GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
Di sản thế giới tập 6 - Châu Phi_Bùi Đẹp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thành
Ngày gửi: 12h:05' 29-05-2024
Dung lượng: 91.7 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thành
Ngày gửi: 12h:05' 29-05-2024
Dung lượng: 91.7 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
BÙJ ĐẸP
b iê n s o ạ n
Châu Phi
V
Tập 6
DI SẢN THẾGIỚI
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ỷ PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤ T BÁN TRE
161 b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ C h í Minh
Điện thoại: 9316289 - 9317849 - 9316211
E-maìl: nxbtre@hcm.vnn.vn
BÙI ĐẸP
Biên soạn
DI SẢN THẾ GIỚI
(VĂN HÓA - Tự NHIÊN - H ỗN HỢP)
TẬP 6: CHÂU PHI
Tái bdn lần thứ 2
TRƯỞNG DẠI HỌC VINÌ
TRUNG ư ỉ , m M P ^
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Phong cảnh ván hóa
“Phong cảnh văn hóa”: một th ể loại mới, vừa phức tạp vừa
phong phú, của di sản thê giói.
Đ ặt ra nhũng tiêu chuẩn đáng tin cậy để bảo vệ các phong
cảnh quanh chúng ta không phải là một việc dễ bởi lẽ mỗi nền
văn hóa đều có khuynh huóng xem xét chúng bằng cách nhìn
riêng. Tuy nhiên, nhơ có UNESCO, một khái niệm nhất quán về
“th ế nào là một phong cảnh văn hóa” cuối cùng ra đòi. Những
tiêu chuẩn chung về việc đánh giá, chặt chẽ mà không cirng nhắc,
từ nay cho phép phân biệt ba loại phong cảnh.
a. Phong cảnh đưạc xác định có chủ tâm, do con ngưòi nghĩ
ra và tạo dựng (các khu vuờn, như Aranjuez ở Tây Ban Nhan,
Versailles 0 Pháp, hay Center Park ở New York vốn là tác phẩm
của các kiến trúc sư Olmsted và Vaux);
b. Phong cảnh chủ yếu do quá trình tiến hóa thiên nhiên tạo
nên (như Somerset Levels khắc sâu những hào rãnh hay York
shire Dales chằng chịt những tưòng nhỏ bằng đá ở vvtơng quốc
Anh, những vùng đất trồng trọt được ven sông Côte de Beaupré,
trong thung lũng sông Saint-Laurent ở Canada, hay những thửa
ruộng lứa bậc thang trông như tấm giấy da cừu được cạo di để
viết lại, ở mạc bắc Philippines;
Lần đầu tiên UNESCO công nhận di sản văn hóa tiếng nói
của phi vật thể
Ngày 18-5, Tổ chik; Giáo dục - khoa học và văn hóa Liên
Hiệp Quô'c (UNESCO) sẽ trao tặng danh hiệu “Kiệt tác di sản văn
hóa tiếng nói và phi vật thể của nhân loại” lần đầu tiên dành cho
các không gian văn hóa hay hình thái thể hiện ván hóa có giá trị
đặc biệt thuộc các vùng khác nhau trên th ế giới. Tổng giám đốc
UNESCO Koichiro Matsuura sẽ công bô"danh hiệu này trong buổi
kết thúc cuộc họp của một ban giám khảo quô"c tế đánh giá 30 di
sản văn hóa đợt đầu thuộc thể loại trên. Chủ tịch ban giám khảo
(gồm 18 thành viên do tổng giám đô"c UNESCO bổ nhiệm vói
nhiệm kỳ bô"n năm) là nhà văn người Tây Ban N ha Juan
Goytisolo).
Các hình thái thể hiện văn hóa đặc sắc đưọc UNESCO trao
giải bao gồm ngôn ngữ, văn hóa truyền miệng (cụ thể là các thể
loại thần thoại, trường ca, truyện kể), nhạc, múa, trò choi, phong
tục tập quán, tính sáng tạo trong nghề thủ công, kiến trúc và các
loại hình nghệ thuật khác. Nhóm kiệt tác trong lĩnh vục không
gian về vật chất hay thơi gian trong đó diễn ra các sự kiện văn
hóa lặp lại, thiròng xuyên hay không thuòng xuyên.
Việc trao tặng danh hiệu “Kiệt tác di sản văn hóa tiếng nói và
phi vật thể của nhân loại” phụ thuộc vao các tiêu chuẩn về giá trị
đặc biệt, miíc độ ăn sâu bén rễ vào truyền thông văn hóa. Ngoài
ra, những tiêu chuẩn khác được UNESCO xem xét, đánh giá là
việc khắng định bản sắc vàn hóa, nguồn cảm hiíng, trao đổi giữa
các nền văn hóa, vai trồ văn hóa và xã hội hiện tại, tính đặc sắc
của kiến thiíc, bằng chứng về một truyền thống văn hóa sông
động có nguy cơ bị diệt vong. Việc công bố danh hiệu này sẽ diễn
ra hai năm một lần.
Trong số các di sản được công nhận lần này có 4 di sản của
châu Mỹ, 3 của châu Phi, 5 của châu Âu, 1 của th ế giới Arập. Đại
diện cho châu Á có ICinh Kịch của Trung Quô"c, kịch múa truyền
thông Ân Độ, kịch truyền thống N hật Bản, dân ca p hilippines,
nhạc lễ hoàng gia Triều Tiên và không gian văn hóa của vùng
Boisun thuộc Uzbekistan.
Tổng giám đốc UNESCO khẳng định rằng những điệu múa,
âm nhạc, lễ hội, và tập tục vừa được công nhận đã th ể hiện tính
đa dạng và sáng tạo của văn hóa nhân loại, ô n g lưu ý rằng toàn
cầu hóa, tình trạng lạc hậu về kinh tê xã hội và m ât ổn định
chính trị cũng là những yếu tố đe dọa bản sắc văn hóa dân tộc.
Q uố c kỳ
các nước U N E S C O
I\hímg kỳ quan,
nm gặp gã eho và nhận
Di sản thê giới: đó là một chủ đề nêu lên rât đúng lúc đôi vói
th ế giới chúng ta ngày nay, một th ế giói đang bị rung chuyển bởi
một cuộc khủng hoảng khôc liệt và dữ dội đang đbi hỏi phải xem
xét lại cả một hệ thông giá trị và làm biến đổi về chất mối quan hệ
giữa con ngưòi và môi truòng. Tác động của sự tiến triển kỹ nghệ
và công nghệ đang minh chiíng cho điều này; sự thỏa hiệp thiêng
liêng giữa con nguời với thiên nhiên và vũ trụ đã bị phá võ. Hành
tinh đã bị đầu độc. Va bản thân sự sống dường như đang bị đe
dọa dưói những hình thức khác nhau.
Cuộc khủng hoảng này buộc chúng ta phải suy nghĩ lại không
chỉ về những phuong cách phát triển, mà về chính cái khái niệm
về sự phát triển, từ quá lâu đã đuợc xem xét duói góc độ của sản
xuất và tiêu dùng. Các nhà tư tưởng và nghệ sĩ và nhà văn ngày
càng tin chắc rằng cái quan niệm về sự phát triển này đang hy
sinh văn hóa cho sự tăng trưởng kinh tế, hy sinh chất liiọng cho
sô' lượng và do vậy sẽ chỉ có thể gây ra những hậu quả thảm
khôc. Chính vì vậy mà hôm qua cũng như hôm nay, chúng tôi
luôn nói phải đặt “văn hóa lên tniớc” mọi cái khác. Những cuộc
gặp gỡ lớn giữa lịch sử và loài ngưòi luôn mang tính vãn hóa.
Vấn đề ở đây không phải là tạo ra khu biệt lập về văn hóa, sắc tộc
và địa lý, mà trái lại, phải đánh giá cao tính đặc thù và sự phong
phú trong bản sắc của chúng ta nhằm củng cô thành quả của
quá khứ và làm giàu thêm cái di sản mà chúng ta phải truyền lại
cho các th ế hệ t\iong lai. Một di sản trong đó mọi chủng tộc, mọi
quốc gia, mọi nền văn minh sẽ góp vào những giá trị riêng không
gì thay th ế được.
Chính cái chủ nghĩa nhân văn “cho và nhận” này là uóc
nguyện tha thiết của nhà thơ Máctinich Aimê Césaire một quan
niệm mới về những quan hệ trao đổi kết quả sẽ là một sự cộng
sinh của những nền văn hóa, không phải để chúng giông hệt
nhau hoặc hòa tan vào nhau, mà để làm cho chúng thêm phong
phú thông qua tiếp xức với nhau “N ền văn hóa của cải thuộc về
mọi ngưòi” mà nhà thơ Xênêgan Leopold Sédar Senghor hằng âp
ủ không phải là một nền văn hóa toàn th ế giói, mà là một sự gặp
gỡ của các nền văn minh.
Sự gặp gỡ này là di sản toàn cầu của loài ngưòi chúng ta.
Con ngưòi khác vói loài vật là do có tinh thần sáng tạo, nhơ đó nó
vượt lên trên những giới hạn của cái hữu hình. Ngọn lửa, khi đã
được ch ế ngự, đã biến thành những tiếng rì rào của rừng thẳm ,
hơi thở thì thầm của cuộc sống, cái xôn xao của màu sắc, sự xào
xạc của hình dáng, thành khoảng bao la đvtợc tái tạo, ảo vọng,
ánh sáng... Chiếc gậy chông đầu tiên của con ngưbi: tảng đá đầu
tiên nó chọn để ngồi nghỉ, cái hang đầu tiên nó ẩn trú đều m ang
màu sắc của ánh sáng. Bởi vì từ khỏi thủy, con nguòi sinh ra
trong những kỳ quan cái đẹp; nó cũng sinh ra vì cái đẹp.
Là cát bụi từ những vì sao roi xuống, nó đi khắp th ế giói, và
cũng như chú tý hon Poucet (trong các truyện hoang đưòng của
Perrault), nó rãi ra khắp noi. Cùng với thòi gian, nó xây dụng
nên những tượng đài kỷ niệm mang dấu ấn của thiên tài và tính
vĩnh cửu của chủng loài.
Để sắp đặt hành động, con ngvròi cần có một hình ảnh vê quá
khứ và một cách nhìn về tưong lai của mình. Dẫu cho các ngành
khoa học vẫn còn chua giải đáp được câu hỏi về cội nguồn nguyên
thủ cũng như di sản cho th ế hệ sau, con nguòi cũng sẽ trềo lên
những núi cao để truyền niềm tin vào cuộc sông. Trong niềm tin
này có ẩn chứa tinh thần kháng cự và hy vọng. Chính niềm tin
ấy đã đưạc công bô, như một nhu cầu cô"t tử, trên nguỡng của của
mọi lâu đài. Từ những túp lều của thbi thơ ấu đến những cột trụ
của các đền đài, trên mỗi phiến đá ở phía sau của mọi cánh cửa,
của mọi thế kỷ, con người sẽ khắc ghi mỗi hy vọng đó.
in
Ai Cập
Abu Mena
N hững những nhà thơ, nhà rửa tội, tu viện của các tín giáo,
hoàng cung, đền đài của vua chúa hay lóp thông trị của xã hội
Ai Cập.
lí»
■
ị
1
-- r-r»
iU i
^
Làng Duana ở A i Cập
11
Nhà ở, chung cư của dân chúng, cho đến đxròng sá đi lại được
xây diỊng và các xưởng sản xuất đều đvrợc xây diing trong thành
phố thần thánh của thiên chúa giáo.
Thành phô" này được xây dimg trên các nền mả của Maty
Menas, thuộc triều đại Alexandria, mà ngưòi chết vào năm 296
sau công nguyên.
Diếu kỳ diệu đầy bí ẩn
từ 3000 nãm...
Rames II, thương được gọi là Ramses Đại đế (Ramses II The
Great) là vị pharaoh vĩ đại nhất trong các pharaoh của Ai Cập cổ
đại (1304-1237 tniớc công nguyên). Trong 67 năm trị vì của ông,
Ramses II nổi tiếng là một nhà quân sự thao lược, một nhà kiến
trúc vĩ đại. Ông đã từng cầm quân đánh chiếm vùng Bắc Phi và
vùng Tây Á, lập những chiến công hiển hách, ô n g còn “nổi tiếng”
là vị pharaoh có nhiều... thê thiếp, có tói 18 nguòi vợ và hon 100
ngưòi con, trong đó có 62 nguòi con trai! về kiến trúc, ông đã để
lại cho đòi sau một di sản vô giá; một loạt đền thơ xây dựng dọc b'ơ
sông Nile, trong đó nổi tiếng nhất là 2 ngôi đền ở Abu Simbel.
Ngôi đền lớn nhất - và cũng đẹp nhất - là đền thơ thần Mặt
Tròi Re-Harakhti. Mặt tnióc cửa đền cao 33m rộng 38m đặt 4
pho tưọng Ramses II tạc bằng đá, mỗi pho tượng cao 20m (ảnh
kèm theo). Bên cạnh đó, còn có tượng của bà mẹ Mutti bà vợ
Nefertiti và nguòi con trai đầu của vua. Đây chỉ là cái “cổng” và
12
fKfek':'S
Đền thờ hoàng hậu Hatshepant
một ngách để vào sâu trong lòng núi đá. Điều kỳ diệu và bí
mật của đền bắt dầu từ đây.
CÓ
Phòng thứ nhất, rộng khoảng lOOm^, đặt những bức tượng
và những bức khắc trên đá k ể lại những chiến công của Ramses
II. Tiếp tục đi sâu vào nữa là phòng thứ 2, cũng rộng như vậy,
trong đó dặt m ột pho tuợng cao 20m của Ramses II. Phồng tối om
vì nằm sâu trong lồng núi đá. Những ngày bình thường, ngưòi ta
phải mắc diện để mọi du khách chiêm nguõng bức tượng. Tuy
nhiên, trong m ột năm chỉ có 2 ngày (ngày sinh của vua và ngày
ông lên ngôi), tính theo lịch Hồi giáo có xê xích so vói Diiong lịch,
vào buổi sáng khi m ặt tròi mọc, có một tia nắng m ặt tròi chiếu
thẳng vào m ặt tưọmg vua trong khoảng 1 tiếng đồng hồ!
13
Thường là những ngày này,
khác du lịch từ bốn phutxng trên
thê giói đổ về Abu Simbet trong
đó không ít các nhà khảo cổ học,
sử học và nhiều ngành khoa học
khác của các nưóc, đến “tìm hiểu”
hiện tiỉợng kỳ vĩ này. Ngưòd ta
không tìm ra một khe hở nào trên
đỉnh núi, cũng không thấy tấm
gương phản chiếu nào tnrớc mặt
txiỌTig vua, mà chỉ thấy một tia
nắng m ặt tròi chiếu thẳng vào
mặt tuợng. Trong phòng lúc đó
không có đèn điện, chỉ có ánh
sáng do tia nắng kia tạo ra, và
nhìn khá rõ những nét điêu khắc
trên mặt tuựng.
Rất nhiều nguòi đã đến, và
tất
nhiên
vói kiến thức hạn hẹp
Tượng nhân sư
về khảo cổ, về khoa học nên chỉ
cồn biết... đứng ngây ra mà thán phục! Mỗi một khách chỉ duọc
chiêm ngưõng hiện tưọng đó trong khoảng 5 phút, rồi phải ra cho
đợt khách khác vào. Đành lòng là phải ra ki-ô"t bán đồ kỷ niệm ở
ngoài bãi đậu xe, mua lấy một cuô"n sách nhỏ giới thiệu về Abu
Simbel và một pho tượng nhỏ của Ramses II Đại đế vậy!
Vậy là đã hơn 3.000 năm trôi qua, nhưng bí mật về “tia nắng
kỳ diệu” ở ngôi đền vẫn chua được khám phá.
14
Akliet - Aton,
thành phò mặt tròi
Khi Platon tìm cách hình dung Nhà nước lý tưởng hy vọng
viễn vông tạo ra một nền cộng hba dựa trên lý trí đã khiến cho
ông phải cẩn thận đề xuất việc loại trừ các nhà thơ. Tuởng đâu
cái thành phô" tuởng tượng kia không thể dung nạp trong lòng
cái thực t ế mà nó mong muốn thiết lập yếu tô duy nhất có th ể lật
nhào nó và mỉa
mai thay lại là
ch ín h y ế u tô'
s in h ra nó.
N hưng
tìn h
h ìn h sẽ kh ác,
nếu tác giả của
đề án mơ mộng
kia lại chính là
nhà vua - một
nhà vua th ự c
s ự , và tron g
tniờng họp này
đồngthbilàm ột
nhà thơ.
Di tích Akhet-Aten kinh đô Akhanaton
15
Akhet - Aton (có nghĩa là “thành phố ở chân trơi”), một điều
không tuỏng trở thành hiện thiỊC, chỉ tồn tại chừng nào còn tồn
tại những quan điểm dị giáo của ngtròi sáng tạo ra nó, Pharaong
Akhenaton. Sau mười hai năm tồn tại, nó chỉ còn lại ở Tell alAmama tại miền Trung Ai Cập, trên bơ Đông sông Nile, có vài ba
cung điện, một khu lao động, một xuởng điêu khắc, nhiều ngôi
chùa. Những di tích đó không nói lên sự tồn tại của thành phô"
bằng nói lên sự hủy diệt của nó. Đó là những mẫu đá vỡ của một
bài thơ điít đoạn bị cô định mãi mãi trong giìr phút sinh thành.
Cho đến tận năm 1842, ngay đến tên thành phô" cũng đã bị
lãng quên, nói chi đến đến lịch sử của nó. Ngiròi ta cùng lắm chỉ
lơ mờ biết rằng h đâu đó ở khoảng giữa cô' đô Memphis của Ai
Cập và kinh đô mói Thèbes đã từng có một thành phô" mà những
ngôi nhà chùa dát vàng đã bị nhận chìm trong cát, trưóc hết là
cát bụi của sa mạc, rồi sau đó là thứ cát bụi sắc cạnh hon của
lãng quên.
Mãi đến năm 1912 các nhà Ai Cập học nguòi Đức mói phát
hiện đuọc biíc tuợng bán thân sơn màu Nefertiti, hiện nay đưọc
để tại bảo tàng Berlin, c ổ vật ấy sau đó trở thành một trong
những tác phẩm nghệ thuật Ai Cập quý báu nhất và vẻ đẹp ngòi
sáng của nó đã rọi ánh sáng vào thòi kỳ kỳ lạ nhất và ít đuọc biết
về lịch sử đất nuóc các pharaông. Một câu hỏi đvtợc đặt ra ngay
tức thì; nguòi đuọc diing tuợng này là ai, bởi tên nàng đă duọc
cẩn thận xóa bỏ khỏi hầu hết các di tích. Mât năm mưoi năm
nghiên cứu tìm tòi cuối cùng mới duọc biết rằng “bà hoàng hậu
lộng lẫy đội vưong miện cao” kia là vợ Akhenaton. Tên tuổi ông
vua này cũng không đvtọc ghi trong bất kỳ danh sách các vua
chúa nào của Ai Cập. Thirc tế, các nhà viết sử Ai Cập cổ đại đã cố
tình bỏ qua ba mưoi năm lịch sử.
16
Sự cố ý duy trì một lỗ hổng đó cũng đủ cho thấy thbi kỳ Amarna
này có ý nghĩa như th ế nào đối với nguòi Ai Cập cổ đại. Chxromg
trình câp tiến của Akhenton, noi gặp gỡ giữa chính trị và thi ca,
hình như là điều đáng ngại đến nỗi cho đến tận ngày nay nó có
vẻ như là một sự lầm lạc của lịch sử khó hba nhập vào bất kỳ một
hệ thôíng niên đại theo đuòng thẳng nào trong lịch sử Ai Cập, mà
hình như thuộc về một gôc ẩn giâu nào đó trong ký líc, trên ranh
giới của mơ mộng.
ở k h oản g cách thời gian như vậy, bản thân con người
Akhenaton cũng khó dựng lại. Ngưòi thì cho rằng ông là một
hình ảnh tượng trưng bi thảm
của Chúa Kitô, ngtròi báo hiệu
th uyết độc thần, m ột Moise
truóc khi có tên Moise. Ngươi
thì lại coi ông là một pharaông
dị giáo, vết nhơ lớn nhât trong
lịch sử nước ông, và nói rộng
ra trên địa dư nưóc ông mà
bằng nhiệt tình sáng tạo của
mình, ông đã để lại vĩnh viễn
một cái vết nhỏ m àu m ặt trbi.
Bởi vì ở một địa điểm khô
cằn và nóng bỏng, noi m ặt trơi
có lẽ đã cất m ình lên trong
Rgày đầu tiên của sự sáng thế,
A khenaton quyết định dựng
lên một thanh phố điiọc lây lam
trung tâm tôn giáo mói của
ông. Thách thức cả một đội
Tượng bằng cát - đền thờ Anton
(1370tr.CN)
17
giâo sî hùng manh, ông dà ngàn câm viêc th'o cüng Amon,
vua cùa câc thân linh, va thay vào do là tha cüng Aton, màt trbd.
Six doan tuyêt này diên ra dôt ngôt, o dau trieu dai ông, khoàng
nam 1362 truôc công nguyên. Ông doi tên hiêu Amenophis IV
cùa minh (c6 nghîa “Aton hài long”) thành Akhenaton, “nguoi
duoc Aton yêu men”. Mubi van kÿ su, kÿ thuât viên va công nhân
duoc dùng vào viêc xây dimg mot thành phô" c6 khà nàng chiia
mot sô" dân cbn dông hon nûa. Akhet - Aton sê duoc coi là thành
phô" cùa mat trbi, cùa nghê thuât, tinh yêu và niém vui. N6 chàc
chàn là thành phô dau tien duoc thê" kê" hoàn toàn trên ban vè
truôc khi diroc thirc hiên.
Ngubi ta dâ tîm ra phuong phâp khéo léo tài tînh de vân
chuyén dê"n dia diém xây dimg nhûng vât lieu thich hop nhât, dé
Hâm mô vua Pharaon
làm cho kiến trúc đưọc nhẹ nhàng hơn bằng cách dùng đầm gỗ
đỡ những biíc tiròng xây bằng gạch đất nện, tuơng phản vói những
kiên trúc nặng nề bằng đá của các triều đại truớc.
Một đại lộ đế vưong chạy ngang qua giữa thành phố, hai bên
là nhà ở của những người giàu có, tiếp đến là khu nhà ở của
những ngtròi dân kém khá giả, sau nữa là đám ngưòi mong tìm
thây h Akhet - Aton m ột cuộc sông mód. Ngôi điện lớn ở trung tâm
thành phố gồm nhiều sân trong dẫn đến thánh đuòng, tấ t cả đều
quay về hiióng m ặt tròd mọc và đó, nhận trực tiếp tia nắng thiên
vì không có mái che. Nhơ vậy, pharaông cùng tất cả các tín đồ
đều có th ể thơ kính và giao hòa trực tiếp với đấng vĩnh hằng,
chìm ngập trong một thứ ánh sáng càng chói lòa hơn do màu
vàng tồn tại ở khắp noi, khắp chốn trong thành phố.
Những tòa nhà uy nghi hơn cả là Cung Bắc, xây dựng hoi về
mé ngoài thành phô' cho hoàng hậu Nefertiti. Thực sự là một th ế
giới thu nhỏ, nó có ao, vườn, những hàng cột bao quanh một hồ
hình vuông nằm giữa những khu đât rào kín có những loài chim
muông quý hiếm , tái tạo một thiên nhiên hài hòa giữa môi tniờng
hằng ngày của con ngưòi.
N gày nay chúng ta đã có một khái niệm khá rõ về sinh hoạt
hằng ngày ở Akhet - Aton; nhiều tiệc tùng liên hoan m ùng thần
m ặt trồi, nhưng ta không biết mấy những hoạt động chính trị, có
lẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu, sau những mối quan tâm tôn giáo
và thẩm mỹ của pharaông. Tuy nhiên, một vị thần mà m ắt trần
có th ể nhìn thấy được, hé cho thấy có một sự đảo lộn thật sự trong
việc th ể hiện quyền l iỊ C . Bởi vì trong một thành phô' có th ể nhìn
thấy thần linh con nguòi sống gần gũi với thần linh. Mối quan hệ
đó giũa con ngiiời vói thần linh cốt lõi của cách m ạng Akhenaton,
19
và ý nghĩa của nó có thể tóm tắt trong một ẩn dụ về cái nhìn. Có
thể nhìn thây mọi thứ, Aton chính là con mắt của mặt trơi; mặt
trbi là con mắt cúa thần linh, nhìn và đxiọc nhìn thấy, Amon, vỊ
thần ẩn náu xưa kia, nhìn mà không dể ai nhìn thấy mình, chỉ
hiện ra thông qua tấm gưong vỡ gồm vô sô thần tượng vói hình
thù quen thuộc, những dâu hiệu rãi rác của thần linh giữa loài
ngưòi. DỊ giáo của Akhenaton có lẽ là ở chỗ muôn vượt qua những
thứ thay th ế ấy, tìm cách xóa bỏ
khoảng cách thiêng thiêng của
các biểu tirợng và ở ngay bên
cạnh thần linh trong vùng ánh
sáng của thần linh.
Vì lẽ đó mà sự sáng tạo của
ông là không tưởng theo đúng
nghĩa của từ nay. Xét theo quan
điểm thi ca, không tuỏng hàm ý
cuối cùng hiểu đuọc thế giói một
cách chính xác và thật sự. Thẩm
mỹ học Amama ngả theo một thứ
chủ nghĩa hiện thục thái quá. Cái
nhìn của nghệ sĩ, mô phỏng đỉa
mặt trbi tỏa ra thanh vô số tia sáng
di chuyển về phía mục tiêu quan
tâm của nó, cái đối tuọng khác cũng
đang quan sát nó. Vua Akhenaton
đuọc thể hiện điíng như bản thân
ông, không có hình thù rõ rệt, một
ông vua mà hình hai nằm trong
co„mắt,„gub.khác^
Ta lơ mơ thấy ở đây những mầm mống của ý thiíc dân chủ
chớm nở mà một sô ngưòi đã nhận ra trong chương trình của
Akhenaton. Mặt tròi, ai cũng có th ể nhìn thấy, phân phát cho tất
cả ánh sáng và sự sống với một sự hào phóng như nhau, là biểu
tiỉọng của một quân vuong chính trực, tiíc là một điều không
tuởng. Nhưng một ông vua, cho dù là thi sĩ, cũng khó lòng duy trì
một cộng đồng con ngưòi trong một thứ ánh sáng chói lòa như
vậy. Sự dũng cảm của Akhenaton là ở chỗ đã không giả định thất
bại và qua đó đã trong phút chô"c xóa nhòa ranh giới giữa cái mơ
ưóc và cái khả thể.
]\ghĩa địa hoàng gia
cổ đại
Cách đây khoảng 3500 năm, các pharaon đã quyết định bảo
vệ các ngôi mộ của mình khỏi kẻ cắp, vì vậy đã xây dựng một
thành phố ở noi hoang vắng, nay gọi là “Thung lũng của các
vua”. Đền và lăng một mọc lên ở một bên bơ sông Nile. Bên kia
sông là làng đvrạc xây dirng dành cho lao công, những ngviòi đã
đục thành các ngôi mộ của hoàng gia sâu trong vách đá quạnh
quẽ. Làng ngày nay được gọi là làng “Deir al Madina”.
B ẩ y tô i c ủ a n gư ờ i c h ế t
Hàng trăm thợ thủ công đã lao động trong “Thung lũng của
các Vaa”. Khi họ không lao động, đàn ông sinh hoạt vói gia đình
21
Nghĩa địa hoàng gia
trong làng “Deir al Medina”. Các ngôi nhà trong làng nhỏ, được
xây bằng các thỏi bùn đâ't phoi khô, vì các ngôi nhà nóng và san
sát nên trẻ con thưòng chơi trên nóc nhà.
Ngày nay, chỉ nền móng bằng đá cuủa Deir al Medina còn
sót lại. Ngôi làng hưng thịnh trong 500 năm, quãng thòi gian các
vua đưọc mai táng trong thung lũng.
N ội th ấ t các ngôi mộ
Các pharaon đưọc chôn cất như khi họ sống, vói nghi lễ trang
nghiêm và điiợc bao quanh vói liiọng châu báu lớn. cắt sâu vào
sưòn đồi, bạn có thể thấy các lôì vào dẫn tới các ngôi mộ đưọc
trang hoàng lộng lẫy của các nhà quý tộc, những ngiròi đã phụng
sự các pharaon trong thơi vưong quôc mói.
99
N hieu ngôi mô lôn nhir lâu dài. Muon toi phbng, noi xâc uop
duoc mai tâng, ban phài di sâu xuông theo mot dubng hành lang
hep và dài, roi xuyên qua mot vài phbng trang tri nho, noi xua
kia de dây châu bâu, thiic an và câc do vât thuôc ve than thành.
M ot p h a r a o n bà
Không phài ta t cà câc ngôi mô trâng lê trong th'oi kÿ vuong
quôc moi deu duoc che giâu. Càm sao vào vâch dâ, ngôi den rông
này chira ngôi mô cùa H atshepsut. C6 nhieu dieu than bi bao
quanh nhà tri vi này cùa Ai Câp, boi Hatshepsut là dàn ông duoc
phép tri vi...
H a tsh e p su t dâ trô
thành ngubi tri vi khâp Ai |
Câp n h u th e nào? Khi
ch o n g cù a h o à n g h â u
H atshepsut chet, con trai jj
cùa ông là Thutmose III
dâng lê sê tro thành vua.
N hung lüc do Thutmose
III chi là mot câu bé và là
con cùa mot phu n û tuy
an o vd i vu a n h u n g
không c6 cvioi xin và c6 dia
vi thap hon cà ngubi hau.
Vi v ây H atsh ep su t bao
gan cubp ngai vàng và tri
vi n h u pharaon hon 20
nam. Nhiê'u chuyên gia
cho râng khi Thutmose III
Pharaon bà
23
cuôi cùng nắm lấy ngai vàng, ông đã tức giận, ra lệnh đục cái tên
của Hatshepsut ra khỏi các công trình tiiỉmg niệm ở Ai Cập.
K hám p h á nguy hiểm
Truyền thuyết cổ cảnh báo rằng một tai họa sẽ xảy đến với
bất cứ ai quấy rầy ngôi mộ của pharaon, nhimg những cái bẫy bí
mật và lơi chú ma thuật đã không thể làm chùn tay nhà khảo cổ
Anh Howard Carter. Chỉ vói một vài manh mối như chiếc chén
uôĩig rượu và một miếng chạm nôi bằng vàng mang tên của nhà
vua
T u tan kh am en ,
Howard Carter bắt đầu
cuộc săn tìm ngôi mộ của
hoàng gia trong “Thung
lũng của các vua”. Năm
1922, sau 6 năm đào bới,
ông đã phát hiện ra lôl
vào phòng mai táng, ô n g
trở thành nguìri đầu tiên
trong hon 3000 năm đã
nhìn thây điểu kỳ diệu
trong ngôi mộ củ a
Tutankhamen.
H ãy tư ở n g tư ợ n g
xem Haward Carter đã
cảm thâV th ế nào khi
ông mở được bức vách
cuô"i cùng trong ngôi mộ
của vua Tutankhamen
và nhìn thấy số của cải,
Khách
24
đang xem bảo tàng
châu báu không th ể tin đuạc nằm ở trong đó gồm các tiiợng
vàng, ngọc, đá quý và các bức tranh vô giá trên vách đvtạc chôn
theo vua.
Tại đây, bạn có th ể thấy Carter và nhóm làm việc của ông
m ang từng đồ vật ra khỏi ngôi mộ của Tutankhamen mà không
gặp phải sự đe dọa thần bí nào. Mỗi một thứ đều được đánh số và
ghi chép, phân loại cẩn thận tnróc khi đưa tới bảo tàng.
H ướng d ẫ n k h á c h th a m q u a n cá c ngôi m ộ
Ngày nay, bạn không phải đào xuyên vách đá để tìm mộ của
các pharaon. Bản đồ về “Thung lũng của các vua” sẽ hướng dẫn
bạn tới các phòng mai táng nằm sâu trong các vách đá hiu quạnh.
Bản đồ hướng dẫn tấ t cả các ngôi mộ mà tói nay chúng ta đă biết.
Liệu không cồn những phòng mai táng bí m ật vẫn nằm sâu bên
trong “Thung lũng của các vua”? Không ai biết chắc chắn.
*
*
*
Tháng 2-1995, Tiến sĩ Ai Cập học Kant Week (Mỹ) và một số
cộng sự đã phát hiện ra ngôi mộ số 5 ẩn mình trong suốt 3200
năm tại “Thung lũng các vị vua”. Đây là noi an táng tập thế
trong một lăng tẩm hình chử T, được xem là lăng mộ lớn nhât ơ Ai
Cập. Mỗi ngăn mộ là noi chôn cất một trong 52 người con trai của
vua Ramses II (trừ M eaneíĩtal có mộ riêng vì là ngxiòi k ế vị sau
này). 110 nguòi con gái được chôn ở đâu thì chua rõ.
Ramses II trị vì Ai Cập suốt 67 năm (từ 1279-1212 tmớc công
nguyên) và đã xây diỊTig được nhiều đền đài, lăng tẩm hon bất cứ
pharaon nào truớc đó.
25
Pharaon Ramses II
bị vã sọ lúe iróp xác
Nhà khoa học Pháp Gaston Maspéro (1846-1916) đ ã C IÍU vãn
được nhiều xác ướp, nổi bật nhất là xác của pharaon Ramses II.
Năm 1882, ông khám phá hang động Deir-al-Bahari, noi ngày
xua vị Đại giáo chủ Pinedjem đã giâu kín nhiều hài côt ở “Thung
lũng các vì vua” để tránh bị cướp phá. Ngày 1/6/1886, xác vtóp
Ramses được cởi bỏ lớp băng quấn quanh ngưòi và từ đó cả châu
Âu nổi lên cơn sô"t xác ướp. Các tay giàu có cố tìm cho được một
xác ướp mang về nhà rồi mòi bạn bè đến để nhìn xem vì tò mb
hơn là sự ham muôn hiểu biết. Chính điều này không làm cho
nguòd ta ngạc nhiên khi biết rằng ngành nghiên cứu xác ướp bị
ngimg trệ trong khoảng 50 năm, từ 1850 đến 1900. Điều đáng
mừng là sự phát minh tia X vào năm 1895 đã góp phần cách
mạng hóa ngành Ai Cập học. Nhơ tia X, lần đầu tiên người ta
phát hiện đưọc bên trong một xác uóp trung bày tại Vienne có
một con cồ lửa.
Năm 1912, pharaon Thoutmosis IV được ngồi taxi đến bệnh
viện La Caire để chiếu tia X. Trong dịp này, nhà bác học Grafton
Elliot Smith đính chính sự ngộ nhận về kỹ thuật ưóp xác và
phát hiện những phuxmg pháp iróp xác mói được áp dụng kể từ
triều đại thứ 21, vào bình minh của thiên niên kỷ thứ nhât
oa
Một xá c ướp Pharaon
triróc công nguyên. Một nguòi cùng thòi với Sm ith bà Armend
Ruíìer, nhà vi khuẩn học ở Đại học y khoa Le Caire triển khai
một phưong pháp giúp các mô đàn hồi được, nhơ đó có th ể tìm ra
những căn bệnh mà ngvròi Ai Cập cổ thiiờng mắc phải như bệnh
sán m áng, xơ vỡ động mạch, đậu m ùa... Riêng về một vết nứt
tìm thây trên sọ của pharaon Ram ses II, công trình nghiên C IÍU
của tiến sĩ Roger Lichtenber vào năm 1976 cho biết đã xảy ra
trong quá trình uớp xác.
N h ữ n g p h á t h iện m ới về x á c ướp
Ngày nay, những nhà thám tử Sherlock Holmes của ngành
iróp xác chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các bác sĩ,
những nhà Ai Cập học quan tâm đến qui trình uóp xác và lý do
27
dẫn đến tùng cái chết trong quá khứ; nhóm thứ hai gồm những
nhà hóa học, thảo mộc học khảo cổ chuyên về các loài thảo mộc
thòi cổ. Nhơ họ, nguòi ta đvtọc biết hàng ngàn bí ẩn về kỹ thuật
uóp xác. Ngoài natron và nhựa bitume có nguồn gôc vô cơ, nguòi
ta còn tìm thấy vài chất béo ở có nguồn gốc động vật. Tuy nhiên,
thành phần chính của chât liệu dùng vróp xác vẫn là thảo mộc.
Việc nghiên cứu tỉ mỉ giúp các nhà khoa học hiểu đuọc đòi sông
thảo mộc ở Ai Cập cách nay ba, bốn ngàn năm. Trong một xác
ưóp đuạc khảo sát năm 1985 tại Viện bảo tàng Guimet ở Lyon
(Pháp), nhà phấn hoa học Michel Girard thuộc trung tâm nghiên
C IÍU khoa học quốc gia Pháp (CNRS) đ ã xác định điỉọc 46 chủng
loại thảo mộc. Nhiều phát hiện thú vị đã được công bô sau những
cuộc khảo sát xác ưóp vào năm 1940 tại Viện bảo tàng Metropoli
tan ở New York (Mỹ). Xác ưóp của một ngiiời tên là Wah (tìm
thấy ở Lous Sor năm 1920) đuợc cởi bỏ lóp băng quấn quanh
nguòd và ngươi ta đo điiọc lóp băng này dài... 845m, trong cùng là
một tấm vải liệm cbn hoàn chỉnh. Việc khảo sát những vật liệu
này cung cấp những hiểu biết về nghề dệt vải ở Ai Cập cổ. Ngoài
ra, những chữ viết tiiợng hình trên các lóp vải băng giúp các nhà
khảo cổ xác định được ai là chủ nhân của xác ưóp. Năm 1976, xác
ưóp pharaon Ramses II đưọc đưa về Paris (Pháp) cho 15 phbng
thí nghiệm khoa học khảo sát và một điều hết sức bất ngơ là
trong xác xiớp có thuÔG lá - loại thực vật mà ngixòi ta hằng tin
rằng đến thế kỷ XV mói đuọc nhà thám hiểm Christophe Colomb
mang về từ châu Mỹ. Ngoài ra, khi khảo sát lớp vải băng một xác
ưóp ở Viện bảo tàng Guimet, nhóm nhà khoa học của Jean Claude
Goyon và Robert Verguieux xác định được một lá buồm là bàng
chứng hiếm hoi về giao thông đuòĩig thủy trên sông Nile th'oi cổ.
Hiện nay, các ngành khoa học cbn đi xa hon nữa. Ngubi ta
28
dùng kỹ thuật huyết học để xác định quan hệ huyết thống của
những xác Iióp trong cùng một triều đại hay áp dụng di truyền
học nghiên cihi những đoạn ADN để nắm đuọc qui trình tiến hóa
của một số virus hầu dễ dàng đối phó với chúng. Cách đây vài
tháng, một nhóm nhà khoa học đuực sự hvtớng dẫn của nhà Ai
Cập học Bob Bryer - giáo sư Đại học Long Island và Ronal Wade,
giám đô"c ủy ban nhân th ể học bang Maryland (Mỹ) - đã tiến
hành việc thử nghiệm uóp xác của một ngtròi tự nguyện hiến
thân cho khoa học, vói những dụng cụ và chất liệu mà ngưòi Ai
Cập cổ đã dùng. Một tháng sau, công việc đuọc xem như thành
công. Từ đó„ cứ sau 6 tháng, nguời ta lại khảo sát và quay phim
để theo dõi tình trạng của xác xróp. Bryer đã trở thành nhà iróp
xác đầu tiên trong lịch sử ngành Ai Cập học.
Luxor đền thà mặt tròi
N ằm ở bơ đông của sông Nile, Liixor được vua Amenhotep đệ
tam xây diạng khoảng năm 1400 TCN nhưng nhanh chóng bị
tàn phá bỏd các pharaon và các chiến binh Ai Cập cũng như các
quôc gia khác như sô" phận của hầu hết các đền đài khác ở đất
nước sổ đại này. Những gì còn lại của ngôi đền thực sự được xây
dựng ở th ế kỷ sau. Công trình gồm hai bộ phận chính: một cửa
lớn - nơi cử hành các nghi th\íc tôn giáo và đại diện của nhà vua.
Trưóc khi đến đưạc cổng vào đưọc hình thành bởi hai bức tường
đá hai bên là một đoạn đvtờng dài nhiều hàng, bậc lát đá - nod
diễn ra các đám rước, cổng vào này hay còn gọi là tháp môn 29
pylon có cấu trúc hình thang dẫn vào sân trong, noi đặt hàng
loạt các biíc tưòng khổng lồ của pharaon Ramses đệ nhị tự tạo
cho mình (hình 2). Hệ thông cổng, tuọng vua tháp bia được xử lý
khéo léo rất thông nhất và hài hồa vừa phô trương thanh thế,
vừa khẳng định SIÍC mạnh cao cả của nhà vua (hình 3). Các tháp
môn này xây bằng đá granite màu hồng có màu sắc khá rực rõ
vód hàng loạt các chạm khắc phù điêu, văn tự tạo nên một không
khí lễ hội, ca tụng vai trò ân chủ muôn loài của những vỊ pharaon
siêu phàm. Đ iều đặc
biệt và có phần nghịch
lý là sự hiện diện của
những bức tường, hàng
cột chạm khắc hoa sen
tinh xảo của nhà thơ
Hồi giáo Abu el Hagag
mà hiện nay vẫn còn
được sử dụng và mở
rộng. Bộ phận chính
thứ hai của cóng trình
là hệ thông cung điện
của vua Amenhotep vói
những hàng cột trụ to
lớn được xếp thành 4
nhóm, mỗi nhóm 8 cột
nặng nề dày đặc. Đầu
của những cây cột này
đxỉợc tạo hình loe ra để
đỡ phần trần phía trên
trang trí hình chim ưng
Tranh vẽ trên tường lăng Pashedau tại Thabes
30
bay Ixiợn trong tròi xanh và tinh tú. Ngay sau các hàng cột là 3
bức tượng ngồi khá lớn, trong đó 2 biíc của thần Amon và Mut,
bức thứ ba của vua Ramses III. Đại điện này có quy mô và kiến
trúc rât hoành tráng đồng thòi tạo sự thần bí, áp chế con ngưòi.
Tuy nhiên, những chi tiết trang trí lại rất tinh t ế phủ đầy thân
cột cũng như những m ảng tượng mô tả những chiến tích và cuộc
sông của nhà vua.
Dù chỉ là một trong rất nhiều ngôi đền ở Thebes nhxmg Luxor
vẫn đưọc ngưòi ta nhắc đến nhiều như một ngôi đền đại diện cho
những thành tựu văn hóa rực rỡ cũng như tôn giáo thơ thần của
nguòi Ai Cập thòi kỳ Tân Vvrcmg Quốc.
Bí mật thuật ưóp xác
Aỉ Cập
Các xác ướp luôn luôn là trung tâm thu hút khách viếng
thă...
b iê n s o ạ n
Châu Phi
V
Tập 6
DI SẢN THẾGIỚI
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ỷ PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤ T BÁN TRE
161 b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ C h í Minh
Điện thoại: 9316289 - 9317849 - 9316211
E-maìl: nxbtre@hcm.vnn.vn
BÙI ĐẸP
Biên soạn
DI SẢN THẾ GIỚI
(VĂN HÓA - Tự NHIÊN - H ỗN HỢP)
TẬP 6: CHÂU PHI
Tái bdn lần thứ 2
TRƯỞNG DẠI HỌC VINÌ
TRUNG ư ỉ , m M P ^
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Phong cảnh ván hóa
“Phong cảnh văn hóa”: một th ể loại mới, vừa phức tạp vừa
phong phú, của di sản thê giói.
Đ ặt ra nhũng tiêu chuẩn đáng tin cậy để bảo vệ các phong
cảnh quanh chúng ta không phải là một việc dễ bởi lẽ mỗi nền
văn hóa đều có khuynh huóng xem xét chúng bằng cách nhìn
riêng. Tuy nhiên, nhơ có UNESCO, một khái niệm nhất quán về
“th ế nào là một phong cảnh văn hóa” cuối cùng ra đòi. Những
tiêu chuẩn chung về việc đánh giá, chặt chẽ mà không cirng nhắc,
từ nay cho phép phân biệt ba loại phong cảnh.
a. Phong cảnh đưạc xác định có chủ tâm, do con ngưòi nghĩ
ra và tạo dựng (các khu vuờn, như Aranjuez ở Tây Ban Nhan,
Versailles 0 Pháp, hay Center Park ở New York vốn là tác phẩm
của các kiến trúc sư Olmsted và Vaux);
b. Phong cảnh chủ yếu do quá trình tiến hóa thiên nhiên tạo
nên (như Somerset Levels khắc sâu những hào rãnh hay York
shire Dales chằng chịt những tưòng nhỏ bằng đá ở vvtơng quốc
Anh, những vùng đất trồng trọt được ven sông Côte de Beaupré,
trong thung lũng sông Saint-Laurent ở Canada, hay những thửa
ruộng lứa bậc thang trông như tấm giấy da cừu được cạo di để
viết lại, ở mạc bắc Philippines;
Lần đầu tiên UNESCO công nhận di sản văn hóa tiếng nói
của phi vật thể
Ngày 18-5, Tổ chik; Giáo dục - khoa học và văn hóa Liên
Hiệp Quô'c (UNESCO) sẽ trao tặng danh hiệu “Kiệt tác di sản văn
hóa tiếng nói và phi vật thể của nhân loại” lần đầu tiên dành cho
các không gian văn hóa hay hình thái thể hiện ván hóa có giá trị
đặc biệt thuộc các vùng khác nhau trên th ế giới. Tổng giám đốc
UNESCO Koichiro Matsuura sẽ công bô"danh hiệu này trong buổi
kết thúc cuộc họp của một ban giám khảo quô"c tế đánh giá 30 di
sản văn hóa đợt đầu thuộc thể loại trên. Chủ tịch ban giám khảo
(gồm 18 thành viên do tổng giám đô"c UNESCO bổ nhiệm vói
nhiệm kỳ bô"n năm) là nhà văn người Tây Ban N ha Juan
Goytisolo).
Các hình thái thể hiện văn hóa đặc sắc đưọc UNESCO trao
giải bao gồm ngôn ngữ, văn hóa truyền miệng (cụ thể là các thể
loại thần thoại, trường ca, truyện kể), nhạc, múa, trò choi, phong
tục tập quán, tính sáng tạo trong nghề thủ công, kiến trúc và các
loại hình nghệ thuật khác. Nhóm kiệt tác trong lĩnh vục không
gian về vật chất hay thơi gian trong đó diễn ra các sự kiện văn
hóa lặp lại, thiròng xuyên hay không thuòng xuyên.
Việc trao tặng danh hiệu “Kiệt tác di sản văn hóa tiếng nói và
phi vật thể của nhân loại” phụ thuộc vao các tiêu chuẩn về giá trị
đặc biệt, miíc độ ăn sâu bén rễ vào truyền thông văn hóa. Ngoài
ra, những tiêu chuẩn khác được UNESCO xem xét, đánh giá là
việc khắng định bản sắc vàn hóa, nguồn cảm hiíng, trao đổi giữa
các nền văn hóa, vai trồ văn hóa và xã hội hiện tại, tính đặc sắc
của kiến thiíc, bằng chứng về một truyền thống văn hóa sông
động có nguy cơ bị diệt vong. Việc công bố danh hiệu này sẽ diễn
ra hai năm một lần.
Trong số các di sản được công nhận lần này có 4 di sản của
châu Mỹ, 3 của châu Phi, 5 của châu Âu, 1 của th ế giới Arập. Đại
diện cho châu Á có ICinh Kịch của Trung Quô"c, kịch múa truyền
thông Ân Độ, kịch truyền thống N hật Bản, dân ca p hilippines,
nhạc lễ hoàng gia Triều Tiên và không gian văn hóa của vùng
Boisun thuộc Uzbekistan.
Tổng giám đốc UNESCO khẳng định rằng những điệu múa,
âm nhạc, lễ hội, và tập tục vừa được công nhận đã th ể hiện tính
đa dạng và sáng tạo của văn hóa nhân loại, ô n g lưu ý rằng toàn
cầu hóa, tình trạng lạc hậu về kinh tê xã hội và m ât ổn định
chính trị cũng là những yếu tố đe dọa bản sắc văn hóa dân tộc.
Q uố c kỳ
các nước U N E S C O
I\hímg kỳ quan,
nm gặp gã eho và nhận
Di sản thê giới: đó là một chủ đề nêu lên rât đúng lúc đôi vói
th ế giới chúng ta ngày nay, một th ế giói đang bị rung chuyển bởi
một cuộc khủng hoảng khôc liệt và dữ dội đang đbi hỏi phải xem
xét lại cả một hệ thông giá trị và làm biến đổi về chất mối quan hệ
giữa con ngưòi và môi truòng. Tác động của sự tiến triển kỹ nghệ
và công nghệ đang minh chiíng cho điều này; sự thỏa hiệp thiêng
liêng giữa con nguời với thiên nhiên và vũ trụ đã bị phá võ. Hành
tinh đã bị đầu độc. Va bản thân sự sống dường như đang bị đe
dọa dưói những hình thức khác nhau.
Cuộc khủng hoảng này buộc chúng ta phải suy nghĩ lại không
chỉ về những phuong cách phát triển, mà về chính cái khái niệm
về sự phát triển, từ quá lâu đã đuợc xem xét duói góc độ của sản
xuất và tiêu dùng. Các nhà tư tưởng và nghệ sĩ và nhà văn ngày
càng tin chắc rằng cái quan niệm về sự phát triển này đang hy
sinh văn hóa cho sự tăng trưởng kinh tế, hy sinh chất liiọng cho
sô' lượng và do vậy sẽ chỉ có thể gây ra những hậu quả thảm
khôc. Chính vì vậy mà hôm qua cũng như hôm nay, chúng tôi
luôn nói phải đặt “văn hóa lên tniớc” mọi cái khác. Những cuộc
gặp gỡ lớn giữa lịch sử và loài ngưòi luôn mang tính vãn hóa.
Vấn đề ở đây không phải là tạo ra khu biệt lập về văn hóa, sắc tộc
và địa lý, mà trái lại, phải đánh giá cao tính đặc thù và sự phong
phú trong bản sắc của chúng ta nhằm củng cô thành quả của
quá khứ và làm giàu thêm cái di sản mà chúng ta phải truyền lại
cho các th ế hệ t\iong lai. Một di sản trong đó mọi chủng tộc, mọi
quốc gia, mọi nền văn minh sẽ góp vào những giá trị riêng không
gì thay th ế được.
Chính cái chủ nghĩa nhân văn “cho và nhận” này là uóc
nguyện tha thiết của nhà thơ Máctinich Aimê Césaire một quan
niệm mới về những quan hệ trao đổi kết quả sẽ là một sự cộng
sinh của những nền văn hóa, không phải để chúng giông hệt
nhau hoặc hòa tan vào nhau, mà để làm cho chúng thêm phong
phú thông qua tiếp xức với nhau “N ền văn hóa của cải thuộc về
mọi ngưòi” mà nhà thơ Xênêgan Leopold Sédar Senghor hằng âp
ủ không phải là một nền văn hóa toàn th ế giói, mà là một sự gặp
gỡ của các nền văn minh.
Sự gặp gỡ này là di sản toàn cầu của loài ngưòi chúng ta.
Con ngưòi khác vói loài vật là do có tinh thần sáng tạo, nhơ đó nó
vượt lên trên những giới hạn của cái hữu hình. Ngọn lửa, khi đã
được ch ế ngự, đã biến thành những tiếng rì rào của rừng thẳm ,
hơi thở thì thầm của cuộc sống, cái xôn xao của màu sắc, sự xào
xạc của hình dáng, thành khoảng bao la đvtợc tái tạo, ảo vọng,
ánh sáng... Chiếc gậy chông đầu tiên của con ngưbi: tảng đá đầu
tiên nó chọn để ngồi nghỉ, cái hang đầu tiên nó ẩn trú đều m ang
màu sắc của ánh sáng. Bởi vì từ khỏi thủy, con nguòi sinh ra
trong những kỳ quan cái đẹp; nó cũng sinh ra vì cái đẹp.
Là cát bụi từ những vì sao roi xuống, nó đi khắp th ế giói, và
cũng như chú tý hon Poucet (trong các truyện hoang đưòng của
Perrault), nó rãi ra khắp noi. Cùng với thòi gian, nó xây dụng
nên những tượng đài kỷ niệm mang dấu ấn của thiên tài và tính
vĩnh cửu của chủng loài.
Để sắp đặt hành động, con ngvròi cần có một hình ảnh vê quá
khứ và một cách nhìn về tưong lai của mình. Dẫu cho các ngành
khoa học vẫn còn chua giải đáp được câu hỏi về cội nguồn nguyên
thủ cũng như di sản cho th ế hệ sau, con nguòi cũng sẽ trềo lên
những núi cao để truyền niềm tin vào cuộc sông. Trong niềm tin
này có ẩn chứa tinh thần kháng cự và hy vọng. Chính niềm tin
ấy đã đưạc công bô, như một nhu cầu cô"t tử, trên nguỡng của của
mọi lâu đài. Từ những túp lều của thbi thơ ấu đến những cột trụ
của các đền đài, trên mỗi phiến đá ở phía sau của mọi cánh cửa,
của mọi thế kỷ, con người sẽ khắc ghi mỗi hy vọng đó.
in
Ai Cập
Abu Mena
N hững những nhà thơ, nhà rửa tội, tu viện của các tín giáo,
hoàng cung, đền đài của vua chúa hay lóp thông trị của xã hội
Ai Cập.
lí»
■
ị
1
-- r-r»
iU i
^
Làng Duana ở A i Cập
11
Nhà ở, chung cư của dân chúng, cho đến đxròng sá đi lại được
xây diỊng và các xưởng sản xuất đều đvrợc xây diing trong thành
phố thần thánh của thiên chúa giáo.
Thành phô" này được xây dimg trên các nền mả của Maty
Menas, thuộc triều đại Alexandria, mà ngưòi chết vào năm 296
sau công nguyên.
Diếu kỳ diệu đầy bí ẩn
từ 3000 nãm...
Rames II, thương được gọi là Ramses Đại đế (Ramses II The
Great) là vị pharaoh vĩ đại nhất trong các pharaoh của Ai Cập cổ
đại (1304-1237 tniớc công nguyên). Trong 67 năm trị vì của ông,
Ramses II nổi tiếng là một nhà quân sự thao lược, một nhà kiến
trúc vĩ đại. Ông đã từng cầm quân đánh chiếm vùng Bắc Phi và
vùng Tây Á, lập những chiến công hiển hách, ô n g còn “nổi tiếng”
là vị pharaoh có nhiều... thê thiếp, có tói 18 nguòi vợ và hon 100
ngưòi con, trong đó có 62 nguòi con trai! về kiến trúc, ông đã để
lại cho đòi sau một di sản vô giá; một loạt đền thơ xây dựng dọc b'ơ
sông Nile, trong đó nổi tiếng nhất là 2 ngôi đền ở Abu Simbel.
Ngôi đền lớn nhất - và cũng đẹp nhất - là đền thơ thần Mặt
Tròi Re-Harakhti. Mặt tnióc cửa đền cao 33m rộng 38m đặt 4
pho tưọng Ramses II tạc bằng đá, mỗi pho tượng cao 20m (ảnh
kèm theo). Bên cạnh đó, còn có tượng của bà mẹ Mutti bà vợ
Nefertiti và nguòi con trai đầu của vua. Đây chỉ là cái “cổng” và
12
fKfek':'S
Đền thờ hoàng hậu Hatshepant
một ngách để vào sâu trong lòng núi đá. Điều kỳ diệu và bí
mật của đền bắt dầu từ đây.
CÓ
Phòng thứ nhất, rộng khoảng lOOm^, đặt những bức tượng
và những bức khắc trên đá k ể lại những chiến công của Ramses
II. Tiếp tục đi sâu vào nữa là phòng thứ 2, cũng rộng như vậy,
trong đó dặt m ột pho tuợng cao 20m của Ramses II. Phồng tối om
vì nằm sâu trong lồng núi đá. Những ngày bình thường, ngưòi ta
phải mắc diện để mọi du khách chiêm nguõng bức tượng. Tuy
nhiên, trong m ột năm chỉ có 2 ngày (ngày sinh của vua và ngày
ông lên ngôi), tính theo lịch Hồi giáo có xê xích so vói Diiong lịch,
vào buổi sáng khi m ặt tròi mọc, có một tia nắng m ặt tròi chiếu
thẳng vào m ặt tưọmg vua trong khoảng 1 tiếng đồng hồ!
13
Thường là những ngày này,
khác du lịch từ bốn phutxng trên
thê giói đổ về Abu Simbet trong
đó không ít các nhà khảo cổ học,
sử học và nhiều ngành khoa học
khác của các nưóc, đến “tìm hiểu”
hiện tiỉợng kỳ vĩ này. Ngưòd ta
không tìm ra một khe hở nào trên
đỉnh núi, cũng không thấy tấm
gương phản chiếu nào tnrớc mặt
txiỌTig vua, mà chỉ thấy một tia
nắng m ặt tròi chiếu thẳng vào
mặt tuợng. Trong phòng lúc đó
không có đèn điện, chỉ có ánh
sáng do tia nắng kia tạo ra, và
nhìn khá rõ những nét điêu khắc
trên mặt tuựng.
Rất nhiều nguòi đã đến, và
tất
nhiên
vói kiến thức hạn hẹp
Tượng nhân sư
về khảo cổ, về khoa học nên chỉ
cồn biết... đứng ngây ra mà thán phục! Mỗi một khách chỉ duọc
chiêm ngưõng hiện tưọng đó trong khoảng 5 phút, rồi phải ra cho
đợt khách khác vào. Đành lòng là phải ra ki-ô"t bán đồ kỷ niệm ở
ngoài bãi đậu xe, mua lấy một cuô"n sách nhỏ giới thiệu về Abu
Simbel và một pho tượng nhỏ của Ramses II Đại đế vậy!
Vậy là đã hơn 3.000 năm trôi qua, nhưng bí mật về “tia nắng
kỳ diệu” ở ngôi đền vẫn chua được khám phá.
14
Akliet - Aton,
thành phò mặt tròi
Khi Platon tìm cách hình dung Nhà nước lý tưởng hy vọng
viễn vông tạo ra một nền cộng hba dựa trên lý trí đã khiến cho
ông phải cẩn thận đề xuất việc loại trừ các nhà thơ. Tuởng đâu
cái thành phô" tuởng tượng kia không thể dung nạp trong lòng
cái thực t ế mà nó mong muốn thiết lập yếu tô duy nhất có th ể lật
nhào nó và mỉa
mai thay lại là
ch ín h y ế u tô'
s in h ra nó.
N hưng
tìn h
h ìn h sẽ kh ác,
nếu tác giả của
đề án mơ mộng
kia lại chính là
nhà vua - một
nhà vua th ự c
s ự , và tron g
tniờng họp này
đồngthbilàm ột
nhà thơ.
Di tích Akhet-Aten kinh đô Akhanaton
15
Akhet - Aton (có nghĩa là “thành phố ở chân trơi”), một điều
không tuỏng trở thành hiện thiỊC, chỉ tồn tại chừng nào còn tồn
tại những quan điểm dị giáo của ngtròi sáng tạo ra nó, Pharaong
Akhenaton. Sau mười hai năm tồn tại, nó chỉ còn lại ở Tell alAmama tại miền Trung Ai Cập, trên bơ Đông sông Nile, có vài ba
cung điện, một khu lao động, một xuởng điêu khắc, nhiều ngôi
chùa. Những di tích đó không nói lên sự tồn tại của thành phô"
bằng nói lên sự hủy diệt của nó. Đó là những mẫu đá vỡ của một
bài thơ điít đoạn bị cô định mãi mãi trong giìr phút sinh thành.
Cho đến tận năm 1842, ngay đến tên thành phô" cũng đã bị
lãng quên, nói chi đến đến lịch sử của nó. Ngiròi ta cùng lắm chỉ
lơ mờ biết rằng h đâu đó ở khoảng giữa cô' đô Memphis của Ai
Cập và kinh đô mói Thèbes đã từng có một thành phô" mà những
ngôi nhà chùa dát vàng đã bị nhận chìm trong cát, trưóc hết là
cát bụi của sa mạc, rồi sau đó là thứ cát bụi sắc cạnh hon của
lãng quên.
Mãi đến năm 1912 các nhà Ai Cập học nguòi Đức mói phát
hiện đuọc biíc tuợng bán thân sơn màu Nefertiti, hiện nay đưọc
để tại bảo tàng Berlin, c ổ vật ấy sau đó trở thành một trong
những tác phẩm nghệ thuật Ai Cập quý báu nhất và vẻ đẹp ngòi
sáng của nó đã rọi ánh sáng vào thòi kỳ kỳ lạ nhất và ít đuọc biết
về lịch sử đất nuóc các pharaông. Một câu hỏi đvtợc đặt ra ngay
tức thì; nguòi đuọc diing tuợng này là ai, bởi tên nàng đă duọc
cẩn thận xóa bỏ khỏi hầu hết các di tích. Mât năm mưoi năm
nghiên cứu tìm tòi cuối cùng mới duọc biết rằng “bà hoàng hậu
lộng lẫy đội vưong miện cao” kia là vợ Akhenaton. Tên tuổi ông
vua này cũng không đvtọc ghi trong bất kỳ danh sách các vua
chúa nào của Ai Cập. Thirc tế, các nhà viết sử Ai Cập cổ đại đã cố
tình bỏ qua ba mưoi năm lịch sử.
16
Sự cố ý duy trì một lỗ hổng đó cũng đủ cho thấy thbi kỳ Amarna
này có ý nghĩa như th ế nào đối với nguòi Ai Cập cổ đại. Chxromg
trình câp tiến của Akhenton, noi gặp gỡ giữa chính trị và thi ca,
hình như là điều đáng ngại đến nỗi cho đến tận ngày nay nó có
vẻ như là một sự lầm lạc của lịch sử khó hba nhập vào bất kỳ một
hệ thôíng niên đại theo đuòng thẳng nào trong lịch sử Ai Cập, mà
hình như thuộc về một gôc ẩn giâu nào đó trong ký líc, trên ranh
giới của mơ mộng.
ở k h oản g cách thời gian như vậy, bản thân con người
Akhenaton cũng khó dựng lại. Ngưòi thì cho rằng ông là một
hình ảnh tượng trưng bi thảm
của Chúa Kitô, ngtròi báo hiệu
th uyết độc thần, m ột Moise
truóc khi có tên Moise. Ngươi
thì lại coi ông là một pharaông
dị giáo, vết nhơ lớn nhât trong
lịch sử nước ông, và nói rộng
ra trên địa dư nưóc ông mà
bằng nhiệt tình sáng tạo của
mình, ông đã để lại vĩnh viễn
một cái vết nhỏ m àu m ặt trbi.
Bởi vì ở một địa điểm khô
cằn và nóng bỏng, noi m ặt trơi
có lẽ đã cất m ình lên trong
Rgày đầu tiên của sự sáng thế,
A khenaton quyết định dựng
lên một thanh phố điiọc lây lam
trung tâm tôn giáo mói của
ông. Thách thức cả một đội
Tượng bằng cát - đền thờ Anton
(1370tr.CN)
17
giâo sî hùng manh, ông dà ngàn câm viêc th'o cüng Amon,
vua cùa câc thân linh, va thay vào do là tha cüng Aton, màt trbd.
Six doan tuyêt này diên ra dôt ngôt, o dau trieu dai ông, khoàng
nam 1362 truôc công nguyên. Ông doi tên hiêu Amenophis IV
cùa minh (c6 nghîa “Aton hài long”) thành Akhenaton, “nguoi
duoc Aton yêu men”. Mubi van kÿ su, kÿ thuât viên va công nhân
duoc dùng vào viêc xây dimg mot thành phô" c6 khà nàng chiia
mot sô" dân cbn dông hon nûa. Akhet - Aton sê duoc coi là thành
phô" cùa mat trbi, cùa nghê thuât, tinh yêu và niém vui. N6 chàc
chàn là thành phô dau tien duoc thê" kê" hoàn toàn trên ban vè
truôc khi diroc thirc hiên.
Ngubi ta dâ tîm ra phuong phâp khéo léo tài tînh de vân
chuyén dê"n dia diém xây dimg nhûng vât lieu thich hop nhât, dé
Hâm mô vua Pharaon
làm cho kiến trúc đưọc nhẹ nhàng hơn bằng cách dùng đầm gỗ
đỡ những biíc tiròng xây bằng gạch đất nện, tuơng phản vói những
kiên trúc nặng nề bằng đá của các triều đại truớc.
Một đại lộ đế vưong chạy ngang qua giữa thành phố, hai bên
là nhà ở của những người giàu có, tiếp đến là khu nhà ở của
những ngtròi dân kém khá giả, sau nữa là đám ngưòi mong tìm
thây h Akhet - Aton m ột cuộc sông mód. Ngôi điện lớn ở trung tâm
thành phố gồm nhiều sân trong dẫn đến thánh đuòng, tấ t cả đều
quay về hiióng m ặt tròd mọc và đó, nhận trực tiếp tia nắng thiên
vì không có mái che. Nhơ vậy, pharaông cùng tất cả các tín đồ
đều có th ể thơ kính và giao hòa trực tiếp với đấng vĩnh hằng,
chìm ngập trong một thứ ánh sáng càng chói lòa hơn do màu
vàng tồn tại ở khắp noi, khắp chốn trong thành phố.
Những tòa nhà uy nghi hơn cả là Cung Bắc, xây dựng hoi về
mé ngoài thành phô' cho hoàng hậu Nefertiti. Thực sự là một th ế
giới thu nhỏ, nó có ao, vườn, những hàng cột bao quanh một hồ
hình vuông nằm giữa những khu đât rào kín có những loài chim
muông quý hiếm , tái tạo một thiên nhiên hài hòa giữa môi tniờng
hằng ngày của con ngưòi.
N gày nay chúng ta đã có một khái niệm khá rõ về sinh hoạt
hằng ngày ở Akhet - Aton; nhiều tiệc tùng liên hoan m ùng thần
m ặt trồi, nhưng ta không biết mấy những hoạt động chính trị, có
lẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu, sau những mối quan tâm tôn giáo
và thẩm mỹ của pharaông. Tuy nhiên, một vị thần mà m ắt trần
có th ể nhìn thấy được, hé cho thấy có một sự đảo lộn thật sự trong
việc th ể hiện quyền l iỊ C . Bởi vì trong một thành phô' có th ể nhìn
thấy thần linh con nguòi sống gần gũi với thần linh. Mối quan hệ
đó giũa con ngiiời vói thần linh cốt lõi của cách m ạng Akhenaton,
19
và ý nghĩa của nó có thể tóm tắt trong một ẩn dụ về cái nhìn. Có
thể nhìn thây mọi thứ, Aton chính là con mắt của mặt trơi; mặt
trbi là con mắt cúa thần linh, nhìn và đxiọc nhìn thấy, Amon, vỊ
thần ẩn náu xưa kia, nhìn mà không dể ai nhìn thấy mình, chỉ
hiện ra thông qua tấm gưong vỡ gồm vô sô thần tượng vói hình
thù quen thuộc, những dâu hiệu rãi rác của thần linh giữa loài
ngưòi. DỊ giáo của Akhenaton có lẽ là ở chỗ muôn vượt qua những
thứ thay th ế ấy, tìm cách xóa bỏ
khoảng cách thiêng thiêng của
các biểu tirợng và ở ngay bên
cạnh thần linh trong vùng ánh
sáng của thần linh.
Vì lẽ đó mà sự sáng tạo của
ông là không tưởng theo đúng
nghĩa của từ nay. Xét theo quan
điểm thi ca, không tuỏng hàm ý
cuối cùng hiểu đuọc thế giói một
cách chính xác và thật sự. Thẩm
mỹ học Amama ngả theo một thứ
chủ nghĩa hiện thục thái quá. Cái
nhìn của nghệ sĩ, mô phỏng đỉa
mặt trbi tỏa ra thanh vô số tia sáng
di chuyển về phía mục tiêu quan
tâm của nó, cái đối tuọng khác cũng
đang quan sát nó. Vua Akhenaton
đuọc thể hiện điíng như bản thân
ông, không có hình thù rõ rệt, một
ông vua mà hình hai nằm trong
co„mắt,„gub.khác^
Ta lơ mơ thấy ở đây những mầm mống của ý thiíc dân chủ
chớm nở mà một sô ngưòi đã nhận ra trong chương trình của
Akhenaton. Mặt tròi, ai cũng có th ể nhìn thấy, phân phát cho tất
cả ánh sáng và sự sống với một sự hào phóng như nhau, là biểu
tiỉọng của một quân vuong chính trực, tiíc là một điều không
tuởng. Nhưng một ông vua, cho dù là thi sĩ, cũng khó lòng duy trì
một cộng đồng con ngưòi trong một thứ ánh sáng chói lòa như
vậy. Sự dũng cảm của Akhenaton là ở chỗ đã không giả định thất
bại và qua đó đã trong phút chô"c xóa nhòa ranh giới giữa cái mơ
ưóc và cái khả thể.
]\ghĩa địa hoàng gia
cổ đại
Cách đây khoảng 3500 năm, các pharaon đã quyết định bảo
vệ các ngôi mộ của mình khỏi kẻ cắp, vì vậy đã xây dựng một
thành phố ở noi hoang vắng, nay gọi là “Thung lũng của các
vua”. Đền và lăng một mọc lên ở một bên bơ sông Nile. Bên kia
sông là làng đvrạc xây dirng dành cho lao công, những ngviòi đã
đục thành các ngôi mộ của hoàng gia sâu trong vách đá quạnh
quẽ. Làng ngày nay được gọi là làng “Deir al Madina”.
B ẩ y tô i c ủ a n gư ờ i c h ế t
Hàng trăm thợ thủ công đã lao động trong “Thung lũng của
các Vaa”. Khi họ không lao động, đàn ông sinh hoạt vói gia đình
21
Nghĩa địa hoàng gia
trong làng “Deir al Medina”. Các ngôi nhà trong làng nhỏ, được
xây bằng các thỏi bùn đâ't phoi khô, vì các ngôi nhà nóng và san
sát nên trẻ con thưòng chơi trên nóc nhà.
Ngày nay, chỉ nền móng bằng đá cuủa Deir al Medina còn
sót lại. Ngôi làng hưng thịnh trong 500 năm, quãng thòi gian các
vua đưọc mai táng trong thung lũng.
N ội th ấ t các ngôi mộ
Các pharaon đưọc chôn cất như khi họ sống, vói nghi lễ trang
nghiêm và điiợc bao quanh vói liiọng châu báu lớn. cắt sâu vào
sưòn đồi, bạn có thể thấy các lôì vào dẫn tới các ngôi mộ đưọc
trang hoàng lộng lẫy của các nhà quý tộc, những ngiròi đã phụng
sự các pharaon trong thơi vưong quôc mói.
99
N hieu ngôi mô lôn nhir lâu dài. Muon toi phbng, noi xâc uop
duoc mai tâng, ban phài di sâu xuông theo mot dubng hành lang
hep và dài, roi xuyên qua mot vài phbng trang tri nho, noi xua
kia de dây châu bâu, thiic an và câc do vât thuôc ve than thành.
M ot p h a r a o n bà
Không phài ta t cà câc ngôi mô trâng lê trong th'oi kÿ vuong
quôc moi deu duoc che giâu. Càm sao vào vâch dâ, ngôi den rông
này chira ngôi mô cùa H atshepsut. C6 nhieu dieu than bi bao
quanh nhà tri vi này cùa Ai Câp, boi Hatshepsut là dàn ông duoc
phép tri vi...
H a tsh e p su t dâ trô
thành ngubi tri vi khâp Ai |
Câp n h u th e nào? Khi
ch o n g cù a h o à n g h â u
H atshepsut chet, con trai jj
cùa ông là Thutmose III
dâng lê sê tro thành vua.
N hung lüc do Thutmose
III chi là mot câu bé và là
con cùa mot phu n û tuy
an o vd i vu a n h u n g
không c6 cvioi xin và c6 dia
vi thap hon cà ngubi hau.
Vi v ây H atsh ep su t bao
gan cubp ngai vàng và tri
vi n h u pharaon hon 20
nam. Nhiê'u chuyên gia
cho râng khi Thutmose III
Pharaon bà
23
cuôi cùng nắm lấy ngai vàng, ông đã tức giận, ra lệnh đục cái tên
của Hatshepsut ra khỏi các công trình tiiỉmg niệm ở Ai Cập.
K hám p h á nguy hiểm
Truyền thuyết cổ cảnh báo rằng một tai họa sẽ xảy đến với
bất cứ ai quấy rầy ngôi mộ của pharaon, nhimg những cái bẫy bí
mật và lơi chú ma thuật đã không thể làm chùn tay nhà khảo cổ
Anh Howard Carter. Chỉ vói một vài manh mối như chiếc chén
uôĩig rượu và một miếng chạm nôi bằng vàng mang tên của nhà
vua
T u tan kh am en ,
Howard Carter bắt đầu
cuộc săn tìm ngôi mộ của
hoàng gia trong “Thung
lũng của các vua”. Năm
1922, sau 6 năm đào bới,
ông đã phát hiện ra lôl
vào phòng mai táng, ô n g
trở thành nguìri đầu tiên
trong hon 3000 năm đã
nhìn thây điểu kỳ diệu
trong ngôi mộ củ a
Tutankhamen.
H ãy tư ở n g tư ợ n g
xem Haward Carter đã
cảm thâV th ế nào khi
ông mở được bức vách
cuô"i cùng trong ngôi mộ
của vua Tutankhamen
và nhìn thấy số của cải,
Khách
24
đang xem bảo tàng
châu báu không th ể tin đuạc nằm ở trong đó gồm các tiiợng
vàng, ngọc, đá quý và các bức tranh vô giá trên vách đvtạc chôn
theo vua.
Tại đây, bạn có th ể thấy Carter và nhóm làm việc của ông
m ang từng đồ vật ra khỏi ngôi mộ của Tutankhamen mà không
gặp phải sự đe dọa thần bí nào. Mỗi một thứ đều được đánh số và
ghi chép, phân loại cẩn thận tnróc khi đưa tới bảo tàng.
H ướng d ẫ n k h á c h th a m q u a n cá c ngôi m ộ
Ngày nay, bạn không phải đào xuyên vách đá để tìm mộ của
các pharaon. Bản đồ về “Thung lũng của các vua” sẽ hướng dẫn
bạn tới các phòng mai táng nằm sâu trong các vách đá hiu quạnh.
Bản đồ hướng dẫn tấ t cả các ngôi mộ mà tói nay chúng ta đă biết.
Liệu không cồn những phòng mai táng bí m ật vẫn nằm sâu bên
trong “Thung lũng của các vua”? Không ai biết chắc chắn.
*
*
*
Tháng 2-1995, Tiến sĩ Ai Cập học Kant Week (Mỹ) và một số
cộng sự đã phát hiện ra ngôi mộ số 5 ẩn mình trong suốt 3200
năm tại “Thung lũng các vị vua”. Đây là noi an táng tập thế
trong một lăng tẩm hình chử T, được xem là lăng mộ lớn nhât ơ Ai
Cập. Mỗi ngăn mộ là noi chôn cất một trong 52 người con trai của
vua Ramses II (trừ M eaneíĩtal có mộ riêng vì là ngxiòi k ế vị sau
này). 110 nguòi con gái được chôn ở đâu thì chua rõ.
Ramses II trị vì Ai Cập suốt 67 năm (từ 1279-1212 tmớc công
nguyên) và đã xây diỊTig được nhiều đền đài, lăng tẩm hon bất cứ
pharaon nào truớc đó.
25
Pharaon Ramses II
bị vã sọ lúe iróp xác
Nhà khoa học Pháp Gaston Maspéro (1846-1916) đ ã C IÍU vãn
được nhiều xác ướp, nổi bật nhất là xác của pharaon Ramses II.
Năm 1882, ông khám phá hang động Deir-al-Bahari, noi ngày
xua vị Đại giáo chủ Pinedjem đã giâu kín nhiều hài côt ở “Thung
lũng các vì vua” để tránh bị cướp phá. Ngày 1/6/1886, xác vtóp
Ramses được cởi bỏ lớp băng quấn quanh ngưòi và từ đó cả châu
Âu nổi lên cơn sô"t xác ướp. Các tay giàu có cố tìm cho được một
xác ướp mang về nhà rồi mòi bạn bè đến để nhìn xem vì tò mb
hơn là sự ham muôn hiểu biết. Chính điều này không làm cho
nguòd ta ngạc nhiên khi biết rằng ngành nghiên cứu xác ướp bị
ngimg trệ trong khoảng 50 năm, từ 1850 đến 1900. Điều đáng
mừng là sự phát minh tia X vào năm 1895 đã góp phần cách
mạng hóa ngành Ai Cập học. Nhơ tia X, lần đầu tiên người ta
phát hiện đưọc bên trong một xác uóp trung bày tại Vienne có
một con cồ lửa.
Năm 1912, pharaon Thoutmosis IV được ngồi taxi đến bệnh
viện La Caire để chiếu tia X. Trong dịp này, nhà bác học Grafton
Elliot Smith đính chính sự ngộ nhận về kỹ thuật ưóp xác và
phát hiện những phuxmg pháp iróp xác mói được áp dụng kể từ
triều đại thứ 21, vào bình minh của thiên niên kỷ thứ nhât
oa
Một xá c ướp Pharaon
triróc công nguyên. Một nguòi cùng thòi với Sm ith bà Armend
Ruíìer, nhà vi khuẩn học ở Đại học y khoa Le Caire triển khai
một phưong pháp giúp các mô đàn hồi được, nhơ đó có th ể tìm ra
những căn bệnh mà ngvròi Ai Cập cổ thiiờng mắc phải như bệnh
sán m áng, xơ vỡ động mạch, đậu m ùa... Riêng về một vết nứt
tìm thây trên sọ của pharaon Ram ses II, công trình nghiên C IÍU
của tiến sĩ Roger Lichtenber vào năm 1976 cho biết đã xảy ra
trong quá trình uớp xác.
N h ữ n g p h á t h iện m ới về x á c ướp
Ngày nay, những nhà thám tử Sherlock Holmes của ngành
iróp xác chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các bác sĩ,
những nhà Ai Cập học quan tâm đến qui trình uóp xác và lý do
27
dẫn đến tùng cái chết trong quá khứ; nhóm thứ hai gồm những
nhà hóa học, thảo mộc học khảo cổ chuyên về các loài thảo mộc
thòi cổ. Nhơ họ, nguòi ta đvtọc biết hàng ngàn bí ẩn về kỹ thuật
uóp xác. Ngoài natron và nhựa bitume có nguồn gôc vô cơ, nguòi
ta còn tìm thấy vài chất béo ở có nguồn gốc động vật. Tuy nhiên,
thành phần chính của chât liệu dùng vróp xác vẫn là thảo mộc.
Việc nghiên cứu tỉ mỉ giúp các nhà khoa học hiểu đuọc đòi sông
thảo mộc ở Ai Cập cách nay ba, bốn ngàn năm. Trong một xác
ưóp đuạc khảo sát năm 1985 tại Viện bảo tàng Guimet ở Lyon
(Pháp), nhà phấn hoa học Michel Girard thuộc trung tâm nghiên
C IÍU khoa học quốc gia Pháp (CNRS) đ ã xác định điỉọc 46 chủng
loại thảo mộc. Nhiều phát hiện thú vị đã được công bô sau những
cuộc khảo sát xác ưóp vào năm 1940 tại Viện bảo tàng Metropoli
tan ở New York (Mỹ). Xác ưóp của một ngiiời tên là Wah (tìm
thấy ở Lous Sor năm 1920) đuợc cởi bỏ lóp băng quấn quanh
nguòd và ngươi ta đo điiọc lóp băng này dài... 845m, trong cùng là
một tấm vải liệm cbn hoàn chỉnh. Việc khảo sát những vật liệu
này cung cấp những hiểu biết về nghề dệt vải ở Ai Cập cổ. Ngoài
ra, những chữ viết tiiợng hình trên các lóp vải băng giúp các nhà
khảo cổ xác định được ai là chủ nhân của xác ưóp. Năm 1976, xác
ưóp pharaon Ramses II đưọc đưa về Paris (Pháp) cho 15 phbng
thí nghiệm khoa học khảo sát và một điều hết sức bất ngơ là
trong xác xiớp có thuÔG lá - loại thực vật mà ngixòi ta hằng tin
rằng đến thế kỷ XV mói đuọc nhà thám hiểm Christophe Colomb
mang về từ châu Mỹ. Ngoài ra, khi khảo sát lớp vải băng một xác
ưóp ở Viện bảo tàng Guimet, nhóm nhà khoa học của Jean Claude
Goyon và Robert Verguieux xác định được một lá buồm là bàng
chứng hiếm hoi về giao thông đuòĩig thủy trên sông Nile th'oi cổ.
Hiện nay, các ngành khoa học cbn đi xa hon nữa. Ngubi ta
28
dùng kỹ thuật huyết học để xác định quan hệ huyết thống của
những xác Iióp trong cùng một triều đại hay áp dụng di truyền
học nghiên cihi những đoạn ADN để nắm đuọc qui trình tiến hóa
của một số virus hầu dễ dàng đối phó với chúng. Cách đây vài
tháng, một nhóm nhà khoa học đuực sự hvtớng dẫn của nhà Ai
Cập học Bob Bryer - giáo sư Đại học Long Island và Ronal Wade,
giám đô"c ủy ban nhân th ể học bang Maryland (Mỹ) - đã tiến
hành việc thử nghiệm uóp xác của một ngtròi tự nguyện hiến
thân cho khoa học, vói những dụng cụ và chất liệu mà ngưòi Ai
Cập cổ đã dùng. Một tháng sau, công việc đuọc xem như thành
công. Từ đó„ cứ sau 6 tháng, nguời ta lại khảo sát và quay phim
để theo dõi tình trạng của xác xróp. Bryer đã trở thành nhà iróp
xác đầu tiên trong lịch sử ngành Ai Cập học.
Luxor đền thà mặt tròi
N ằm ở bơ đông của sông Nile, Liixor được vua Amenhotep đệ
tam xây diạng khoảng năm 1400 TCN nhưng nhanh chóng bị
tàn phá bỏd các pharaon và các chiến binh Ai Cập cũng như các
quôc gia khác như sô" phận của hầu hết các đền đài khác ở đất
nước sổ đại này. Những gì còn lại của ngôi đền thực sự được xây
dựng ở th ế kỷ sau. Công trình gồm hai bộ phận chính: một cửa
lớn - nơi cử hành các nghi th\íc tôn giáo và đại diện của nhà vua.
Trưóc khi đến đưạc cổng vào đưọc hình thành bởi hai bức tường
đá hai bên là một đoạn đvtờng dài nhiều hàng, bậc lát đá - nod
diễn ra các đám rước, cổng vào này hay còn gọi là tháp môn 29
pylon có cấu trúc hình thang dẫn vào sân trong, noi đặt hàng
loạt các biíc tưòng khổng lồ của pharaon Ramses đệ nhị tự tạo
cho mình (hình 2). Hệ thông cổng, tuọng vua tháp bia được xử lý
khéo léo rất thông nhất và hài hồa vừa phô trương thanh thế,
vừa khẳng định SIÍC mạnh cao cả của nhà vua (hình 3). Các tháp
môn này xây bằng đá granite màu hồng có màu sắc khá rực rõ
vód hàng loạt các chạm khắc phù điêu, văn tự tạo nên một không
khí lễ hội, ca tụng vai trò ân chủ muôn loài của những vỊ pharaon
siêu phàm. Đ iều đặc
biệt và có phần nghịch
lý là sự hiện diện của
những bức tường, hàng
cột chạm khắc hoa sen
tinh xảo của nhà thơ
Hồi giáo Abu el Hagag
mà hiện nay vẫn còn
được sử dụng và mở
rộng. Bộ phận chính
thứ hai của cóng trình
là hệ thông cung điện
của vua Amenhotep vói
những hàng cột trụ to
lớn được xếp thành 4
nhóm, mỗi nhóm 8 cột
nặng nề dày đặc. Đầu
của những cây cột này
đxỉợc tạo hình loe ra để
đỡ phần trần phía trên
trang trí hình chim ưng
Tranh vẽ trên tường lăng Pashedau tại Thabes
30
bay Ixiợn trong tròi xanh và tinh tú. Ngay sau các hàng cột là 3
bức tượng ngồi khá lớn, trong đó 2 biíc của thần Amon và Mut,
bức thứ ba của vua Ramses III. Đại điện này có quy mô và kiến
trúc rât hoành tráng đồng thòi tạo sự thần bí, áp chế con ngưòi.
Tuy nhiên, những chi tiết trang trí lại rất tinh t ế phủ đầy thân
cột cũng như những m ảng tượng mô tả những chiến tích và cuộc
sông của nhà vua.
Dù chỉ là một trong rất nhiều ngôi đền ở Thebes nhxmg Luxor
vẫn đưọc ngưòi ta nhắc đến nhiều như một ngôi đền đại diện cho
những thành tựu văn hóa rực rỡ cũng như tôn giáo thơ thần của
nguòi Ai Cập thòi kỳ Tân Vvrcmg Quốc.
Bí mật thuật ưóp xác
Aỉ Cập
Các xác ướp luôn luôn là trung tâm thu hút khách viếng
thă...
 





