã.
    Chúng tôi có hai bàn tay trắng đến đây, chỉ có chút “quà” văn tự tặng
    chủ nhân. Xin cho dự cuộc...
    Quỳnh Hoa đã tới trước mặt. Nàng tươi cười nói:
    - Đây là chút lễ tiên kiến. Đối với cao sĩ, vật mọn này chỉ khiến kẻ
    yêu văn thêm thẹn. Liệt vị hãy chiếu cố cho. Vả liệt vị đến chậm, nên
    đợi cuộc thi sau. Trong trường văn phải lấy chữ công bình làm cốt.
    Lời nói nhẹ như tơ, tự nó có một nhạc điệu tuyệt vời. Bảo Kim
    đứng ngây nhìn người mà chàng vốn hâm mộ tài sắc. Trước kia chàng
    mới có hân hạnh nhìn trộm nàng ở xa, không ngờ nay lại có cái diễm
    phúc được tới gần người ngọc. Mắt chàng ngốn cái sắc thanh kỳ kia,
    lòng chàng hồi hộp, chàng muốn nói mà không sao nói được.
    Từ chỗ giả sơn cạnh đấy, một bài lưu thủy do một chàng tiêu nào
    đưa lại như lôi hồn chàng theo dòng suối thiên thai.
    Hoàng Đình Nghiễm thay mặt anh em, vòng tay thưa:
    - Tiểu sinh chúng tôi đến chậm, đã là một tội. Lại để lỡ một dịp ca
    tụng trăng thu, và sắc đẹp của nữ chủ nhân, chẳng hóa ra lại thêm
    một tội nữa. Xin nữ chủ nhân cho thi ngay.
    Đỗ Tuấn Giao nói:
    - Xin nữ chủ nhân cứ cho phép, dù làm dở bài, mang tiếng dốt

    chúng tôi cũng xin chịu.
    Quỳnh Hoa nghiêng mình đáp:
    - Đó là quyền liệt vị, tôi đâu dám ngăn cản.
    Đầu đề là “Trung thu Long Trì dạ hội phú” (thể lưu thủy). Văn
    phòng tứ bảo đã đem bày trên kỷ. Các bạn Bảo Kim bắt đầu cấu tứ.
    Chung quanh, chỉ thấy những nét mặt trầm ngâm. Vài người đã hý
    hoáy viết trên giấy hoa tiên.
    Bài ra dễ, nhưng văn cũng dễ sinh sáo. Quỳnh Hoa đã lui đi đâu
    mất. Chàng còn say đắm sắc đẹp và hương thơm của giai nhân. Lòng
    chàng tràn ngập một mối tình bồng bột. Chàng lẳng lặng đứng dậy,
    bước ra khỏi hàng. Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên. Duy các bạn
    chàng biết tính.
    Chàng trèo lên một ngọn giả sơn cao, bao quát cả Long Trì, xa xa
    là Bắc Cung lẩn trong bóng tối. Cả cái lộng lẫy của đêm hội trung thu,
    trăng lồng bóng nước, đèn ẩn cành dương, giọng nói, câu cười, tiếng
    ca, tiếng quản, toàn thể mơ hồ như một giấc chiêm bao. Cả một cuộc
    tao phùng với khách giai nhân và một mối tình chân thành không bờ,
    không bến... Chàng chợt thấy thời khắc mong manh, lưu luyến đêm
    vui, và hồn thơ đột nhiên dào dạt.
    Quỳnh Hoa lấy làm lạ. Nàng lo ngại cho Bảo Kim. Nàng lại tự
    trách có điều chi sơ suất khiến chàng phật ý. Nàng mới gặp chàng
    mấy lần, nhưng đã nghe tiếng chàng nhiều lắm. Đối với chàng công tử
    phong lưu ấy, nàng rất có nhiều thiện cảm, hơn nữa, một mối tình u
    uẩn. Trong ngày hội này, nàng mong gặp chàng và mong nhất được
    chính mình thưởng thức tài văn chương lỗi lạc của chàng. Nàng lo sợ
    không có cái may ấy. Nhìn một loạt những người đang múa bút làm
    văn, nàng chỉ thấy toàn một hạng tầm thường, khí cục ti tiểu, kém
    Bảo Kim xa.
    Nhưng Bảo Kim đã trở vào, chàng như hiện thân của cảm hứng.
    Mọi người ngẩng đầu nhìn chàng, lo sợ một sự kỳ dị. Chàng về chỗ,
    chậm rãi mài mực, dầm ngọn bút lông, rồi say sưa như một người
    đánh bạc, chàng cắm đầu thảo, chỉ một loáng ba tờ hoa tiên đã đặc và
    bài phú đã thành. Khi chàng đề lạc khoản xong thì đã có nhiều người
    đem quyển nộp. Chàng nén lòng chờ các bạn cùng đem lên một thể.

    Quỳnh Hoa chuyển giao hơn 30 quyển vào trong vườn sau, một
    nơi tịch mịch và u nhã, ở đó có hơn mười vị đại khoa đang ngồi uống
    trà bên khói trầm nghi ngút. Nàng vốn là một tay giỏi về thi phú,
    nhưng tự biết còn trẻ, ý tứ còn nông nổi, không thể thưởng thức hết
    được những áng văn của các danh sĩ đất thần kinh, vì thế nàng mới
    xin Tĩnh Vương tuyển giúp nàng những tay lão thành hay chữ để
    chấm văn thi. Các cụ là chân đại khoa, nên xem văn rất chóng. Chấm
    đã được hơn mười bài, mặt Quỳnh Hoa chợt sáng lên. Nàng thấy
    quan Thị lang Ngô Thời Sĩ cầm lấy quyển mà nàng biết ngay là của
    Bảo Kim; có lẽ chỉ duy có chàng viết thảo.
    Ngô Thị lang cau mặt nói:
    - Có được phép viết thảo không?
    - Không được, - một cụ đáp.
    - Nhưng nét bút tươi và tung hoành, xem mấy câu đầu thì thực là
    tài ba lỗi lạc.
    Cụ bỗng cầm bút son khuyên lia khuyên lịa. Quỳnh Hoa sung
    sướng. Ngô Thị lang là chân Bắc đẩu trong cõi văn chương thời bấy
    giờ, cụ đã khuyên, chắc văn phải cứng lắm. Cụ bỗng quăng bút nói to:
    - Thiên cổ kỳ tài. Bọn mình không sánh kịp. Hay lắm, hay lắm,
    không muốn chấm những bài khác nữa. Khí hùng kính như phú A
    Phòng, đài các như tự Đằng Vương các, nhẹ nhàng phiêu dật như phú
    Xích Bích, thực là lời gấm, lời vóc, suối ngọc, kho vàng. Tuyệt phẩm
    văn chương, nói không hết được.
    Rồi cụ lanh lảnh ngâm bài phú của Bảo Kim cho các bạn nghe.
    Quỳnh Hoa cảm thấy cái thú tuyệt kỳ nghe bài văn tao nhã, sáng dịu
    như vầng trăng, nhẹ như gió thu, dâng muôn tiếng nhạc, khêu vạn lời
    tình.
    Ngô Thị lang nhắp chén trà nói:
    - Cả một đoạn sau cùng, sau khi tả hết cuộc vui, buông lời nhớ
    tiếc, tưởng bóng giai nhân, bùi ngùi cho thân thế, cảm khái nồng nàn,
    chí tình chí thiết, thực mà không thô, tình tứ mà không dâm, lời đẹp
    mà không sáo.

    Quay hỏi Quỳnh Hoa:
    - Chỉ tiếc bài phú này viết thảo. Chẳng hay Quận chúa nghĩ sao?
    Quỳnh Hoa nói:
    - Văn chương là phần chính, tôi không bắt buộc viết chân
    phương. Xin Thị lang và các quan cứ xem văn mà đánh giá.
    Thị lang nói:
    - Quận chúa dạy thế là phải.
    Một lúc sau, chấm xong, các quan theo Quỳnh Hoa ra ngoài hàng.
    Bọn văn nhân đang ngồi hỏi nhau về chữ, vặn nhau về điển, hoặc ăn
    bánh, hoặc uống trà, thấy các quan và Quận chúa đi ra, đều một loạt
    đứng dậy.
    Ngô Thị lang nói:
    - Xin liệt vị an tọa. Nhân đời thịnh trị, ta mới có cuộc vui tao nhã
    này. Chúng tôi được chấm văn anh em đây thật là một điều đặc hạnh.
    Chúng tôi đã lấy bài phú của Bảo Kim nhất. Đáng lẽ thì bài ấy không
    trúng cách, vì viết thảo. Nhưng thể theo lời nữ chủ nhân đây, chúng
    tôi cứ xem văn mà đánh giá. Chúng tôi sợ là có tuổi, ý kiến hồ đồ, vậy
    xin liệt vị chọn lấy một người có giọng tốt, ta cùng bình bài phú ấy và
    thưởng thức một áng văn hay trong đêm thanh gió mát này. Các vị
    nghĩ sao?
    Mọi người thấy Ngô Thị lang thì chắc chắn là sự chấm văn không
    có gì nhầm lẫn. Huống chi họ vẫn phục tiếng Bảo Kim, nên thấy giải
    nhất về chàng, không ai lấy làm lạ.
    Một người nói:
    - Triều đình còn lấy những lời cụ lớn làm khuôn vàng thước ngọc,
    huống chi là bọn ngu muội như anh em chúng tôi. Chúng tôi biết Đỗ
    Tuấn Giao là người tốt giọng, xin cử anh ấy vào việc bình văn.
    - Phải lắm. Phải lắm. Xin cử Đỗ Tuấn Giao.

    Bảo Kim như cuồng dại. Chàng có cần chi giải nhất? Nhưng được
    để ý trước người đẹp mà chàng mơ ước, chàng say sưa sung sướng
    hơn ông tiến sĩ vinh qui. Huống chi lại được chính Quỳnh Hoa bênh
    vực mình, chàng thấy chạy trong thớ thịt một nguồn vui tươi sáng.
    Đỗ Tuấn Giao đã tiếp lấy bài phú, và cất tiếng sang sảng bình văn.
    Cử tọa trước còn xôn xao, nhưng sau bị lôi cuốn bởi câu văn hay, ý
    tưởng cao siêu, cảnh tình như vẽ, và nhất là bởi cái nhạc điệu tuyệt
    luân nó khiến cho bài phú thành hẳn một bản đàn réo rắt. Quỳnh Hoa
    chỉ lo bài phú hết, và Bảo Kim trầm ngâm nghe bạn đọc, thỉnh thoảng
    lấy làm ngạc nhiên, vì nhiều câu xuất ư ý ngoại, chàng tưởng như
    mình không sao đạt được.
    Tuấn Giao đọc xong, trong bọn cống sĩ có người thở dài nói:
    - Thực là thần bút. Tô Đông Pha sống lại cũng không thể làm hay
    hơn được, giải nhất thực là xứng đáng, chúng tôi còn lâu mới có cái
    bút lực siêu phàm như thế...
    Nói chưa dứt lời, chợt có tiếng kêu thất thanh và cảnh Long Trì
    bỗng ồn ào như chợ. Tiếng ca quản im đi. Bọn phụ nữ chạy tán loạn.
    Lắng tai có tiếng kêu “Cậu Trời! Cậu Trời đấy! Chị em trốn đi!”.
    Quỳnh Hoa bỗng tái nhợt đi, nàng rú lên:
    - Cậu Trời! Khổ quá!
    Bọn cống sĩ nhiều người thất sắc. Vài người đứng dậy. Bảo Kim
    vội vàng đứng lên:
    - Anh em định chạy đấy ư? Không thể được. Anh em hãy ngồi lại,
    ta đội ơn chủ nhân, không nhẽ lại bỏ đi. Người quân tử có bao giờ xử
    sự như thế? Cậu Trời là cái quái gì mà anh em sợ?
    Tưởng như có một trận cuồng phong thổi trong đám hội, người
    chạy như ong. Tiếng kêu, tiếng thét, tiếng gọi nhau liên tiếp. Cả bọn
    còn đang ngơ ngẩn, thì một thiếu phụ đầu tóc rũ rượi chạy vào hổn
    hển:
    - Ai cứu tôi với. Cậu Trời...

    Một người chạy theo vào. Ấy là một gã trai trẻ, người tầm thước,
    mắt diều hâu, lông mày rậm, râu ria nhiều, nhưng cạo nhẵn, ăn mặc
    rất sang. Đi sau là một lũ gia nhân, thảy đều cầm dao, cầm gậy. Chỉ
    một bước, người trai trẻ đã nhảy tới, giậm chân lên mông người thiếu
    phụ, cười nói:
    - Trói cổ nó đem về phủ cho ta.
    Hơi rượu nồng nặc xông ra theo lời nói. Người thiếu phụ ấy cố
    kêu:
    - Lạy Cậu Trời, con là gái có chồng.
    Các quan chấm văn đã lui cả vào trong vườn, duy có Ngô Thị lang
    đứng đấy thấy thế quát:
    - Quốc cữu không được vô lễ.
    Người trai trẻ cười ngặt nghẽo:
    - À! Thị lang họ Ngô, lão hủ nho. Mày không biết quan Tham tụng
    tao đánh giữa đường còn câm miệng như hến, thứ mày đã đáng kể gì.
    Khí uất của Bảo Kim dâng lên tới cổ. Chàng bước lại, các bạn
    chàng theo sau, Bảo Kim quát:
    - Loài súc sinh, quân vô liêm sỉ. Mau bước ra khỏi chốn này.
    Người trai trẻ lại cười ha hả:
    - A thằng nhãi con, muốn vuốt râu hùm. Quân bay đâu, đánh chết
    chúng nó đi cho tao, tội vạ đâu tao chịu.
    Những tiếng dạ ran, bọn gia nhân xông vào đập bọn Bảo Kim túi
    bụi.
    Quỳnh Hoa vội chạy ra. Người trai trẻ bỗng lùi lại, bị thôi miên
    bởi vẻ đẹp thanh kỳ. Một tên theo hầu nói:
    - Thưa cậu, đấy là Quận chúa Quỳnh Hoa.

    Người trai trẻ ngạc nhiên:
    - Quỳnh Hoa Quận chúa. Ta không ngờ nàng lại đẹp nhường ấy.
    Thực là một vưu vật.
    Nhưng Quỳnh Hoa đã chạy ra, cất tiếng oanh phán:
    - Cậu không biết đây là chốn nào sao? Ra ngay kẻo phụ vương đến
    bây giờ.
    - Quận chúa đừng dọa ta, Chúa thượng đến cũng thế mà thôi.
    Quỳnh Hoa giận sôi lên. Người trai trẻ vẫn nhìn nàng chòng chọc,
    mắt say sưa. Nàng bỗng rú lên, một tên gia nhân bổ giữa đầu Đỗ Tuấn
    Giao một tay thước, chàng ngã lăn xuống.
    Quỳnh Hoa lúng túng không biết xử trí ra sao. Cuộc hỗn chiến
    mỗi lúc một dữ dội.
    Bọn gia nhân giẫm cả lên người thiếu phụ một cách tàn nhẫn.
    Xem chừng thì bọn ấy thắng thế, và một nửa văn nhân đã ôm đầu
    chạy trốn.
    Vừa lúc ấy, một người thanh niên đi vào, ăn vận lối võ quan, mép
    để ria, mình đeo gươm, trông có vẻ ngang tàng hào mại. Người ấy nói
    lớn:
    - Xin Quận chúa yên tâm, tiểu tướng xin giúp một tay.
    Nói xong, thản nhiên xông lại chỗ đánh nhau... Chỉ nháy mắt,
    chàng đã vít cổ người trai trẻ dúi xuống, và quát to bảo bọn gia nhân:
    - Lũ kia, muốn sống thì buông tay ra, không thì tao giết chết chủ
    chúng bay.
    Người trai trẻ kêu:
    - Trời ơi! Đau quá. Thôi đừng đánh nhau nữa chúng bay.
    Bọn gia nhân lùi cả lại. Võ quan bảo bọn Bảo Kim:

    - Các ông hãy nghỉ tay, để tôi khu xử cho.
    Bảo Kim bỗng kêu:
    - Anh Nguyễn Mại!
    Nguyễn Mại, vì chính là người võ sĩ, nói:
    - Kìa Bảo Kim. Nhưng hãy xếp cho xong câu chuyện này đã.
    Chàng kéo người trai trẻ đứng dậy:
    - Anh dẫn bọn côn đồ bước ngay khỏi hội, nghe chưa? Còn lẩn
    quất ở chốn này thì đừng trách ta là ác nghiệt.
    Người trai trẻ cực chẳng đã, lủi thủi dẫn bọn gia nhân đi, thỉnh
    thoảng còn quay lại nhìn Nguyễn Mại một cách dữ dội và nham hiểm.
    Một người tự xưng là Dương Tuấn Nghiệp, chân ấm sinh, đến xin
    đem vợ về. Người thiếu phụ là một trang nhan sắc, nhưng mình mẩy
    bị thương rất nặng, chân tay không cử động được. Nàng ứa nước mắt
    nhìn chồng, phều phào nói:
    - Em tưởng không được trông thấy mặt anh nữa. Suýt chút nữa
    thì em thành người thất tiết. Nhưng em xem trong mình cũng không
    sống được nữa đâu. Anh lấy cáng cho em về mau trông thấy hai con,
    em thực mang tội với chồng với con nhiều lắm.
    Nàng ôm bụng nhăn mặt hoa, thổ ra huyết, rồi mê man bất tỉnh
    nhân sự.
    Người chồng cũng khóc, vực vợ lên chiếc cáng của Quỳnh Hoa
    cho mượn, rồi từ biệt mọi người.
    Quỳnh Hoa thở dài:
    - Chỉ tại...
    Nàng muốn nói: “Chỉ tại phụ vương sủng ái Đặng Tuyên phi”.
    Nhưng trước mặt mọi người nàng không dám nói rõ nỗi lòng. Xúc
    cảm và người ốm yếu, nàng rầu rầu vào trong hàng nằm nghỉ.

    Buổi dạ hội cũng vì câu chuyện “Cậu Trời” mà mất vui. Người về
    đã vợi đi, trăng cũng nhạt, và cảnh hồ buồn tênh.
    Bọn anh em Bảo Kim cũng ra về. Đỗ Tuấn Giao mặt sứt trán
    bươu, còn pha trò:
    - Chỉ vì Kim mà tôi bị đánh. Chẳng phải đầu, phải tai.
    Bảo Kim như kẻ mất hồn. Lúc ở hội Quần Anh ra, chàng còn ngập
    ngừng chưa muốn bước. Cảm tình chan chứa, chàng thảo trên một
    dải lụa ba bài tứ tuyệt đem buộc vào cành liễu rồi mới rảo bước theo
    anh em.
    Nguyễn Mại nói:
    - Bảo Kim thực là nòi tình. Bốn năm chinh chiến, tôi thấy lòng
    dục nguội như băng. Hiện chỉ có một hoài bão là phụng thờ Tổ quốc,
    đem lại nền thống nhất cho nhà Nam.
    Bảo Kim đáp:
    - Anh mới là chân nam tử. Bỏ văn theo võ, không ngờ anh đã trở
    nên một tướng tài. Trận đánh ở Phú Xuân, mưu mẹo đã cao, uy dũng
    lại thừa, chấn động cả miền Nam, làm rực rỡ cả Bắc Hà. Hoàng Quận
    công cực lực tán dương anh và Chúa thượng gọi anh là hổ tướng.
    Nguyễn Mại gạt đi:
    - Bỏ chuyện ấy đấy, chưa phải lúc nói. Các chú cho tôi biết cái
    thằng lúc nãy là ai? Tôi điên tiết lắm, và thấy các chú lúng ta lúng túng
    mà buồn. Bọn văn nhân thực là lũ vô ích, ngâm vịnh để làm gì? Qua
    cái bệnh ngâm vịnh, cái bả từ chương, nay tôi khinh thường những
    thứ vô dụng ấy... Thằng ấy là ai mà nó hoành hành thế? Mà xem ý dân
    sợ nó như cọp, cả Ngô Thị lang, cả Quỳnh Hoa Quận chúa?
    Trần Thành nói:
    - Nó là Đặng Lân, em Đặng Tuyên phi. Từ ngày đức Tĩnh Vương
    sủng ái Tuyên phi, việc triều chính mỗi ngày một nát.
    Tuyên phi quả là một trang khuynh thành khuynh quốc. Tĩnh

    Vương chỉ vì say đắm Tuyên phi mà làm toàn những điều bất chính;
    bao nhiêu lời can gián đều vô hiệu cả. Việc gì cũng nghe Tuyên phi:
    Chúa là người hiếu hạnh thế mà bênh Tuyên phi đến cưỡng cả lời
    khuyên của Thái phi.
    Thậm chí Chúa biết Đặng Lân là tên vô lại mà cũng sắc phong là
    Quốc cữu, cho lập phủ đệ như một vị thế tử. Tên Lân ăn tiêu xa xỉ
    hơn một ông hoàng. Nó muốn gì cũng được, ngang ngược thế nào, ai
    cũng phải chịu. Ngày ngày chỉ cùng với bọn côn đồ đi hãm hiếp con
    gái đàn bà, cướp nhà lấy của như một lũ giặc. Người con gái hay đàn
    bà nào mà nó vừa ý thì nó đuổi cho kỳ được, phạm cả người nhà các
    quan đại thần. Quan Tham tụng Võ Tá Quyền mắng nó giữa đường,
    nó đánh chết ngay, Chúa thét đem chém, nhưng Tuyên phi khóc lóc
    xin cho, Chúa tha bổng. Từ đấy nó càng ngỗ nghịch, tự xưng là “Cậu
    Trời”, không còn biết kiêng nể là gì nữa.
    Nguyễn Mại lắc đầu nói:
    - Nếu thế thì gọi là loạn còn gì?
    Bảo Kim nói:
    - Những người bị nó làm nhục như bà ấm sinh lúc nãy không biết
    bao nhiêu mà kể, nhiều người thất tiết tự tử cho tròn giá sạch, còn thì
    chỉ biết ôm giận cho qua đời, chứ biết kêu đâu? Vì thế mỗi khi nó đi
    đâu người ta chạy tán loạn, sợ hơn sợ thiên tai, nhà nào nhà ấy đóng
    cửa im lìm. Vô phúc bị nó phá thì đành giương mắt ra mà nhìn. Có
    ông phủ Dương Chính Doãn luận tội nó, nó đem bọn côn đồ đến giết
    cả nhà.
    Nguyễn Mại giậm chân:
    - Thế thì còn ra thể thống gì nữa. Biết trước thì lúc nãy tôi đem
    giết nó đi cho dân thoát nạn. Nhưng sao nó lại nhũn với tôi thế?
    Lưu Sĩ Trực đáp:
    - Nó nham hiểm và hèn lắm. Thấy ai vào tay sừng sỏ thì nó lủi đi
    như con rắn để cắn trộm lúc khác; những khi ấy thì nó lại càng nguy
    hiểm.

    Nguyễn Mại cười nói:
    - Các chú cứ nhút nhát thế thì còn làm gì được. Tôi quyết trừ hại
    cho nhân dân.
    Cả bọn đồng thanh:
    - Anh không nên vọng động. Tuyên phi là một người thâm độc, có
    người chỉ đánh Đặng Lân một roi mà bị giết cả ba họ.
    Nguyễn Mại:
    - Dẫu sao cũng không thể tha được thằng giặc hung dữ ấy. Nó với
    tôi một sống, một chết...
    Nói đến đây bỗng có tiếng ca hát gõ nhịp ở giữa hồ đưa lại.
    Bảo Kim nói:
    - Chúa ngự ra chơi.
    Cả bọn cùng nhìn ra hồ. Dưới ánh trăng một đoàn thuyền rồng
    đang rẽ sóng bơi đi.
    Tiếng tơ gẩy, tiếng trúc thổi, tiếng người hát họa. Trong động
    tiếng sáo, tiếng đàn văng vẳng đưa lên, cảnh vui vẻ và mơ hồ bị “Cậu
    Trời” phá tan, nay trở lại. Nhường như khi đấng chúa tể non sông ra,
    mọi người đều yên tâm, và không còn sợ kẻ nào đến phá bậy đêm hội
    nữa.
    Thuyền từ từ đi về phía hàng Quỳnh Hoa, mái chèo đỏ để rơi tua
    tủa muôn hàng ngọc sáng. Bọn Bảo Kim và mọi người đổ xô lại để
    xem mặt Chúa và Tuyên phi. Vì cả năm mấy ai đã được biết mặt vị
    phó vương, thay quyền Thiên tử ban hành phép nước?
    Trước bến, Quỳnh Hoa đứng trực. Thuyền cập bến, Chúa đứng
    đằng mũi hỏi to:
    - Con cha có chấm được bài văn nào xuất sắc không?
    Quỳnh Hoa đáp:

    - Con còn đợi trình phụ vương xem.
    Người ta lấy dây gấm buộc thuyền vào gốc dương liễu. Tĩnh
    Vương bước lên, theo sau là một trang tuyệt thế giai nhân, trạc 25, 26
    tuổi. Nguyễn Mại đoán ngay là Đặng Tuyên phi. Bên cạnh phi thì bao
    nhiêu cung nữ, kể cả Quỳnh Hoa bị lu mờ, vì phi trông rực rỡ, toàn
    thắm, toàn tươi. Đẹp mà không nhạt nhẽo, hơi đẫy mà không thô,
    nồng nàn mà không lơi lả. Phi là một người đàn bà có một sắc đẹp
    quyến rũ yêu quái. Người phi là tiếng gọi của dục tình.
    Chúa và Đặng phi bước lên. Quỳnh Hoa đón vào hàng Quần Anh.
    Chúa nhìn bốn phía một lát, thấy hội kém bề náo nhiệt, phán rằng:
    - Ủa, sao hội Trung thu năm nay tẻ thế?
    Quỳnh Hoa định tâu, nhưng bắt gặp mắt sắc của Đặng phi, nàng
    cúi đầu, tự biết uy quyền của mình không sao chống được với cái uy
    quyền chúa tể kia. Nguyễn Mại nói nhỏ với các bạn:
    - Người đẹp thế kia làm gì mà chẳng gây vạ. Làm gì mà thằng
    Đặng Lân chẳng hoành hành.
    Chúa Tĩnh Đô sau khi vào thăm hàng con...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama