GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 9

TRANG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z5547940853696_c22e1de8ba6efc311887a62f5e563901.jpg Z5547940811788_25a94d4644ada0ae8a28a704440d8808.jpg Z5547940810742_117d36aa84d633f50a06fff45e988b07.jpg Z5547929511935_166ec05c4d6c1475f0eb506d54b29b71.jpg Z5547929456682_261a5bed5fad4a97d7dba4b3ec3699d2.jpg Z5547929448801_126266d54659f74f38252045ee8a1acc.jpg Z5547929432436_7e13bc07c3a7a3d8354de847005f90f5.jpg Z5547929424023_6d8abea7541817a8bd661b044a148b2a.jpg Z5547922612174_13666a638e8142e7c46809c9ba6eeba5.jpg Z5547922611148_793b00be8f3385a236984507ea1413b4.jpg Z5547922592137_6e0c82d7662daef7d6093eb879f1c9a2.jpg Z5547922584614_25fd4f958afbba6a7a1e4a5b5ba14fc5.jpg Z5547940768588_fcb6f157dacd8274e8a9169ac6cd4c22.jpg Z5547940757126_7dd7723249b1fa5bcaac7fc0f61a7730.jpg Z5547921981851_835f3a4d0676ff63f0b1af949b5de289.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WELLCOME

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10

    DANH NGÔN VỀ ĐỌC SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH

    GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY

    Di sản thế giới tập 6 - Châu Phi_Bùi Đẹp

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Thành
    Ngày gửi: 12h:05' 29-05-2024
    Dung lượng: 91.7 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    BÙJ ĐẸP
    b iê n s o ạ n

    Châu Phi

    V

    Tập 6

    DI SẢN THẾGIỚI

    HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ỷ PHÊ BÌNH
    NHÀ XUẤ T BÁN TRE
    161 b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ C h í Minh
    Điện thoại: 9316289 - 9317849 - 9316211
    E-maìl: nxbtre@hcm.vnn.vn

    BÙI ĐẸP
    Biên soạn

    DI SẢN THẾ GIỚI
    (VĂN HÓA - Tự NHIÊN - H ỗN HỢP)

    TẬP 6: CHÂU PHI
    Tái bdn lần thứ 2

    TRƯỞNG DẠI HỌC VINÌ

    TRUNG ư ỉ , m M P ^

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    Phong cảnh ván hóa
    “Phong cảnh văn hóa”: một th ể loại mới, vừa phức tạp vừa
    phong phú, của di sản thê giói.
    Đ ặt ra nhũng tiêu chuẩn đáng tin cậy để bảo vệ các phong
    cảnh quanh chúng ta không phải là một việc dễ bởi lẽ mỗi nền
    văn hóa đều có khuynh huóng xem xét chúng bằng cách nhìn
    riêng. Tuy nhiên, nhơ có UNESCO, một khái niệm nhất quán về
    “th ế nào là một phong cảnh văn hóa” cuối cùng ra đòi. Những
    tiêu chuẩn chung về việc đánh giá, chặt chẽ mà không cirng nhắc,
    từ nay cho phép phân biệt ba loại phong cảnh.
    a. Phong cảnh đưạc xác định có chủ tâm, do con ngưòi nghĩ
    ra và tạo dựng (các khu vuờn, như Aranjuez ở Tây Ban Nhan,
    Versailles 0 Pháp, hay Center Park ở New York vốn là tác phẩm
    của các kiến trúc sư Olmsted và Vaux);
    b. Phong cảnh chủ yếu do quá trình tiến hóa thiên nhiên tạo
    nên (như Somerset Levels khắc sâu những hào rãnh hay York­
    shire Dales chằng chịt những tưòng nhỏ bằng đá ở vvtơng quốc
    Anh, những vùng đất trồng trọt được ven sông Côte de Beaupré,
    trong thung lũng sông Saint-Laurent ở Canada, hay những thửa
    ruộng lứa bậc thang trông như tấm giấy da cừu được cạo di để
    viết lại, ở mạc bắc Philippines;
    Lần đầu tiên UNESCO công nhận di sản văn hóa tiếng nói
    của phi vật thể

    Ngày 18-5, Tổ chik; Giáo dục - khoa học và văn hóa Liên
    Hiệp Quô'c (UNESCO) sẽ trao tặng danh hiệu “Kiệt tác di sản văn
    hóa tiếng nói và phi vật thể của nhân loại” lần đầu tiên dành cho
    các không gian văn hóa hay hình thái thể hiện ván hóa có giá trị
    đặc biệt thuộc các vùng khác nhau trên th ế giới. Tổng giám đốc
    UNESCO Koichiro Matsuura sẽ công bô"danh hiệu này trong buổi
    kết thúc cuộc họp của một ban giám khảo quô"c tế đánh giá 30 di
    sản văn hóa đợt đầu thuộc thể loại trên. Chủ tịch ban giám khảo
    (gồm 18 thành viên do tổng giám đô"c UNESCO bổ nhiệm vói
    nhiệm kỳ bô"n năm) là nhà văn người Tây Ban N ha Juan
    Goytisolo).
    Các hình thái thể hiện văn hóa đặc sắc đưọc UNESCO trao
    giải bao gồm ngôn ngữ, văn hóa truyền miệng (cụ thể là các thể
    loại thần thoại, trường ca, truyện kể), nhạc, múa, trò choi, phong
    tục tập quán, tính sáng tạo trong nghề thủ công, kiến trúc và các
    loại hình nghệ thuật khác. Nhóm kiệt tác trong lĩnh vục không
    gian về vật chất hay thơi gian trong đó diễn ra các sự kiện văn
    hóa lặp lại, thiròng xuyên hay không thuòng xuyên.
    Việc trao tặng danh hiệu “Kiệt tác di sản văn hóa tiếng nói và
    phi vật thể của nhân loại” phụ thuộc vao các tiêu chuẩn về giá trị
    đặc biệt, miíc độ ăn sâu bén rễ vào truyền thông văn hóa. Ngoài
    ra, những tiêu chuẩn khác được UNESCO xem xét, đánh giá là
    việc khắng định bản sắc vàn hóa, nguồn cảm hiíng, trao đổi giữa
    các nền văn hóa, vai trồ văn hóa và xã hội hiện tại, tính đặc sắc
    của kiến thiíc, bằng chứng về một truyền thống văn hóa sông
    động có nguy cơ bị diệt vong. Việc công bố danh hiệu này sẽ diễn
    ra hai năm một lần.
    Trong số các di sản được công nhận lần này có 4 di sản của
    châu Mỹ, 3 của châu Phi, 5 của châu Âu, 1 của th ế giới Arập. Đại

    diện cho châu Á có ICinh Kịch của Trung Quô"c, kịch múa truyền
    thông Ân Độ, kịch truyền thống N hật Bản, dân ca p hilippines,
    nhạc lễ hoàng gia Triều Tiên và không gian văn hóa của vùng
    Boisun thuộc Uzbekistan.
    Tổng giám đốc UNESCO khẳng định rằng những điệu múa,
    âm nhạc, lễ hội, và tập tục vừa được công nhận đã th ể hiện tính
    đa dạng và sáng tạo của văn hóa nhân loại, ô n g lưu ý rằng toàn
    cầu hóa, tình trạng lạc hậu về kinh tê xã hội và m ât ổn định
    chính trị cũng là những yếu tố đe dọa bản sắc văn hóa dân tộc.

    Q uố c kỳ
    các nước U N E S C O

    I\hímg kỳ quan,
    nm gặp gã eho và nhận
    Di sản thê giới: đó là một chủ đề nêu lên rât đúng lúc đôi vói
    th ế giới chúng ta ngày nay, một th ế giói đang bị rung chuyển bởi
    một cuộc khủng hoảng khôc liệt và dữ dội đang đbi hỏi phải xem
    xét lại cả một hệ thông giá trị và làm biến đổi về chất mối quan hệ
    giữa con ngưòi và môi truòng. Tác động của sự tiến triển kỹ nghệ
    và công nghệ đang minh chiíng cho điều này; sự thỏa hiệp thiêng
    liêng giữa con nguời với thiên nhiên và vũ trụ đã bị phá võ. Hành
    tinh đã bị đầu độc. Va bản thân sự sống dường như đang bị đe
    dọa dưói những hình thức khác nhau.
    Cuộc khủng hoảng này buộc chúng ta phải suy nghĩ lại không
    chỉ về những phuong cách phát triển, mà về chính cái khái niệm
    về sự phát triển, từ quá lâu đã đuợc xem xét duói góc độ của sản
    xuất và tiêu dùng. Các nhà tư tưởng và nghệ sĩ và nhà văn ngày
    càng tin chắc rằng cái quan niệm về sự phát triển này đang hy
    sinh văn hóa cho sự tăng trưởng kinh tế, hy sinh chất liiọng cho
    sô' lượng và do vậy sẽ chỉ có thể gây ra những hậu quả thảm
    khôc. Chính vì vậy mà hôm qua cũng như hôm nay, chúng tôi
    luôn nói phải đặt “văn hóa lên tniớc” mọi cái khác. Những cuộc
    gặp gỡ lớn giữa lịch sử và loài ngưòi luôn mang tính vãn hóa.
    Vấn đề ở đây không phải là tạo ra khu biệt lập về văn hóa, sắc tộc

    và địa lý, mà trái lại, phải đánh giá cao tính đặc thù và sự phong
    phú trong bản sắc của chúng ta nhằm củng cô thành quả của
    quá khứ và làm giàu thêm cái di sản mà chúng ta phải truyền lại
    cho các th ế hệ t\iong lai. Một di sản trong đó mọi chủng tộc, mọi
    quốc gia, mọi nền văn minh sẽ góp vào những giá trị riêng không
    gì thay th ế được.
    Chính cái chủ nghĩa nhân văn “cho và nhận” này là uóc
    nguyện tha thiết của nhà thơ Máctinich Aimê Césaire một quan
    niệm mới về những quan hệ trao đổi kết quả sẽ là một sự cộng
    sinh của những nền văn hóa, không phải để chúng giông hệt
    nhau hoặc hòa tan vào nhau, mà để làm cho chúng thêm phong
    phú thông qua tiếp xức với nhau “N ền văn hóa của cải thuộc về
    mọi ngưòi” mà nhà thơ Xênêgan Leopold Sédar Senghor hằng âp
    ủ không phải là một nền văn hóa toàn th ế giói, mà là một sự gặp
    gỡ của các nền văn minh.
    Sự gặp gỡ này là di sản toàn cầu của loài ngưòi chúng ta.
    Con ngưòi khác vói loài vật là do có tinh thần sáng tạo, nhơ đó nó
    vượt lên trên những giới hạn của cái hữu hình. Ngọn lửa, khi đã
    được ch ế ngự, đã biến thành những tiếng rì rào của rừng thẳm ,
    hơi thở thì thầm của cuộc sống, cái xôn xao của màu sắc, sự xào
    xạc của hình dáng, thành khoảng bao la đvtợc tái tạo, ảo vọng,
    ánh sáng... Chiếc gậy chông đầu tiên của con ngưbi: tảng đá đầu
    tiên nó chọn để ngồi nghỉ, cái hang đầu tiên nó ẩn trú đều m ang
    màu sắc của ánh sáng. Bởi vì từ khỏi thủy, con nguòi sinh ra
    trong những kỳ quan cái đẹp; nó cũng sinh ra vì cái đẹp.
    Là cát bụi từ những vì sao roi xuống, nó đi khắp th ế giói, và
    cũng như chú tý hon Poucet (trong các truyện hoang đưòng của
    Perrault), nó rãi ra khắp noi. Cùng với thòi gian, nó xây dụng

    nên những tượng đài kỷ niệm mang dấu ấn của thiên tài và tính
    vĩnh cửu của chủng loài.
    Để sắp đặt hành động, con ngvròi cần có một hình ảnh vê quá
    khứ và một cách nhìn về tưong lai của mình. Dẫu cho các ngành
    khoa học vẫn còn chua giải đáp được câu hỏi về cội nguồn nguyên
    thủ cũng như di sản cho th ế hệ sau, con nguòi cũng sẽ trềo lên
    những núi cao để truyền niềm tin vào cuộc sông. Trong niềm tin
    này có ẩn chứa tinh thần kháng cự và hy vọng. Chính niềm tin
    ấy đã đưạc công bô, như một nhu cầu cô"t tử, trên nguỡng của của
    mọi lâu đài. Từ những túp lều của thbi thơ ấu đến những cột trụ
    của các đền đài, trên mỗi phiến đá ở phía sau của mọi cánh cửa,
    của mọi thế kỷ, con người sẽ khắc ghi mỗi hy vọng đó.

    in

    Ai Cập
    Abu Mena
    N hững những nhà thơ, nhà rửa tội, tu viện của các tín giáo,
    hoàng cung, đền đài của vua chúa hay lóp thông trị của xã hội
    Ai Cập.

    lí»




    1
    -- r-r»
    iU i

    ^

    Làng Duana ở A i Cập

    11

    Nhà ở, chung cư của dân chúng, cho đến đxròng sá đi lại được
    xây diỊng và các xưởng sản xuất đều đvrợc xây diing trong thành
    phố thần thánh của thiên chúa giáo.
    Thành phô" này được xây dimg trên các nền mả của Maty
    Menas, thuộc triều đại Alexandria, mà ngưòi chết vào năm 296
    sau công nguyên.

    Diếu kỳ diệu đầy bí ẩn
    từ 3000 nãm...
    Rames II, thương được gọi là Ramses Đại đế (Ramses II The
    Great) là vị pharaoh vĩ đại nhất trong các pharaoh của Ai Cập cổ
    đại (1304-1237 tniớc công nguyên). Trong 67 năm trị vì của ông,
    Ramses II nổi tiếng là một nhà quân sự thao lược, một nhà kiến
    trúc vĩ đại. Ông đã từng cầm quân đánh chiếm vùng Bắc Phi và
    vùng Tây Á, lập những chiến công hiển hách, ô n g còn “nổi tiếng”
    là vị pharaoh có nhiều... thê thiếp, có tói 18 nguòi vợ và hon 100
    ngưòi con, trong đó có 62 nguòi con trai! về kiến trúc, ông đã để
    lại cho đòi sau một di sản vô giá; một loạt đền thơ xây dựng dọc b'ơ
    sông Nile, trong đó nổi tiếng nhất là 2 ngôi đền ở Abu Simbel.
    Ngôi đền lớn nhất - và cũng đẹp nhất - là đền thơ thần Mặt
    Tròi Re-Harakhti. Mặt tnióc cửa đền cao 33m rộng 38m đặt 4
    pho tưọng Ramses II tạc bằng đá, mỗi pho tượng cao 20m (ảnh
    kèm theo). Bên cạnh đó, còn có tượng của bà mẹ Mutti bà vợ
    Nefertiti và nguòi con trai đầu của vua. Đây chỉ là cái “cổng” và
    12

    fKfek':'S

    Đền thờ hoàng hậu Hatshepant

    một ngách để vào sâu trong lòng núi đá. Điều kỳ diệu và bí
    mật của đền bắt dầu từ đây.


    Phòng thứ nhất, rộng khoảng lOOm^, đặt những bức tượng
    và những bức khắc trên đá k ể lại những chiến công của Ramses
    II. Tiếp tục đi sâu vào nữa là phòng thứ 2, cũng rộng như vậy,
    trong đó dặt m ột pho tuợng cao 20m của Ramses II. Phồng tối om
    vì nằm sâu trong lồng núi đá. Những ngày bình thường, ngưòi ta
    phải mắc diện để mọi du khách chiêm nguõng bức tượng. Tuy
    nhiên, trong m ột năm chỉ có 2 ngày (ngày sinh của vua và ngày
    ông lên ngôi), tính theo lịch Hồi giáo có xê xích so vói Diiong lịch,
    vào buổi sáng khi m ặt tròi mọc, có một tia nắng m ặt tròi chiếu
    thẳng vào m ặt tưọmg vua trong khoảng 1 tiếng đồng hồ!

    13

    Thường là những ngày này,
    khác du lịch từ bốn phutxng trên
    thê giói đổ về Abu Simbet trong
    đó không ít các nhà khảo cổ học,
    sử học và nhiều ngành khoa học
    khác của các nưóc, đến “tìm hiểu”
    hiện tiỉợng kỳ vĩ này. Ngưòd ta
    không tìm ra một khe hở nào trên
    đỉnh núi, cũng không thấy tấm
    gương phản chiếu nào tnrớc mặt
    txiỌTig vua, mà chỉ thấy một tia
    nắng m ặt tròi chiếu thẳng vào
    mặt tuợng. Trong phòng lúc đó
    không có đèn điện, chỉ có ánh
    sáng do tia nắng kia tạo ra, và
    nhìn khá rõ những nét điêu khắc
    trên mặt tuựng.
    Rất nhiều nguòi đã đến, và
    tất
    nhiên
    vói kiến thức hạn hẹp
    Tượng nhân sư
    về khảo cổ, về khoa học nên chỉ
    cồn biết... đứng ngây ra mà thán phục! Mỗi một khách chỉ duọc
    chiêm ngưõng hiện tưọng đó trong khoảng 5 phút, rồi phải ra cho
    đợt khách khác vào. Đành lòng là phải ra ki-ô"t bán đồ kỷ niệm ở
    ngoài bãi đậu xe, mua lấy một cuô"n sách nhỏ giới thiệu về Abu
    Simbel và một pho tượng nhỏ của Ramses II Đại đế vậy!
    Vậy là đã hơn 3.000 năm trôi qua, nhưng bí mật về “tia nắng
    kỳ diệu” ở ngôi đền vẫn chua được khám phá.

    14

    Akliet - Aton,
    thành phò mặt tròi
    Khi Platon tìm cách hình dung Nhà nước lý tưởng hy vọng
    viễn vông tạo ra một nền cộng hba dựa trên lý trí đã khiến cho
    ông phải cẩn thận đề xuất việc loại trừ các nhà thơ. Tuởng đâu
    cái thành phô" tuởng tượng kia không thể dung nạp trong lòng
    cái thực t ế mà nó mong muốn thiết lập yếu tô duy nhất có th ể lật
    nhào nó và mỉa
    mai thay lại là
    ch ín h y ế u tô'
    s in h ra nó.
    N hưng
    tìn h
    h ìn h sẽ kh ác,
    nếu tác giả của
    đề án mơ mộng
    kia lại chính là
    nhà vua - một
    nhà vua th ự c
    s ự , và tron g
    tniờng họp này
    đồngthbilàm ột
    nhà thơ.
    Di tích Akhet-Aten kinh đô Akhanaton

    15

    Akhet - Aton (có nghĩa là “thành phố ở chân trơi”), một điều
    không tuỏng trở thành hiện thiỊC, chỉ tồn tại chừng nào còn tồn
    tại những quan điểm dị giáo của ngtròi sáng tạo ra nó, Pharaong
    Akhenaton. Sau mười hai năm tồn tại, nó chỉ còn lại ở Tell alAmama tại miền Trung Ai Cập, trên bơ Đông sông Nile, có vài ba
    cung điện, một khu lao động, một xuởng điêu khắc, nhiều ngôi
    chùa. Những di tích đó không nói lên sự tồn tại của thành phô"
    bằng nói lên sự hủy diệt của nó. Đó là những mẫu đá vỡ của một
    bài thơ điít đoạn bị cô định mãi mãi trong giìr phút sinh thành.
    Cho đến tận năm 1842, ngay đến tên thành phô" cũng đã bị
    lãng quên, nói chi đến đến lịch sử của nó. Ngiròi ta cùng lắm chỉ
    lơ mờ biết rằng h đâu đó ở khoảng giữa cô' đô Memphis của Ai
    Cập và kinh đô mói Thèbes đã từng có một thành phô" mà những
    ngôi nhà chùa dát vàng đã bị nhận chìm trong cát, trưóc hết là
    cát bụi của sa mạc, rồi sau đó là thứ cát bụi sắc cạnh hon của
    lãng quên.
    Mãi đến năm 1912 các nhà Ai Cập học nguòi Đức mói phát
    hiện đuọc biíc tuợng bán thân sơn màu Nefertiti, hiện nay đưọc
    để tại bảo tàng Berlin, c ổ vật ấy sau đó trở thành một trong
    những tác phẩm nghệ thuật Ai Cập quý báu nhất và vẻ đẹp ngòi
    sáng của nó đã rọi ánh sáng vào thòi kỳ kỳ lạ nhất và ít đuọc biết
    về lịch sử đất nuóc các pharaông. Một câu hỏi đvtợc đặt ra ngay
    tức thì; nguòi đuọc diing tuợng này là ai, bởi tên nàng đă duọc
    cẩn thận xóa bỏ khỏi hầu hết các di tích. Mât năm mưoi năm
    nghiên cứu tìm tòi cuối cùng mới duọc biết rằng “bà hoàng hậu
    lộng lẫy đội vưong miện cao” kia là vợ Akhenaton. Tên tuổi ông
    vua này cũng không đvtọc ghi trong bất kỳ danh sách các vua
    chúa nào của Ai Cập. Thirc tế, các nhà viết sử Ai Cập cổ đại đã cố
    tình bỏ qua ba mưoi năm lịch sử.
    16

    Sự cố ý duy trì một lỗ hổng đó cũng đủ cho thấy thbi kỳ Amarna
    này có ý nghĩa như th ế nào đối với nguòi Ai Cập cổ đại. Chxromg
    trình câp tiến của Akhenton, noi gặp gỡ giữa chính trị và thi ca,
    hình như là điều đáng ngại đến nỗi cho đến tận ngày nay nó có
    vẻ như là một sự lầm lạc của lịch sử khó hba nhập vào bất kỳ một
    hệ thôíng niên đại theo đuòng thẳng nào trong lịch sử Ai Cập, mà
    hình như thuộc về một gôc ẩn giâu nào đó trong ký líc, trên ranh
    giới của mơ mộng.
    ở k h oản g cách thời gian như vậy, bản thân con người
    Akhenaton cũng khó dựng lại. Ngưòi thì cho rằng ông là một
    hình ảnh tượng trưng bi thảm
    của Chúa Kitô, ngtròi báo hiệu
    th uyết độc thần, m ột Moise
    truóc khi có tên Moise. Ngươi
    thì lại coi ông là một pharaông
    dị giáo, vết nhơ lớn nhât trong
    lịch sử nước ông, và nói rộng
    ra trên địa dư nưóc ông mà
    bằng nhiệt tình sáng tạo của
    mình, ông đã để lại vĩnh viễn
    một cái vết nhỏ m àu m ặt trbi.
    Bởi vì ở một địa điểm khô
    cằn và nóng bỏng, noi m ặt trơi
    có lẽ đã cất m ình lên trong
    Rgày đầu tiên của sự sáng thế,
    A khenaton quyết định dựng
    lên một thanh phố điiọc lây lam
    trung tâm tôn giáo mói của
    ông. Thách thức cả một đội

    Tượng bằng cát - đền thờ Anton
    (1370tr.CN)

    17

    giâo sî hùng manh, ông dà ngàn câm viêc th'o cüng Amon,
    vua cùa câc thân linh, va thay vào do là tha cüng Aton, màt trbd.
    Six doan tuyêt này diên ra dôt ngôt, o dau trieu dai ông, khoàng
    nam 1362 truôc công nguyên. Ông doi tên hiêu Amenophis IV
    cùa minh (c6 nghîa “Aton hài long”) thành Akhenaton, “nguoi
    duoc Aton yêu men”. Mubi van kÿ su, kÿ thuât viên va công nhân
    duoc dùng vào viêc xây dimg mot thành phô" c6 khà nàng chiia
    mot sô" dân cbn dông hon nûa. Akhet - Aton sê duoc coi là thành
    phô" cùa mat trbi, cùa nghê thuât, tinh yêu và niém vui. N6 chàc
    chàn là thành phô dau tien duoc thê" kê" hoàn toàn trên ban vè
    truôc khi diroc thirc hiên.
    Ngubi ta dâ tîm ra phuong phâp khéo léo tài tînh de vân
    chuyén dê"n dia diém xây dimg nhûng vât lieu thich hop nhât, dé

    Hâm mô vua Pharaon

    làm cho kiến trúc đưọc nhẹ nhàng hơn bằng cách dùng đầm gỗ
    đỡ những biíc tiròng xây bằng gạch đất nện, tuơng phản vói những
    kiên trúc nặng nề bằng đá của các triều đại truớc.
    Một đại lộ đế vưong chạy ngang qua giữa thành phố, hai bên
    là nhà ở của những người giàu có, tiếp đến là khu nhà ở của
    những ngtròi dân kém khá giả, sau nữa là đám ngưòi mong tìm
    thây h Akhet - Aton m ột cuộc sông mód. Ngôi điện lớn ở trung tâm
    thành phố gồm nhiều sân trong dẫn đến thánh đuòng, tấ t cả đều
    quay về hiióng m ặt tròd mọc và đó, nhận trực tiếp tia nắng thiên
    vì không có mái che. Nhơ vậy, pharaông cùng tất cả các tín đồ
    đều có th ể thơ kính và giao hòa trực tiếp với đấng vĩnh hằng,
    chìm ngập trong một thứ ánh sáng càng chói lòa hơn do màu
    vàng tồn tại ở khắp noi, khắp chốn trong thành phố.
    Những tòa nhà uy nghi hơn cả là Cung Bắc, xây dựng hoi về
    mé ngoài thành phô' cho hoàng hậu Nefertiti. Thực sự là một th ế
    giới thu nhỏ, nó có ao, vườn, những hàng cột bao quanh một hồ
    hình vuông nằm giữa những khu đât rào kín có những loài chim
    muông quý hiếm , tái tạo một thiên nhiên hài hòa giữa môi tniờng
    hằng ngày của con ngưòi.
    N gày nay chúng ta đã có một khái niệm khá rõ về sinh hoạt
    hằng ngày ở Akhet - Aton; nhiều tiệc tùng liên hoan m ùng thần
    m ặt trồi, nhưng ta không biết mấy những hoạt động chính trị, có
    lẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu, sau những mối quan tâm tôn giáo
    và thẩm mỹ của pharaông. Tuy nhiên, một vị thần mà m ắt trần
    có th ể nhìn thấy được, hé cho thấy có một sự đảo lộn thật sự trong
    việc th ể hiện quyền l iỊ C . Bởi vì trong một thành phô' có th ể nhìn
    thấy thần linh con nguòi sống gần gũi với thần linh. Mối quan hệ
    đó giũa con ngiiời vói thần linh cốt lõi của cách m ạng Akhenaton,

    19

    và ý nghĩa của nó có thể tóm tắt trong một ẩn dụ về cái nhìn. Có
    thể nhìn thây mọi thứ, Aton chính là con mắt của mặt trơi; mặt
    trbi là con mắt cúa thần linh, nhìn và đxiọc nhìn thấy, Amon, vỊ
    thần ẩn náu xưa kia, nhìn mà không dể ai nhìn thấy mình, chỉ
    hiện ra thông qua tấm gưong vỡ gồm vô sô thần tượng vói hình
    thù quen thuộc, những dâu hiệu rãi rác của thần linh giữa loài
    ngưòi. DỊ giáo của Akhenaton có lẽ là ở chỗ muôn vượt qua những
    thứ thay th ế ấy, tìm cách xóa bỏ
    khoảng cách thiêng thiêng của
    các biểu tirợng và ở ngay bên
    cạnh thần linh trong vùng ánh
    sáng của thần linh.
    Vì lẽ đó mà sự sáng tạo của
    ông là không tưởng theo đúng
    nghĩa của từ nay. Xét theo quan
    điểm thi ca, không tuỏng hàm ý
    cuối cùng hiểu đuọc thế giói một
    cách chính xác và thật sự. Thẩm
    mỹ học Amama ngả theo một thứ
    chủ nghĩa hiện thục thái quá. Cái
    nhìn của nghệ sĩ, mô phỏng đỉa
    mặt trbi tỏa ra thanh vô số tia sáng
    di chuyển về phía mục tiêu quan
    tâm của nó, cái đối tuọng khác cũng
    đang quan sát nó. Vua Akhenaton
    đuọc thể hiện điíng như bản thân
    ông, không có hình thù rõ rệt, một
    ông vua mà hình hai nằm trong
    co„mắt,„gub.khác^

    Ta lơ mơ thấy ở đây những mầm mống của ý thiíc dân chủ
    chớm nở mà một sô ngưòi đã nhận ra trong chương trình của
    Akhenaton. Mặt tròi, ai cũng có th ể nhìn thấy, phân phát cho tất
    cả ánh sáng và sự sống với một sự hào phóng như nhau, là biểu
    tiỉọng của một quân vuong chính trực, tiíc là một điều không
    tuởng. Nhưng một ông vua, cho dù là thi sĩ, cũng khó lòng duy trì
    một cộng đồng con ngưòi trong một thứ ánh sáng chói lòa như
    vậy. Sự dũng cảm của Akhenaton là ở chỗ đã không giả định thất
    bại và qua đó đã trong phút chô"c xóa nhòa ranh giới giữa cái mơ
    ưóc và cái khả thể.

    ]\ghĩa địa hoàng gia
    cổ đại
    Cách đây khoảng 3500 năm, các pharaon đã quyết định bảo
    vệ các ngôi mộ của mình khỏi kẻ cắp, vì vậy đã xây dựng một
    thành phố ở noi hoang vắng, nay gọi là “Thung lũng của các
    vua”. Đền và lăng một mọc lên ở một bên bơ sông Nile. Bên kia
    sông là làng đvrạc xây dirng dành cho lao công, những ngviòi đã
    đục thành các ngôi mộ của hoàng gia sâu trong vách đá quạnh
    quẽ. Làng ngày nay được gọi là làng “Deir al Madina”.

    B ẩ y tô i c ủ a n gư ờ i c h ế t
    Hàng trăm thợ thủ công đã lao động trong “Thung lũng của
    các Vaa”. Khi họ không lao động, đàn ông sinh hoạt vói gia đình

    21

    Nghĩa địa hoàng gia

    trong làng “Deir al Medina”. Các ngôi nhà trong làng nhỏ, được
    xây bằng các thỏi bùn đâ't phoi khô, vì các ngôi nhà nóng và san
    sát nên trẻ con thưòng chơi trên nóc nhà.
    Ngày nay, chỉ nền móng bằng đá cuủa Deir al Medina còn
    sót lại. Ngôi làng hưng thịnh trong 500 năm, quãng thòi gian các
    vua đưọc mai táng trong thung lũng.

    N ội th ấ t các ngôi mộ
    Các pharaon đưọc chôn cất như khi họ sống, vói nghi lễ trang
    nghiêm và điiợc bao quanh vói liiọng châu báu lớn. cắt sâu vào
    sưòn đồi, bạn có thể thấy các lôì vào dẫn tới các ngôi mộ đưọc
    trang hoàng lộng lẫy của các nhà quý tộc, những ngiròi đã phụng
    sự các pharaon trong thơi vưong quôc mói.
    99

    N hieu ngôi mô lôn nhir lâu dài. Muon toi phbng, noi xâc uop
    duoc mai tâng, ban phài di sâu xuông theo mot dubng hành lang
    hep và dài, roi xuyên qua mot vài phbng trang tri nho, noi xua
    kia de dây châu bâu, thiic an và câc do vât thuôc ve than thành.

    M ot p h a r a o n bà
    Không phài ta t cà câc ngôi mô trâng lê trong th'oi kÿ vuong
    quôc moi deu duoc che giâu. Càm sao vào vâch dâ, ngôi den rông
    này chira ngôi mô cùa H atshepsut. C6 nhieu dieu than bi bao
    quanh nhà tri vi này cùa Ai Câp, boi Hatshepsut là dàn ông duoc
    phép tri vi...
    H a tsh e p su t dâ trô
    thành ngubi tri vi khâp Ai |
    Câp n h u th e nào? Khi
    ch o n g cù a h o à n g h â u
    H atshepsut chet, con trai jj
    cùa ông là Thutmose III
    dâng lê sê tro thành vua.
    N hung lüc do Thutmose
    III chi là mot câu bé và là
    con cùa mot phu n û tuy
    an o vd i vu a n h u n g
    không c6 cvioi xin và c6 dia
    vi thap hon cà ngubi hau.
    Vi v ây H atsh ep su t bao
    gan cubp ngai vàng và tri
    vi n h u pharaon hon 20
    nam. Nhiê'u chuyên gia
    cho râng khi Thutmose III

    Pharaon bà

    23

    cuôi cùng nắm lấy ngai vàng, ông đã tức giận, ra lệnh đục cái tên
    của Hatshepsut ra khỏi các công trình tiiỉmg niệm ở Ai Cập.

    K hám p h á nguy hiểm
    Truyền thuyết cổ cảnh báo rằng một tai họa sẽ xảy đến với
    bất cứ ai quấy rầy ngôi mộ của pharaon, nhimg những cái bẫy bí
    mật và lơi chú ma thuật đã không thể làm chùn tay nhà khảo cổ
    Anh Howard Carter. Chỉ vói một vài manh mối như chiếc chén
    uôĩig rượu và một miếng chạm nôi bằng vàng mang tên của nhà
    vua
    T u tan kh am en ,
    Howard Carter bắt đầu
    cuộc săn tìm ngôi mộ của
    hoàng gia trong “Thung
    lũng của các vua”. Năm
    1922, sau 6 năm đào bới,
    ông đã phát hiện ra lôl
    vào phòng mai táng, ô n g
    trở thành nguìri đầu tiên
    trong hon 3000 năm đã
    nhìn thây điểu kỳ diệu
    trong ngôi mộ củ a
    Tutankhamen.
    H ãy tư ở n g tư ợ n g
    xem Haward Carter đã
    cảm thâV th ế nào khi
    ông mở được bức vách
    cuô"i cùng trong ngôi mộ
    của vua Tutankhamen
    và nhìn thấy số của cải,

    Khách

    24

    đang xem bảo tàng

    châu báu không th ể tin đuạc nằm ở trong đó gồm các tiiợng
    vàng, ngọc, đá quý và các bức tranh vô giá trên vách đvtạc chôn
    theo vua.
    Tại đây, bạn có th ể thấy Carter và nhóm làm việc của ông
    m ang từng đồ vật ra khỏi ngôi mộ của Tutankhamen mà không
    gặp phải sự đe dọa thần bí nào. Mỗi một thứ đều được đánh số và
    ghi chép, phân loại cẩn thận tnróc khi đưa tới bảo tàng.

    H ướng d ẫ n k h á c h th a m q u a n cá c ngôi m ộ
    Ngày nay, bạn không phải đào xuyên vách đá để tìm mộ của
    các pharaon. Bản đồ về “Thung lũng của các vua” sẽ hướng dẫn
    bạn tới các phòng mai táng nằm sâu trong các vách đá hiu quạnh.
    Bản đồ hướng dẫn tấ t cả các ngôi mộ mà tói nay chúng ta đă biết.
    Liệu không cồn những phòng mai táng bí m ật vẫn nằm sâu bên
    trong “Thung lũng của các vua”? Không ai biết chắc chắn.
    *

    *

    *

    Tháng 2-1995, Tiến sĩ Ai Cập học Kant Week (Mỹ) và một số
    cộng sự đã phát hiện ra ngôi mộ số 5 ẩn mình trong suốt 3200
    năm tại “Thung lũng các vị vua”. Đây là noi an táng tập thế
    trong một lăng tẩm hình chử T, được xem là lăng mộ lớn nhât ơ Ai
    Cập. Mỗi ngăn mộ là noi chôn cất một trong 52 người con trai của
    vua Ramses II (trừ M eaneíĩtal có mộ riêng vì là ngxiòi k ế vị sau
    này). 110 nguòi con gái được chôn ở đâu thì chua rõ.
    Ramses II trị vì Ai Cập suốt 67 năm (từ 1279-1212 tmớc công
    nguyên) và đã xây diỊTig được nhiều đền đài, lăng tẩm hon bất cứ
    pharaon nào truớc đó.

    25

    Pharaon Ramses II
    bị vã sọ lúe iróp xác
    Nhà khoa học Pháp Gaston Maspéro (1846-1916) đ ã C IÍU vãn
    được nhiều xác ướp, nổi bật nhất là xác của pharaon Ramses II.
    Năm 1882, ông khám phá hang động Deir-al-Bahari, noi ngày
    xua vị Đại giáo chủ Pinedjem đã giâu kín nhiều hài côt ở “Thung
    lũng các vì vua” để tránh bị cướp phá. Ngày 1/6/1886, xác vtóp
    Ramses được cởi bỏ lớp băng quấn quanh ngưòi và từ đó cả châu
    Âu nổi lên cơn sô"t xác ướp. Các tay giàu có cố tìm cho được một
    xác ướp mang về nhà rồi mòi bạn bè đến để nhìn xem vì tò mb
    hơn là sự ham muôn hiểu biết. Chính điều này không làm cho
    nguòd ta ngạc nhiên khi biết rằng ngành nghiên cứu xác ướp bị
    ngimg trệ trong khoảng 50 năm, từ 1850 đến 1900. Điều đáng
    mừng là sự phát minh tia X vào năm 1895 đã góp phần cách
    mạng hóa ngành Ai Cập học. Nhơ tia X, lần đầu tiên người ta
    phát hiện đưọc bên trong một xác uóp trung bày tại Vienne có
    một con cồ lửa.
    Năm 1912, pharaon Thoutmosis IV được ngồi taxi đến bệnh
    viện La Caire để chiếu tia X. Trong dịp này, nhà bác học Grafton
    Elliot Smith đính chính sự ngộ nhận về kỹ thuật ưóp xác và
    phát hiện những phuxmg pháp iróp xác mói được áp dụng kể từ
    triều đại thứ 21, vào bình minh của thiên niên kỷ thứ nhât

    oa

    Một xá c ướp Pharaon

    triróc công nguyên. Một nguòi cùng thòi với Sm ith bà Armend
    Ruíìer, nhà vi khuẩn học ở Đại học y khoa Le Caire triển khai
    một phưong pháp giúp các mô đàn hồi được, nhơ đó có th ể tìm ra
    những căn bệnh mà ngvròi Ai Cập cổ thiiờng mắc phải như bệnh
    sán m áng, xơ vỡ động mạch, đậu m ùa... Riêng về một vết nứt
    tìm thây trên sọ của pharaon Ram ses II, công trình nghiên C IÍU
    của tiến sĩ Roger Lichtenber vào năm 1976 cho biết đã xảy ra
    trong quá trình uớp xác.

    N h ữ n g p h á t h iện m ới về x á c ướp
    Ngày nay, những nhà thám tử Sherlock Holmes của ngành
    iróp xác chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các bác sĩ,
    những nhà Ai Cập học quan tâm đến qui trình uóp xác và lý do
    27

    dẫn đến tùng cái chết trong quá khứ; nhóm thứ hai gồm những
    nhà hóa học, thảo mộc học khảo cổ chuyên về các loài thảo mộc
    thòi cổ. Nhơ họ, nguòi ta đvtọc biết hàng ngàn bí ẩn về kỹ thuật
    uóp xác. Ngoài natron và nhựa bitume có nguồn gôc vô cơ, nguòi
    ta còn tìm thấy vài chất béo ở có nguồn gốc động vật. Tuy nhiên,
    thành phần chính của chât liệu dùng vróp xác vẫn là thảo mộc.
    Việc nghiên cứu tỉ mỉ giúp các nhà khoa học hiểu đuọc đòi sông
    thảo mộc ở Ai Cập cách nay ba, bốn ngàn năm. Trong một xác
    ưóp đuạc khảo sát năm 1985 tại Viện bảo tàng Guimet ở Lyon
    (Pháp), nhà phấn hoa học Michel Girard thuộc trung tâm nghiên
    C IÍU khoa học quốc gia Pháp (CNRS) đ ã xác định điỉọc 46 chủng
    loại thảo mộc. Nhiều phát hiện thú vị đã được công bô sau những
    cuộc khảo sát xác ưóp vào năm 1940 tại Viện bảo tàng Metropoli­
    tan ở New York (Mỹ). Xác ưóp của một ngiiời tên là Wah (tìm
    thấy ở Lous Sor năm 1920) đuợc cởi bỏ lóp băng quấn quanh
    nguòd và ngươi ta đo điiọc lóp băng này dài... 845m, trong cùng là
    một tấm vải liệm cbn hoàn chỉnh. Việc khảo sát những vật liệu
    này cung cấp những hiểu biết về nghề dệt vải ở Ai Cập cổ. Ngoài
    ra, những chữ viết tiiợng hình trên các lóp vải băng giúp các nhà
    khảo cổ xác định được ai là chủ nhân của xác ưóp. Năm 1976, xác
    ưóp pharaon Ramses II đưọc đưa về Paris (Pháp) cho 15 phbng
    thí nghiệm khoa học khảo sát và một điều hết sức bất ngơ là
    trong xác xiớp có thuÔG lá - loại thực vật mà ngixòi ta hằng tin
    rằng đến thế kỷ XV mói đuọc nhà thám hiểm Christophe Colomb
    mang về từ châu Mỹ. Ngoài ra, khi khảo sát lớp vải băng một xác
    ưóp ở Viện bảo tàng Guimet, nhóm nhà khoa học của Jean Claude
    Goyon và Robert Verguieux xác định được một lá buồm là bàng
    chứng hiếm hoi về giao thông đuòĩig thủy trên sông Nile th'oi cổ.
    Hiện nay, các ngành khoa học cbn đi xa hon nữa. Ngubi ta
    28

    dùng kỹ thuật huyết học để xác định quan hệ huyết thống của
    những xác Iióp trong cùng một triều đại hay áp dụng di truyền
    học nghiên cihi những đoạn ADN để nắm đuọc qui trình tiến hóa
    của một số virus hầu dễ dàng đối phó với chúng. Cách đây vài
    tháng, một nhóm nhà khoa học đuực sự hvtớng dẫn của nhà Ai
    Cập học Bob Bryer - giáo sư Đại học Long Island và Ronal Wade,
    giám đô"c ủy ban nhân th ể học bang Maryland (Mỹ) - đã tiến
    hành việc thử nghiệm uóp xác của một ngtròi tự nguyện hiến
    thân cho khoa học, vói những dụng cụ và chất liệu mà ngưòi Ai
    Cập cổ đã dùng. Một tháng sau, công việc đuọc xem như thành
    công. Từ đó„ cứ sau 6 tháng, nguời ta lại khảo sát và quay phim
    để theo dõi tình trạng của xác xróp. Bryer đã trở thành nhà iróp
    xác đầu tiên trong lịch sử ngành Ai Cập học.

    Luxor đền thà mặt tròi
    N ằm ở bơ đông của sông Nile, Liixor được vua Amenhotep đệ
    tam xây diạng khoảng năm 1400 TCN nhưng nhanh chóng bị
    tàn phá bỏd các pharaon và các chiến binh Ai Cập cũng như các
    quôc gia khác như sô" phận của hầu hết các đền đài khác ở đất
    nước sổ đại này. Những gì còn lại của ngôi đền thực sự được xây
    dựng ở th ế kỷ sau. Công trình gồm hai bộ phận chính: một cửa
    lớn - nơi cử hành các nghi th\íc tôn giáo và đại diện của nhà vua.
    Trưóc khi đến đưạc cổng vào đưọc hình thành bởi hai bức tường
    đá hai bên là một đoạn đvtờng dài nhiều hàng, bậc lát đá - nod
    diễn ra các đám rước, cổng vào này hay còn gọi là tháp môn 29

    pylon có cấu trúc hình thang dẫn vào sân trong, noi đặt hàng
    loạt các biíc tưòng khổng lồ của pharaon Ramses đệ nhị tự tạo
    cho mình (hình 2). Hệ thông cổng, tuọng vua tháp bia được xử lý
    khéo léo rất thông nhất và hài hồa vừa phô trương thanh thế,
    vừa khẳng định SIÍC mạnh cao cả của nhà vua (hình 3). Các tháp
    môn này xây bằng đá granite màu hồng có màu sắc khá rực rõ
    vód hàng loạt các chạm khắc phù điêu, văn tự tạo nên một không
    khí lễ hội, ca tụng vai trò ân chủ muôn loài của những vỊ pharaon
    siêu phàm. Đ iều đặc
    biệt và có phần nghịch
    lý là sự hiện diện của
    những bức tường, hàng
    cột chạm khắc hoa sen
    tinh xảo của nhà thơ
    Hồi giáo Abu el Hagag
    mà hiện nay vẫn còn
    được sử dụng và mở
    rộng. Bộ phận chính
    thứ hai của cóng trình
    là hệ thông cung điện
    của vua Amenhotep vói
    những hàng cột trụ to
    lớn được xếp thành 4
    nhóm, mỗi nhóm 8 cột
    nặng nề dày đặc. Đầu
    của những cây cột này
    đxỉợc tạo hình loe ra để
    đỡ phần trần phía trên
    trang trí hình chim ưng
    Tranh vẽ trên tường lăng Pashedau tại Thabes

    30

    bay Ixiợn trong tròi xanh và tinh tú. Ngay sau các hàng cột là 3
    bức tượng ngồi khá lớn, trong đó 2 biíc của thần Amon và Mut,
    bức thứ ba của vua Ramses III. Đại điện này có quy mô và kiến
    trúc rât hoành tráng đồng thòi tạo sự thần bí, áp chế con ngưòi.
    Tuy nhiên, những chi tiết trang trí lại rất tinh t ế phủ đầy thân
    cột cũng như những m ảng tượng mô tả những chiến tích và cuộc
    sông của nhà vua.
    Dù chỉ là một trong rất nhiều ngôi đền ở Thebes nhxmg Luxor
    vẫn đưọc ngưòi ta nhắc đến nhiều như một ngôi đền đại diện cho
    những thành tựu văn hóa rực rỡ cũng như tôn giáo thơ thần của
    nguòi Ai Cập thòi kỳ Tân Vvrcmg Quốc.

    Bí mật thuật ưóp xác
    Aỉ Cập
    Các xác ướp luôn luôn là trung tâm thu hút khách viếng
    thă...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama