GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
Hoa Vẫn Nở Mỗi Ngày - Valérie Perrin _ Nguyễn Thị Tươi (dịch)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:31' 07-03-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:31' 07-03-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Kính tặng mẹ cha, Francine và Yoan Perrin.
Tặng Patricia Lopez “Paquita” và Sophie Daull.
1
Chỉ vắng một người, và mọi thứ đối với ta đều trở
nên trống trải.
Trích bài thơ “L'isolementt”, Alphonse de
Lamartine.
Các hàng xóm láng giềng của tôi chẳng sợ điều gì. Họ không
có gì phải lo lắng, không phải lòng ai, không cắn móng tay,
không tin vào thuyết ngẫu nhiên, không hứa hẹn, không gây
ồn, không có bảo hiểm xã hội, không khóc lóc, không tìm chìa
khóa, cũng không tìm kính, không tìm điều khiển, không tìm
con cái, thậm chí không tìm kiếm cả hạnh phúc.
Họ không đọc sách, không nộp thuế, không ăn kiêng giữ
dáng, không có sở thích ưu tiên, không thay đổi ý kiến, không
dọn giường, không hút thuốc, không lập danh sách, không uốn
lưỡi bảy lần trong miệng trước khi nói. Họ không có người
thay thế.
Họ không xu nịnh, không tham vọng, không thù hằn,
không điệu đà, không hẹp hòi ti tiện, không hào phóng, không
ghen ghét, không cẩu thả, không sạch sẽ, không cao quý,
không thú vị, không nghiện ngập, không hà tiện, không tươi
cười, không ranh mãnh, không bạo lực, không yêu đương,
không ưa rên rỉ, không đạo đức giả, không dịu dàng, không
cứng rắn, không mềm yếu, không tàn nhẫn, không dối trá,
không trộm cắp, không ham cờ bạc, không dũng cảm, không
giả tạo, không sùng đạo, không tục tĩu, không lạc quan.
Họ là người chết.
Điểm khác biệt duy nhất giữa họ, chính là chất liệu gỗ
dùng làm quan tài: gỗ sồi, gỗ thông hoặc gỗ gụ.
2
Người muốn tôi trở thành người thế nào, nếu tôi
không còn nghe thấy tiếng bước chân người, là sự
sống của người hay sự sống của tôi đã rời xa, tôi
cũng không biết nữa.
Trích bài thơ “Je respire où tu palpites”, Victor
Hugo.
Tôi tên là Violette Toussaint. Trước đây tôi là người gác ghi,
giờ đây tôi là người quản trang.
Tôi nhấm nháp cuộc sống, tôi uống nó từng ngụm nhỏ
giống như ta uống trà nhài mật ong. Và tối đến, khi cổng vào
nghĩa trang của tôi đã khóa kín, khi chùm chìa khóa đã được
treo trên cánh cửa phòng tắm, tôi như đang ở thiên đường.
Không phải thiên đường nơi các hàng xóm của tôi đang ở.
Không đâu.
Là thiên đường của người sống: một ngụm rượu Porto một nhãn rượu vang sản xuất năm 1983 -, mà José-Luis
Fernandez mang cho tôi vào ngày 1 tháng Chín hằng năm.
Một phần còn lại của kỳ nghỉ được rót vào một chiếc cốc nhỏ
bằng pha lê, một thứ nắng thu mà tôi mở nắp vào khoảng 19
giờ, dù trời mưa, có tuyết rơi, hay lộng gió.
Lượng chất lỏng màu hồng ngọc đầy chừng hai cái đê
khâu. Máu của những ruộng nho Porto. Tôi nhắm mắt. Và tôi
tận hưởng. Chỉ một ngụm là đủ để tôi vui vẻ cả tối. Hai cái đê
khâu là bởi tôi thích cảm giác say ngất ngây, chứ không thích
rượu.
José-Luis Fernandez tới đặt hoa trên mộ Maria Pinto, tức
bà Fernandez (1956-2007) mỗi tuần một lần, ngoại trừ vào
tháng Bảy, khi ấy chính tôi sẽ đảm nhiệm việc đó thay ông. Do
đấy mới có chai rượu porto kia, như một lời cảm ơn dành cho
tôi.
Hiện tại của tôi là một món quà của Chúa trời. Đó là điều
tôi tự nhủ với lòng mình mỗi sáng, khi mở mắt.
Tôi đã từng rất bất hạnh, thậm chí bị hủy hoại. Không tồn
tại. Trống rỗng. Tôi từng giống như các hàng xóm láng giềng
hiện nay của tôi, nhưng tệ hơn. Các chức năng sống của tôi
vẫn hoạt động, nhưng không có tôi ở bên trong. Không có sức
nặng của tâm hồn, cái tâm hồn dường như luôn có khối lượng
là hai mươi mốt gram, cho dù ta béo hay gầy, cao hay thấp, trẻ
hay già.
Nhưng vì chưa từng ưa thích đau khổ, nên tôi đã quyết
định rằng chuyện đó sẽ không kéo dài thêm nữa. Nỗi đau khổ,
nhất định nó phải chấm dứt vào một ngày nào đó.
Tôi đã có một khởi đầu rất tệ. Tôi là một đứa trẻ được
sinh ra từ một người mẹ vô danh, ra đời tại Ardennes, phía
Bắc tỉnh, cái góc dính gần với nước Bỉ, nơi khí hậu được coi là
mang tính chất “lục địa thoái biến” (lượng mưa rất lớn vào
mùa thu và thường xuyên có băng giá vào mùa đông), nơi tôi
tưởng tượng rằng con kênh của Jacques Brel chạy đến hút tầm
mắt.
Ngày chào đời, tôi không la hét. Vậy là người ta đặt tôi
sang một bên, chẳng khác nào một gói hàng nặng 2,670 ki lô
không có nhãn, không tên người nhận, trong lúc họ điền các
loại giấy tờ hành chính để tuyên bố rằng tôi đã ra đi trước khi
kịp đến thế giới này.
Chết lưu. Một đứa trẻ không sự sống, không mang họ.
Nữ hộ sinh phải nhanh chóng tìm cho tôi một cái tên để
điền vào các ô trống, bà đã chọn Violette.
Tôi hình dung rằng khi đó tôi tím ngắt từ đầu đến chân.
Khi tôi đổi màu, khi da tôi chuyển sang hồng hào và bà
phải điền thông tin vào một tờ giấy chứng sinh, bà đã không
đổi tên cho tôi.
Người ta đặt tôi lên một cái lò sưởi. Làn da tôi được sưởi
ấm. Vùng bụng của mẹ tôi, vốn chưa từng muốn có tôi, hẳn đã
khiến tôi đóng băng. Hơi ấm đã đưa tôi về lại với ban ngày.
Chắc là vì thế mà tôi yêu thích mùa hè đến vậy, tôi không bao
giờ bỏ lỡ bất kỳ dịp nào để hứng lấy tia nắng đầu tiên rọi
xuống, chẳng khác nào một đóa hướng dương.
Họ thời con gái của tôi là Trenet, giống như Charles. Sau
cái tên Violette, có lẽ vẫn là nữ hộ sinh đó đã cho tôi cái họ ấy.
Hẳn là bà ấy yêu thích Charles. Như đến lượt tôi yêu thích
ông. Suốt một thời gian dài, tôi đã coi ông như một người họ
hàng xa, một kiểu ông chú người Mỹ mà tôi chẳng bao giờ
được gặp. Khi ta yêu một ca sĩ, vì suốt ngày hát những bài hát
của anh ta, ta sẽ có một thứ có thể được gọi là quan hệ bà con
họ hàng, đại loại thế.
Cái họ Toussaint là sau này tôi mới mang. Khi tôi kết hôn
với Philippe Toussaint. Với một cái họ như thế, lẽ ra tôi đã
phải đề phòng. Nhưng có những người mang họ Printemps
5
mà vẫn đánh vợ như thường đấy thôi. Một cái họ hay ho
không ngăn cản ai đó trở thành một kẻ khốn.
Tôi không bao giờ thấy nhớ mẹ. Ngoại trừ những khi bị
sốt. Khi khỏe mạnh, tôi lớn lên. Tôi vổng lên như thể sự thiếu
vắng cha mẹ đã mang lại cho tôi một cái cọc đỡ gắn dọc cột
sống. Tôi luôn đứng thẳng. Đó là một đặc điểm riêng ở tôi. Tôi
chưa từng khom lưng. Kể cả trong những ngày đau buồn. Mọi
người hỏi tôi khá thường xuyên là tôi có luyện khiêu vũ cổ
điển không. Tôi trả lời rằng không. Rằng chính cuộc sống
hằng ngày đã đưa tôi vào khuôn khổ, bắt tôi đu xà và nhón
chân mỗi ngày.
3
Cứ để họ bắt tôi hoặc bắt người thân của tôi đi, bởi
vì tất cả các nghĩa trang rồi một ngày sẽ là những
hoa viên.
Theo lời bài hát “Les enfants lune”, Damien Saez.
Năm 1997, khi trạm gác ghi của chúng tôi được tự động hóa,
vợ chồng tôi đã mất việc. Chúng tôi được lên báo. Chúng tôi
đại diện cho những nạn nhân liên đới cuối cùng của tiến bộ kỹ
thuật, những công nhân điều khiển trạm gác ghi thủ công cuối
cùng của nước Pháp. Để minh họa cho bài báo, phóng viên đã
chụp ảnh chúng tôi. Philippe Toussaint thậm chí còn choàng
một tay quanh eo tôi khi tạo dáng. Mặc dù tôi đang mỉm cười,
nhưng Chúa ơi, mắt tôi trong bức ảnh đó mới buồn làm sao.
Ngày bài báo được đăng, Philippe Toussaint rầu rĩ như đã
chết cả tâm hồn khi từ cơ quan ANPE quá cố trở về: anh ta
vừa nhận ra rằng anh ta sắp phải làm việc. Anh ta đã quen với
việc tôi làm tất cả thay cho anh ta. Nếu xét về khoản lười
biếng, thì tôi đã trúng số độc đắc khi lấy Philippe. Tôi đã chọn
đúng cả dãy số, để rồi nhận được giải jackpot.
Để giúp Philippe lấy lại tinh thần, tôi đưa cho anh ta một
tờ giấy: “Quản trang, một nghề của tương lai”. Anh ta nhìn tôi
như thể tôi vừa bị mất trí. Vào năm 1997, ngày nào anh ta
cũng nhìn tôi như thể tôi bị mất trí. Phải chăng một người đàn
ông không còn tình yêu sẽ nhìn người phụ nữ anh ta từng yêu
như thể cô ta bị mất trí?
Tôi giải thích với anh ta rằng tôi tình cờ nhặt được tờ
quảng cáo này. Rằng tòa thị chính Brancion-en-Chalon đang
tìm kiếm một cặp vợ chồng quản trang để trông nom cho nghĩa
trang của họ. Và rằng người chết họ có giờ giấc sinh hoạt ổn
định và ít gây ồn hơn so với những đoàn tàu. Rằng tôi đã nói
chuyện với thị trưởng, ông ấy sẵn sàng tuyển dụng chúng tôi
ngay lập tức.
Chồng tôi không tin tôi. Anh ta nói với tôi rằng anh ta
không tin vào sự tình cờ. Rằng anh ta thà chết còn hơn là đi
đến “nơi đó” và làm cái nghề của loài kền kền ăn xác thối ấy.
Anh ta bật ti vi rồi chơi trò Mario 64. Mục tiêu của trò
chơi, đó là hái cho được toàn bộ sao ở từng chặng. Còn tôi, chỉ
có một ngôi sao duy nhất tôi muốn hái: ngôi sao may mắn. Đó
là điều tôi đã nghĩ khi nhìn thấy Mario chạy khắp nơi để giải
cứu công chúa Peach bị Bowser bắt cóc.
Thế là tôi bắt đầu nằn nì. Tôi nói với anh ta rằng khi trở
thành quản trang, mỗi người chúng tôi sẽ có một khoản lương,
mà còn hậu hơn lương gác ghi, rằng người chết giúp chúng tôi
kiếm khá hơn những đoàn tàu. Rằng chúng tôi sẽ có một căn
nhà công vụ rất xinh xắn mà không phải trả tiền thuê. Rằng
chúng tôi sẽ được thay đổi, rời khỏi căn nhà nơi chúng tôi đã
sống suốt nhiều năm, một căn nhà tồi tàn ngấm nước chẳng
khác nào một cái thuyền cũ vào mùa đông và ấm nóng chẳng
khác nào cực Bắc vào mùa hè. Rằng đó sẽ là một khởi đầu mới
và chúng tôi cần sự khởi đầu ấy, rằng chúng tôi sẽ treo những
tấm rèm xinh xắn ở cửa sổ để không còn nhìn thấy những
người hàng xóm, những cây thập giá, những bà góa và tất tần
tật những thứ khác. Rằng những tấm rèm đó sẽ là ranh giới
giữa cuộc sống của chúng tôi và nỗi buồn của những người
khác. Lẽ ra tôi có thể nói sự thật với anh ta, rằng những tấm
rèm đó sẽ là ranh giới ngăn giữa nỗi buồn của tôi và nỗi buồn
của những người khác. Nhưng nhất định không được nói thế.
Không nói gì cả. Khiến anh ta tin tưởng. Giả vờ. Để anh ta
nhượng bộ.
Để chốt hạ màn thuyết phục, tôi hứa với Philippe là anh ta
sẽ KHÔNG PHẢI LÀM GÌ CẢ. Rằng ba phu đào huyệt đã
phụ trách hết công việc tu sửa, đào huyệt và quy hoạch khu
nghĩa trang. Rằng công việc của quản trang chỉ đơn giản là mở
và đóng cổng. Là hiện diện. Với giờ giấc làm việc không hề
phiền toái. Những kỳ nghỉ và những kỳ cuối tuần dài dằng dặc
như cây cầu cạn Valserine. Và rằng tôi, tôi sẽ làm những việc
còn lại. Tất cả những việc còn lại.
Super Mario đã ngừng chạy. Nàng công chúa đã ngã
xuống vách núi.
Trước khi đi ngủ, Philippe Toussaint đọc lại tờ quảng cáo:
“Quản trang, một nghề của tương lai”.
Trạm gác ghi của chúng tôi hồi ấy nằm ở Malgrange-surNancy. Vào thời kỳ ấy trong cuộc đời tôi, tôi không hề sống.
“Vào thời kỳ ấy trong sự chết của tôi” có lẽ sẽ đúng hơn. Tôi
thức dậy, tôi mặc quần áo, tôi làm việc, tôi đi chợ, tôi ngủ. Với
một viên thuốc ngủ. Thậm chí là hai viên. Thậm chí là nhiều
hơn. Và tôi nhìn chồng tôi đang nhìn tôi như thể tôi bị mất trí.
Giờ giấc làm việc của tôi hồi ấy phiền hà khủng khiếp.
Tôi hạ rồi nâng thanh chắn gần mười lăm lần mỗi ngày, khắp
các ngày trong tuần. Chuyến tàu đầu tiên chạy qua lúc 4h50 và
chuyến cuối cùng lúc 23h04. Tôi như đã cài đặt tự động tiếng
chuông của thanh chắn trong đầu. Tôi nghe thấy nó trước cả
khi nó vang lên. Cái nhịp điệu địa ngục ấy, lẽ ra chúng tôi có
thể chia sẻ, thay phiên nhau đảm trách. Nhưng thứ duy nhất
mà Philippe Toussaint có thể đảm trách được, đó là chiếc xe
mô tô và thân thể đám tình nhân của anh ta.
Ôi chao, những hành khách mà tôi nhìn thấy đi qua mới
khiến tôi ước ao biết bao. Tuy nhiên, đó chỉ là những đoàn tàu
nhỏ thuộc tỉnh lẻ nối Nancy với Épinal, và chúng dừng lại cả
chục lần mỗi chuyến, tại những thị trấn nghèo khổ, để phục vụ
dân bản địa. Tuy nhiên, tôi ghen tị với những người đàn ông
và đàn bà ấy. Tôi hình dung là họ đang đi đến những cuộc hẹn,
những cuộc hẹn mà tôi cũng muốn có, giống như những hành
khách mà tôi nhìn thấy lướt qua trước mặt.
Chúng tôi lên đường nhắm đến Bourgogne ba tuần sau khi bài
viết kia xuất hiện trên mặt báo. Chúng tôi đã chuyển từ nơi
xám xịt sang nơi xanh mướt. Từ đường nhựa đến đồng cỏ, từ
mùi hắc ín của đường sắt đến mùi của nông thôn.
Chúng tôi đến nghĩa trang Brancion-en-Chalon ngày 15
tháng Tám năm 1997. Nước Pháp đang trong kỳ nghỉ hè. Toàn
bộ dân cư đi vắng cả. Những con chim thường bay từ ngôi mộ
này sang ngôi mộ khác không còn bay nữa. Lũ mèo thường
duỗi mình giữa những bình hoa đã biến mất. Thậm chí, trời đã
trở nên quá nóng đối với lũ kiến và thằn lằn, những mặt đá
cẩm thạch bị nắng rọi nóng bỏng. Ba phu đào huyệt đang nghỉ
hè, cả những người mới chết cũng thế. Tôi một mình lang
thang giữa những lối đi, đọc tên những con người mà tôi chưa
từng quen biết. Tuy nhiên, tôi lập tức cảm thấy dễ chịu ở nơi
này. Ở chỗ dành cho tôi.
4
Sinh linh là vĩnh hằng, cuộc đời chỉ là một chặng
ghé qua, ký ức vĩnh cửu sẽ là thông điệp của cuộc
đời ấy.
Khi đám trẻ mới lớn không nhét kẹo cao su vào lỗ khóa, chính
tôi là người mở và đóng cánh cổng nặng nề của nghĩa trang.
Giờ mở cửa thay đổi theo mùa.
Từ 8 giờ đến 19 giờ từ ngày 1 tháng Ba đến ngày 31 tháng
Mười.
Từ 9 giờ đến 17 giờ từ ngày 2 tháng Mười một đến ngày
28 tháng Hai.
Không ai quy định gì cho ngày 29 tháng Hai.
Từ 7 giờ đến 20 giờ ngày 1 tháng Mười một.
Tôi tiếp quản công việc của chồng tôi sau khi anh ta ra đi
- hay chính xác hơn là từ khi anh ta biến mất. Philippe
Toussaint xuất hiện với ghi chú “mất tích đáng ngờ” trong hồ
sơ quốc gia của cảnh sát.
Vẫn còn nhiều người đàn ông khác xung quanh tôi. Ba
phu đào huyệt, Nono, Gaston và Elvis. Ba nhân viên tang lễ,
tức ba anh em nhà Lucchini có tên lần lượt là Pierre, Paul và
Jacques, cùng cha xứ Cédric Duras. Tất cả những người đàn
ông này ghé qua nhà tôi nhiều lượt mỗi ngày. Họ đến uống
một ly rượu, hoặc nhâm nhi một món ăn vặt. Họ còn giúp tôi
chăm sóc vườn rau, khi tôi cần mang những bao đất trồng ra
vườn, hoặc sửa lại đường ống nước bị rò. Tôi coi họ như
những người bạn, chứ không phải như những đồng nghiệp.
Cho dù tôi không có ở đó, họ vẫn có thể vào bếp nhà tôi, rót
một cốc cà phê, uống xong, rửa cốc rồi rời đi.
Phu đào huyệt làm cái công việc khiến người ta xa lánh,
ghê tởm. Tuy nhiên, ba phu đào huyệt ở nghĩa trang của tôi là
những người dịu dàng và dễ chịu nhất mà tôi từng biết.
Nono là người tôi tin tưởng nhất. Đó là một người đàn
ông thẳng thắn, có niềm vui sống từ trong máu. Bất cứ thứ gì
cũng khiến anh thích thú, và anh không bao giờ nói không.
Trừ phi anh phải tham dự tang lễ một đứa trẻ. Anh để “việc
đó” cho những người khác. “Những người có đủ dũng khí”
như anh thường nói. Nono trông giống Georges Brassens,
nhận xét ấy khiến anh phá lên cười, bởi vì tôi là người duy
nhất trên thế giới nói với anh rằng trông anh giống Georges
Brassens.
Còn Gaston, anh chính là người sáng tạo ra sự vụng về.
Cử chỉ của anh lúc nào cũng lệch đi. Lúc nào trông anh cũng
như đang say rượu, mặc dù anh chỉ uống nước. Trong các lễ an
táng, anh đứng giữa Nono và Elvis, phòng khi anh bị mất
thăng bằng. Dưới chân Gaston, luôn thường trực một vụ động
đất. Anh xô người khác ngã, anh tự ngã, anh xô đổ đồ đạc, anh
giẫm nát thứ gì đó. Khi Gaston vào nhà tôi, tôi luôn lo sợ anh
làm hỏng thứ gì đó hoặc tự làm mình bị thương. Và bởi vì nỗi
lo sợ không xua được rủi ro, nên lần nào anh cũng đánh vỡ
một cái cốc hoặc tự làm mình bị thương.
Còn Elvis, tất cả mọi người đều gọi anh là Elvis vì Elvis
Presley. Anh không biết đọc cũng không biết viết, nhưng lại
thuộc lòng toàn bộ các bài hát của thần tượng. Anh phát âm lời
hát rất tệ, chúng tôi không bao giờ biết được anh đang hát
tiếng Anh hay tiếng Pháp, nhưng tâm hồn anh đặt cả vào bài
hát. “Love mi tendeur, love mi trou…”
Anh em nhà Lucchini chỉ hơn kém nhau một tuổi, ba
mươi tám, ba mươi chín và bốn mươi. Họ làm nhân viên tang
lễ theo kiểu cha truyền con nối, đã từ nhiều thế hệ. Họ cũng là
những chủ nhân may mắn của nhà xác Brancion, tòa nhà nằm
sát cạnh cửa hàng của họ. Nono kể với tôi rằng chỉ có một
cánh cửa sập ngăn cửa hàng với nhà xác. Chính Pierre, anh cả,
là người đón tiếp tang gia. Paul phụ trách trang điểm cho
người chết. Anh làm việc trong tầng hầm. Còn Jacques là tài
xế lái xe đòn. Chuyến đi cuối cùng, anh là người đảm nhận.
Nono gọi họ là “các tông đồ”.
Ngoài ra, còn có cha xứ của chúng tôi, Cédric Duras.
Chúa trời thật có khiếu sắp đặt, mặc dù không phải lúc nào
cũng chính xác. Từ khi cha Cédric đến, hình như có nhiều phụ
nữ trong vùng bị ấn tượng mạnh trước khải huyền thần thánh.
Dường như ngày càng có nhiều tín đồ nữ hiện diện trên các
băng ghế ở nhà thờ vào sáng Chủ nhật.
Tôi thì không bao giờ đến nhà thờ. Làm thế chẳng khác
nào ngủ với một nữ đồng nghiệp. Tuy nhiên, tôi nghĩ tôi đón
nhận tâm sự của những người ghé qua nhà tôi còn nhiều hơn
cha Cédric nhận được trong phòng xưng tội của ông. Chính
trong căn nhà khiêm tốn của tôi và những lối đi trong nghĩa
trang mà các gia đình dốc bầu tâm sự. Lúc đến, lúc đi, đôi khi
là cả hai. Gần giống như những người quá cố. Với họ thì chính
sự im lặng, những tấm bia mộ, những chuyến viếng thăm,
những bông hoa, những bức ảnh, cách thức hành xử của những
người đến nghiêng mình trước mộ họ, là những điều kể với tôi
về cuộc đời trước đây của họ. Cuộc đời khi họ còn sống. Còn
chuyển động.
Nghề nghiệp của tôi đòi hỏi phải kín đáo, thích giao tiếp,
không lòng trắc ẩn. Không lòng trắc ẩn, đối với một phụ nữ
như tôi, cũng giống như trở thành nhà du hành vũ trụ, bác sĩ
phẫu thuật, chuyên gia núi lửa hoặc nhà nghiên cứu về di
truyền học. Nó không nằm trong hành tinh tôi sống, cũng
không thuộc khả năng của tôi. Nhưng tôi không bao giờ khóc
trước mặt một người khách viếng thăm nghĩa trang. Thỉnh
thoảng tôi khóc trước hoặc sau một lễ an táng, nhưng không
bao giờ tôi khóc trong buổi lễ. Nghĩa trang của tôi đã có từ ba
thế kỷ nay. Người quá cố đầu tiên được đón nhận tại đây là
một phụ nữ. Diane de Vigneron (1756-1773), bà chết trong lúc
sinh con, ở tuổi mười chín. Nếu lướt đầu ngón tay lên bia mộ
của bà, ta vẫn có thể đoán thấy tên bà khắc trên lớp đá thô
nhám. Bà không bị cải táng, mặc dù nghĩa trang của tôi đang
thiếu chỗ. Không có bất kỳ người nào trong các đời thị trưởng
dám đưa ra quyết định quấy rầy con người đầu tiên được chôn
ở đây. Nhất là khi quanh Diane còn có một huyền thoại xưa cũ.
Theo người dân trong vùng Brancion, dường như bà đã nhiều
lần xuất hiện trong “trang phục ánh sáng” của bà, đằng trước
cửa kính các cửa hàng ở trung tâm thành phố và trong nghĩa
trang. Khi đến các hội chợ bán đồ cũ trong vùng, thỉnh thoảng
tôi có nhìn thấy hình ảnh của bà Diane được thể hiện như một
bóng ma trên những bức tranh khắc cổ xưa có từ thế kỷ 18,
hoặc trên những tấm bưu thiếp. Một bà Diane giả được dựng
lên, cải trang thành một con ma tầm thường giả hiệu.
Có nhiều huyền thoại xung quanh các nấm mồ. Người
sống thường xuyên sáng tác lại cuộc đời của những người đã
chết.
Có một huyền thoại nữa ở Brancion, mới hơn rất nhiều so
với huyền thoại Diane de Vigneron. Bà tên là Reine Ducha
(1961-1982), bà được chôn trong nghĩa trang của tôi, hàng thứ
15, trong khu Bá Hương. Một cô gái trẻ xinh xắn tóc nâu tươi
cười trong bức ảnh gắn trên bia mộ. Bà chết khi đang lái xe, ở
cửa ngõ thành phố. Hình như đám thanh niên thường nhìn thấy
bà bên vệ đường, mặc toàn đồ trắng, ở địa điểm xảy ra vụ tai
nạn.
Huyền thoại về “các bà áo trắng” đã lan khắp thế giới. Có
vẻ như những bóng ma nữ chết bất đắc kỳ tử đã ám ảnh thế
giới của người sống, kéo lê linh hồn đau khổ của họ trong các
tòa lâu đài và các nghĩa trang.
Và để tăng thêm sự kỳ bí của huyền thoại về Reine thì mộ
của bà đã phải di chuyển. Theo Nono và anh em nhà Lucchini,
đó là hậu quả của tình trạng sạt đất. Điều đó thường xảy ra khi
có quá nhiều nước tích tụ trong một hầm mộ.
Trong vòng hai mươi năm, tôi nghĩ mình đã chứng kiến
rất nhiều chuyện trong nghĩa trang, thậm chí có những đêm tôi
bắt gặp những cái bóng đang làm tình trên hoặc giữa các ngôi
mộ, nhưng đó không phải là những bóng ma.
Ngoại trừ các huyền thoại, không có gì là vĩnh cửu, kể cả
những phần mộ mua quyền sở hữu lâu dài. Ta có thể mua một
mộ phần trong vòng mười lăm năm, ba mươi năm, năm mươi
năm hoặc vĩnh viễn. Chỉ có điều trong trường hợp mua vĩnh
viễn, ta phải đề phòng: nếu sau một giai đoạn ba mươi năm mà
một mộ phần mua vĩnh viễn không còn được chăm sóc (bề
ngoài xuống cấp xấu xí) và đã rất lâu không có người nào
được chôn thêm vào đó, thì chính quyền có thể thu hồi; phần
xương cốt còn lại sẽ được bỏ vào một hầm hài cốt ở cuối nghĩa
trang.
Từ khi đến đây, tôi đã chứng kiến nhiều phần mộ quá hạn
bị tháo dỡ và dọn dẹp, còn xương người quá cố được đưa vào
hầm hài cốt. Và không có ai nói gì hết. Bởi vì những người
quá cố ấy được coi như những đồ vật mà người ta tìm thấy,
nhưng lại chẳng còn ai đề nghị nhận lại nữa.
Luôn là như thế với cái chết. Thời điểm nó xảy ra càng lùi
xa, thì nó càng ít tác động đến người sống. Thời gian hủy hoại
cuộc sống. Thời gian gặm mòn cái chết.
Tôi cùng ba phu đào huyệt làm tất cả để không bao giờ bỏ
rơi một phần mộ nào. Chúng tôi không chịu đựng nổi cảnh
phải nhìn thấy người ta dán lên bia mộ một tờ thông báo của
tòa thị chính: “Phần mộ này đang nằm trong quy trình thu hồi.
Đề nghị liên hệ gấp với tòa thị chính, xin cảm ơn.” Trong khi
tên của người quá cố yên nghỉ bên dưới vẫn hiển hiện trên đó.
Chắc hẳn là vì thế mà trong các nghĩa trang ngập tràn văn
bia. Để xua đuổi số phận trôi chảy của thời gian. Bấu víu vào
những kỷ niệm. Dòng tưởng niệm mà tôi thích nhất là: “Cái
chết bắt đầu khi không ai còn khả năng mơ về bạn.” Nó được
ghi trên mộ của một nữ y tá trẻ, Marie Deschamps, qua đời
năm 1917. Hình như một người lính đã dựng tấm bia này vào
năm 1919. Mỗi khi đi qua mộ bà, tôi tự hỏi liệu ông có mơ về
bà lâu không.
“Cho dù anh làm gì, cho dù em ở nơi nào, không gì xóa
mờ được em, anh nghĩ đến em” của Jean-Jacques Goldman và
“Những ngôi sao chỉ trò chuyện với nhau về em” của Francis
Cabrel là những câu hát được ghi lại nhiều nhất trên các tấm
bia.
Nghĩa trang của tôi rất đẹp. Hai bên các lối đi trồng những
hàng cây đoạn trăm tuổi. Phần lớn các ngôi mộ đều có hoa.
Đằng trước căn nhà công vụ nhỏ, tôi có bán vài chậu hoa.
Và khi không thể bán được chúng, tôi sẽ tặng chúng cho
những ngôi mộ bị bỏ rơi.
Tôi cũng trồng cả thông nữa. Vì chúng tỏa hương thơm
vào mùa hè. Đó là mùi hương tôi yêu thích nhất.
Tôi trồng thông vào năm 1997, năm chúng tôi đến đây.
Chúng đã cao lên rất nhiều, và mang lại cho nghĩa trang của
tôi một dáng vẻ đẹp đẽ. Quản trang chính là chăm sóc cho
những người quá cố đang yên nghỉ ở đó. Chính là tôn trọng
họ. Và nếu không được tôn trọng khi còn sống, ít nhất họ cũng
được như thế khi nằm xuống.
Tôi tin chắc rằng có nhiều kẻ khốn đang yên nghỉ ở đây.
Nhưng cái chết không phân biệt giữa người tốt và kẻ xấu. Với
lại, trong đời mình, ai chẳng ít nhất một lần từng là kẻ khốn
kiếp?
Trái ngược với tôi, Philippe Toussaint lập tức ghét nghĩa trang
này, thành phố nhỏ này, vùng Bourgogne, nông thôn, những
phiến đá cũ kỹ, những con bò sữa màu trắng, và cả con người
nơi đây.
Tôi còn chưa dỡ xong những thùng các tông đựng đồ
chuyển đến thì anh ta đã xách mô tô đi suốt từ sáng đến tối. Và
vài tháng sau, có những lần anh ta bỏ đi suốt nhiều tuần liền.
Cho đến cái ngày anh ta không quay về nữa. Cảnh sát không
hiểu tại sao tôi không thông báo việc anh ta mất tích sớm hơn.
Tôi không bao giờ nói với họ rằng anh ta đã biến mất nhiều
năm nay, kể cả khi anh ta vẫn ăn tối cùng bàn với tôi. Tuy
nhiên, sau chừng một tháng, khi hiểu ra rằng anh ta sẽ không
quay về nữa, tôi vẫn cảm thấy mình bị bỏ rơi, chẳng khác nào
những phần mộ mà tôi vẫn đều đặn quét dọn. Cũng xám xịt, tẻ
nhạt và chông chênh như thế. Sẵn sàng bị phá dỡ, và những gì
còn lại của tôi sẽ bị vứt vào hầm hài cốt.
5
Cuốn sách cuộc đời là cuốn sách tối cao, mà ta
không thể đóng hay mở lại theo ý mình, ta những
muốn quay trở lại trang nơi ta yêu, ấy thế mà trang
nơi ta chết đã nằm ngay dưới ngón tay ta.
Trích từ Vers sur un album, Alphonse de
Lamartine.
Tôi gặp Philippe Toussaint tại Tibourin, một hộp đêm ở
Charleville-Mézières vào năm 1985.
Philippe Toussaint đứng tì khuỷu tay lên mặt quầy. Còn
tôi, khi đó tôi là nhân viên phục vụ. Tôi làm nhiều công việc
lặt vặt bằng cách nói dối tuổi của mình. Một cậu bạn trong
trung tâm bảo trợ nơi tôi sống đã làm giả giấy tờ cho tôi, để
biến tôi thành người thành niên.
Tôi không có tuổi chính xác. Tôi có thể mười bốn tuổi,
cũng có thể đã hai mươi lăm. Tôi chỉ mặc quần jean và áo
thun, cắt tóc ngắn và đeo khuyên khắp nơi. Cả ở mũi. Tôi nhỏ
bé và vẽ viền mắt bằng phấn đen để tạo cho bản thân một
phong cách giống với Nina Hagen. Tôi vừa bỏ học. Tôi còn
chưa đọc thông viết thạo. Nhưng tôi biết đếm. Tôi đã trải qua
nhiều chặng đời và chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm việc
để trả tiền thuê nhà và rời khỏi trung tâm càng sớm càng tốt.
Sau đó, tôi sẽ tính tiếp.
Vào năm 1985, thứ duy nhất tử tế ở tôi là hàm răng. Trong
suốt thời thơ ấu, tôi vẫn luôn bị ám ảnh với việc có được hàm
răng trắng đẹp như những cô gái trong các tạp chí. Khi nhân
viên giáo dục đến các gia đình đón nhận và hỏi tôi có cần thứ
gì không, tôi luôn đề nghị được đến phòng khám nha khoa, cứ
như thể số phận và toàn bộ cuộc đời tôi phụ thuộc vào nụ cười
mà tôi sẽ trưng ra.
Tôi không có bạn gái, vì tôi quá giống con trai. Thay vào
đó, tôi gắn bó với các xơ, nhưng những lần chia cắt lặp đi lặp
lại, việc thường xuyên thay đổi gia đình đón nhận đã phá hủy
tôi. Đừng bao giờ gắn bó. Tôi tự nhủ việc để tóc ngắn sẽ bảo
vệ tôi, sẽ khiến tôi có tâm hồn và sự gan góc của một đứa con
trai. Kết quả là đám con gái tránh né tôi. Tôi đã ngủ với đám
con trai để giống như tất cả mọi người, nhưng chẳng có gì thú
vị, tôi đã thất vọng, tôi thấy chuyện đó chẳng có gì hay ho. Tôi
làm chuyện đó để đánh lừa, hoặc để đổi lấy quần áo, một cái
kẹp tóc vớ vẩn, một tấm vé vào đâu đó, một bàn tay siết lấy
tay tôi. Tôi ưa thích thứ tình yêu trong những câu chuyện cổ
tích trẻ con, những câu chuyện mà chưa từng có ai kể cho tôi
nghe. “Họ cưới nhau và có rất, rất, rất nhiều…”
Tì khuỷu tay trên bàn quầy, Philippe Toussaint vừa quan
sát đám bạn của anh ta đang nhảy trên sàn vừa nhấm nháp một
ly whisky-Coca không đá. Anh ta có khuôn mặt đẹp như thiên
thần. Một kiểu Michel Berger phiên bản tô màu. Những lọn
tóc dài vàng óng, đôi mắt xanh, làn da trắng sáng, chiếc mũi
khoằm, khuôn miệng như quả dâu tây… sẵn sàng để bị ngấu
nghiến, một quả dâu tây chín mọng vào tháng Bảy. Anh ta mặc
quần jean, áo thun trắng và áo blu dông da màu đen. Anh ta
cao lớn, vạm vỡ, hoàn hảo. Vừa nhìn thấy anh ta, tim tôi đã
nện thình thịch giống hệt như ca từ trong bài hát của ông chú
tưởng tượng của tôi, Charles Trenet. Với tôi, Philippe
Toussaint sẽ có được mọi thứ miễn phí, kể cả những ly
whisky-Coca mà anh ta nhấm nháp.
Anh ta chẳng cần làm gì cũng có thể hôn đám con gái tóc
vàng xinh đẹp xúm xít xung quanh. Chẳng khác nào bầy ruồi
bu quanh một mẩu thịt ôi. Philippe Toussaint có vẻ không
quan tâm đến bất cứ chuyện gì. Anh ta để mặc mọi người
muốn làm gì thì làm. Để có được những gì mình muốn, anh ta
chẳng cần phải động một ngón tay, ngoại trừ để thỉnh thoảng
nâng ly rượu lên môi, giữa hai nụ hôn sáng ánh huỳnh quang.
Anh ta quay lưng về phía tôi. Khi nhìn anh ta, tôi chỉ thấy
những lọn tóc vàng chuyển từ màu xanh lá sang đỏ rồi xanh lơ
dưới ánh đèn chiếu. Ánh mắt tôi la cà trên mái tóc anh ta đến
cả tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng, anh ta nghiêng người về phía
một cô nàng đang thì thầm điều gì đó vào tai anh ta, và tôi
ngắm nghía khuôn mặt nhìn nghiêng hoàn hảo ấy.
Thế rồi, anh ta xoay người về phía quầy bar, và ánh mắt
anh ta đậu lên tôi để rồi không chịu nhả ra nữa. Kể từ lúc đó,
tôi trở thành thứ đồ chơi ưa thích nhất của anh ta.
Lúc đầu, tôi nghĩ anh ta quan tâm đến tôi là vì lượng rượu
miễn phí mà tôi rót vào cốc anh ta. Trong lúc rót rượu cho
Philippe, tôi cố không để anh ta nhìn thấy bộ móng tay mà tôi
gặm nhấm nham nhở, chỉ phô ra hàm răng trắng và đều tăm
tắp. Tôi nghĩ anh ta có vẻ là con nhà tử tế. Đối với tôi, ngoại
trừ đám thanh niên trong trung tâm bảo trợ, tất cả mọi người
dù trai hay gái đều có vẻ là con nhà tử tế cả.
Một đám gái ăn chơi thành thị nghẽn lại sau lưng anh ta.
Chẳng khác nào ở một khúc quanh trên xa lộ Mặt Trời vào
ngày đông người đi nghỉ hè. Nhưng anh ta vẫn tiếp tục liếc
nhìn tôi, nỗi ham muốn dâng đầy trong mắt. Tôi tựa người vào
bàn quầy, đối diện với anh ta, để chắc chắn rằng tôi chính là
người mà anh ta đang nhìn. Tôi cắm một chiếc ống hút vào
cốc của anh ta. Tôi ngước mắt nhìn lên. Đúng là anh ta đang
nhìn tôi.
Tôi hỏi anh ta: “Anh có muốn uống thứ gì khác không?”
Tôi không nghe thấy câu trả lời của anh ta. Tôi liền lại gần
hơn, hét lên: “Cái gì cơ?” Anh ta ghé sát vào tai tôi, rồi bảo:
“Em.”
Tôi lén rót cho mình một cốc bourbon. Uống xong một
ngụm, tôi không còn đỏ mặt nữa, uống xong hai ngụm tôi cảm
thấy rất thoải mái, và sau ba ngụm thì tôi đã có thừa dũng khí.
Tôi lại ghé sát tai anh ta và trả lời: “Sau khi tôi hết ca, chúng
ta có thể uống cùng nhau.”
Anh ta mỉm cười. Hàm răng anh ta cũng giống hàm răng
tôi, trắng và đều tăm tắp.
Tôi tự nhủ cuộc đời tôi sắp thay đổi khi Philippe Toussaint
đưa tay qua mặt bàn quầy để khẽ vuốt cánh tay tôi. Tôi cảm
thấy làn da tôi căng lên, như thể nó đã có một dự cảm nào đó.
Anh ta hơn tôi mười tuổi. Sự khác biệt về tuổi tác nâng anh ta
lên một tầm cao mới. Tôi có cảm giác mình là một con bướm
đang ngắm một ngôi sao.
6
Vì đã đến giờ, khi mọi người ở trong mồ mả nghe
tiếng Ngài và ra khỏi.
Jean, 5:28, 29 / Kinh Thánh.
Có ai đó khẽ gõ cửa nhà tôi. Tôi không chờ ai đến, vả lại tôi
cũng chẳng còn chờ đợi ai từ lâu lắm rồi.
Có hai cửa vào nhà tôi, một cửa từ phía nghĩa trang, cửa
còn lại từ phía mặt đường. Éliane bắt đầu sủa và chạy về cánh
cửa phía mặt đường. Bà chủ của nó, Marianne Ferry (19532007), đang yên nghỉ tại khu Phu Danh. Éliane đến đây vào
ngày chôn cất bà, và không bao giờ rời đi nữa. Những tuần
đầu tiên, tôi mang đồ ăn đến mộ bà chủ cho nó, rồi dần dần nó
theo tôi về tận nhà. Nono đặt tên cho nó là Éliane giống tên
nhân vật mà Isabelle Adjani thủ vai trong Mùa hè sát nhân,
bởi vì nó có đôi mắt rất đẹp màu xanh, và bà chủ nó qua đời
vào tháng Tám.
Trong vòng hai mươi năm, đã có ba con chó đến với tôi
cùng lúc với chủ của chúng, rồi trở thành chó của tôi do hoàn
cảnh xô đẩy, nhưng bây giờ tôi chỉ còn lại một mình Éliane.
Tiếng gõ cửa lại vang lên. Tôi lưỡng lự không biết có nên
mở hay không. Mới 7 giờ sáng. Tôi đang vừa nhấm nháp cốc
trà vừa đậy lại hộp bánh quy bơ mặn và hũ mứt dâu quà tặng
của Suzanne Clerc, chồng bà (1933-2007) đang yên nghỉ trong
khu Bá Hương. Tôi đang nghe nhạc. Ngoại trừ những giờ
nghĩa trang mở cửa, tôi luôn nghe nhạc.
Tôi đứng dậy và tắt đài.
– Ai đấy?
Một giọng đàn ông ngập ngừng trả lời tôi.
– Tôi xin lỗi, thưa bà, tôi nhìn thấy có ánh đèn.
Tôi nghe thấy người đó cọ chân vào tấm thảm chùi chân.
– Tôi muốn hỏi vài câu về một người đang yên nghỉ trong
nghĩa...
Tặng Patricia Lopez “Paquita” và Sophie Daull.
1
Chỉ vắng một người, và mọi thứ đối với ta đều trở
nên trống trải.
Trích bài thơ “L'isolementt”, Alphonse de
Lamartine.
Các hàng xóm láng giềng của tôi chẳng sợ điều gì. Họ không
có gì phải lo lắng, không phải lòng ai, không cắn móng tay,
không tin vào thuyết ngẫu nhiên, không hứa hẹn, không gây
ồn, không có bảo hiểm xã hội, không khóc lóc, không tìm chìa
khóa, cũng không tìm kính, không tìm điều khiển, không tìm
con cái, thậm chí không tìm kiếm cả hạnh phúc.
Họ không đọc sách, không nộp thuế, không ăn kiêng giữ
dáng, không có sở thích ưu tiên, không thay đổi ý kiến, không
dọn giường, không hút thuốc, không lập danh sách, không uốn
lưỡi bảy lần trong miệng trước khi nói. Họ không có người
thay thế.
Họ không xu nịnh, không tham vọng, không thù hằn,
không điệu đà, không hẹp hòi ti tiện, không hào phóng, không
ghen ghét, không cẩu thả, không sạch sẽ, không cao quý,
không thú vị, không nghiện ngập, không hà tiện, không tươi
cười, không ranh mãnh, không bạo lực, không yêu đương,
không ưa rên rỉ, không đạo đức giả, không dịu dàng, không
cứng rắn, không mềm yếu, không tàn nhẫn, không dối trá,
không trộm cắp, không ham cờ bạc, không dũng cảm, không
giả tạo, không sùng đạo, không tục tĩu, không lạc quan.
Họ là người chết.
Điểm khác biệt duy nhất giữa họ, chính là chất liệu gỗ
dùng làm quan tài: gỗ sồi, gỗ thông hoặc gỗ gụ.
2
Người muốn tôi trở thành người thế nào, nếu tôi
không còn nghe thấy tiếng bước chân người, là sự
sống của người hay sự sống của tôi đã rời xa, tôi
cũng không biết nữa.
Trích bài thơ “Je respire où tu palpites”, Victor
Hugo.
Tôi tên là Violette Toussaint. Trước đây tôi là người gác ghi,
giờ đây tôi là người quản trang.
Tôi nhấm nháp cuộc sống, tôi uống nó từng ngụm nhỏ
giống như ta uống trà nhài mật ong. Và tối đến, khi cổng vào
nghĩa trang của tôi đã khóa kín, khi chùm chìa khóa đã được
treo trên cánh cửa phòng tắm, tôi như đang ở thiên đường.
Không phải thiên đường nơi các hàng xóm của tôi đang ở.
Không đâu.
Là thiên đường của người sống: một ngụm rượu Porto một nhãn rượu vang sản xuất năm 1983 -, mà José-Luis
Fernandez mang cho tôi vào ngày 1 tháng Chín hằng năm.
Một phần còn lại của kỳ nghỉ được rót vào một chiếc cốc nhỏ
bằng pha lê, một thứ nắng thu mà tôi mở nắp vào khoảng 19
giờ, dù trời mưa, có tuyết rơi, hay lộng gió.
Lượng chất lỏng màu hồng ngọc đầy chừng hai cái đê
khâu. Máu của những ruộng nho Porto. Tôi nhắm mắt. Và tôi
tận hưởng. Chỉ một ngụm là đủ để tôi vui vẻ cả tối. Hai cái đê
khâu là bởi tôi thích cảm giác say ngất ngây, chứ không thích
rượu.
José-Luis Fernandez tới đặt hoa trên mộ Maria Pinto, tức
bà Fernandez (1956-2007) mỗi tuần một lần, ngoại trừ vào
tháng Bảy, khi ấy chính tôi sẽ đảm nhiệm việc đó thay ông. Do
đấy mới có chai rượu porto kia, như một lời cảm ơn dành cho
tôi.
Hiện tại của tôi là một món quà của Chúa trời. Đó là điều
tôi tự nhủ với lòng mình mỗi sáng, khi mở mắt.
Tôi đã từng rất bất hạnh, thậm chí bị hủy hoại. Không tồn
tại. Trống rỗng. Tôi từng giống như các hàng xóm láng giềng
hiện nay của tôi, nhưng tệ hơn. Các chức năng sống của tôi
vẫn hoạt động, nhưng không có tôi ở bên trong. Không có sức
nặng của tâm hồn, cái tâm hồn dường như luôn có khối lượng
là hai mươi mốt gram, cho dù ta béo hay gầy, cao hay thấp, trẻ
hay già.
Nhưng vì chưa từng ưa thích đau khổ, nên tôi đã quyết
định rằng chuyện đó sẽ không kéo dài thêm nữa. Nỗi đau khổ,
nhất định nó phải chấm dứt vào một ngày nào đó.
Tôi đã có một khởi đầu rất tệ. Tôi là một đứa trẻ được
sinh ra từ một người mẹ vô danh, ra đời tại Ardennes, phía
Bắc tỉnh, cái góc dính gần với nước Bỉ, nơi khí hậu được coi là
mang tính chất “lục địa thoái biến” (lượng mưa rất lớn vào
mùa thu và thường xuyên có băng giá vào mùa đông), nơi tôi
tưởng tượng rằng con kênh của Jacques Brel chạy đến hút tầm
mắt.
Ngày chào đời, tôi không la hét. Vậy là người ta đặt tôi
sang một bên, chẳng khác nào một gói hàng nặng 2,670 ki lô
không có nhãn, không tên người nhận, trong lúc họ điền các
loại giấy tờ hành chính để tuyên bố rằng tôi đã ra đi trước khi
kịp đến thế giới này.
Chết lưu. Một đứa trẻ không sự sống, không mang họ.
Nữ hộ sinh phải nhanh chóng tìm cho tôi một cái tên để
điền vào các ô trống, bà đã chọn Violette.
Tôi hình dung rằng khi đó tôi tím ngắt từ đầu đến chân.
Khi tôi đổi màu, khi da tôi chuyển sang hồng hào và bà
phải điền thông tin vào một tờ giấy chứng sinh, bà đã không
đổi tên cho tôi.
Người ta đặt tôi lên một cái lò sưởi. Làn da tôi được sưởi
ấm. Vùng bụng của mẹ tôi, vốn chưa từng muốn có tôi, hẳn đã
khiến tôi đóng băng. Hơi ấm đã đưa tôi về lại với ban ngày.
Chắc là vì thế mà tôi yêu thích mùa hè đến vậy, tôi không bao
giờ bỏ lỡ bất kỳ dịp nào để hứng lấy tia nắng đầu tiên rọi
xuống, chẳng khác nào một đóa hướng dương.
Họ thời con gái của tôi là Trenet, giống như Charles. Sau
cái tên Violette, có lẽ vẫn là nữ hộ sinh đó đã cho tôi cái họ ấy.
Hẳn là bà ấy yêu thích Charles. Như đến lượt tôi yêu thích
ông. Suốt một thời gian dài, tôi đã coi ông như một người họ
hàng xa, một kiểu ông chú người Mỹ mà tôi chẳng bao giờ
được gặp. Khi ta yêu một ca sĩ, vì suốt ngày hát những bài hát
của anh ta, ta sẽ có một thứ có thể được gọi là quan hệ bà con
họ hàng, đại loại thế.
Cái họ Toussaint là sau này tôi mới mang. Khi tôi kết hôn
với Philippe Toussaint. Với một cái họ như thế, lẽ ra tôi đã
phải đề phòng. Nhưng có những người mang họ Printemps
5
mà vẫn đánh vợ như thường đấy thôi. Một cái họ hay ho
không ngăn cản ai đó trở thành một kẻ khốn.
Tôi không bao giờ thấy nhớ mẹ. Ngoại trừ những khi bị
sốt. Khi khỏe mạnh, tôi lớn lên. Tôi vổng lên như thể sự thiếu
vắng cha mẹ đã mang lại cho tôi một cái cọc đỡ gắn dọc cột
sống. Tôi luôn đứng thẳng. Đó là một đặc điểm riêng ở tôi. Tôi
chưa từng khom lưng. Kể cả trong những ngày đau buồn. Mọi
người hỏi tôi khá thường xuyên là tôi có luyện khiêu vũ cổ
điển không. Tôi trả lời rằng không. Rằng chính cuộc sống
hằng ngày đã đưa tôi vào khuôn khổ, bắt tôi đu xà và nhón
chân mỗi ngày.
3
Cứ để họ bắt tôi hoặc bắt người thân của tôi đi, bởi
vì tất cả các nghĩa trang rồi một ngày sẽ là những
hoa viên.
Theo lời bài hát “Les enfants lune”, Damien Saez.
Năm 1997, khi trạm gác ghi của chúng tôi được tự động hóa,
vợ chồng tôi đã mất việc. Chúng tôi được lên báo. Chúng tôi
đại diện cho những nạn nhân liên đới cuối cùng của tiến bộ kỹ
thuật, những công nhân điều khiển trạm gác ghi thủ công cuối
cùng của nước Pháp. Để minh họa cho bài báo, phóng viên đã
chụp ảnh chúng tôi. Philippe Toussaint thậm chí còn choàng
một tay quanh eo tôi khi tạo dáng. Mặc dù tôi đang mỉm cười,
nhưng Chúa ơi, mắt tôi trong bức ảnh đó mới buồn làm sao.
Ngày bài báo được đăng, Philippe Toussaint rầu rĩ như đã
chết cả tâm hồn khi từ cơ quan ANPE quá cố trở về: anh ta
vừa nhận ra rằng anh ta sắp phải làm việc. Anh ta đã quen với
việc tôi làm tất cả thay cho anh ta. Nếu xét về khoản lười
biếng, thì tôi đã trúng số độc đắc khi lấy Philippe. Tôi đã chọn
đúng cả dãy số, để rồi nhận được giải jackpot.
Để giúp Philippe lấy lại tinh thần, tôi đưa cho anh ta một
tờ giấy: “Quản trang, một nghề của tương lai”. Anh ta nhìn tôi
như thể tôi vừa bị mất trí. Vào năm 1997, ngày nào anh ta
cũng nhìn tôi như thể tôi bị mất trí. Phải chăng một người đàn
ông không còn tình yêu sẽ nhìn người phụ nữ anh ta từng yêu
như thể cô ta bị mất trí?
Tôi giải thích với anh ta rằng tôi tình cờ nhặt được tờ
quảng cáo này. Rằng tòa thị chính Brancion-en-Chalon đang
tìm kiếm một cặp vợ chồng quản trang để trông nom cho nghĩa
trang của họ. Và rằng người chết họ có giờ giấc sinh hoạt ổn
định và ít gây ồn hơn so với những đoàn tàu. Rằng tôi đã nói
chuyện với thị trưởng, ông ấy sẵn sàng tuyển dụng chúng tôi
ngay lập tức.
Chồng tôi không tin tôi. Anh ta nói với tôi rằng anh ta
không tin vào sự tình cờ. Rằng anh ta thà chết còn hơn là đi
đến “nơi đó” và làm cái nghề của loài kền kền ăn xác thối ấy.
Anh ta bật ti vi rồi chơi trò Mario 64. Mục tiêu của trò
chơi, đó là hái cho được toàn bộ sao ở từng chặng. Còn tôi, chỉ
có một ngôi sao duy nhất tôi muốn hái: ngôi sao may mắn. Đó
là điều tôi đã nghĩ khi nhìn thấy Mario chạy khắp nơi để giải
cứu công chúa Peach bị Bowser bắt cóc.
Thế là tôi bắt đầu nằn nì. Tôi nói với anh ta rằng khi trở
thành quản trang, mỗi người chúng tôi sẽ có một khoản lương,
mà còn hậu hơn lương gác ghi, rằng người chết giúp chúng tôi
kiếm khá hơn những đoàn tàu. Rằng chúng tôi sẽ có một căn
nhà công vụ rất xinh xắn mà không phải trả tiền thuê. Rằng
chúng tôi sẽ được thay đổi, rời khỏi căn nhà nơi chúng tôi đã
sống suốt nhiều năm, một căn nhà tồi tàn ngấm nước chẳng
khác nào một cái thuyền cũ vào mùa đông và ấm nóng chẳng
khác nào cực Bắc vào mùa hè. Rằng đó sẽ là một khởi đầu mới
và chúng tôi cần sự khởi đầu ấy, rằng chúng tôi sẽ treo những
tấm rèm xinh xắn ở cửa sổ để không còn nhìn thấy những
người hàng xóm, những cây thập giá, những bà góa và tất tần
tật những thứ khác. Rằng những tấm rèm đó sẽ là ranh giới
giữa cuộc sống của chúng tôi và nỗi buồn của những người
khác. Lẽ ra tôi có thể nói sự thật với anh ta, rằng những tấm
rèm đó sẽ là ranh giới ngăn giữa nỗi buồn của tôi và nỗi buồn
của những người khác. Nhưng nhất định không được nói thế.
Không nói gì cả. Khiến anh ta tin tưởng. Giả vờ. Để anh ta
nhượng bộ.
Để chốt hạ màn thuyết phục, tôi hứa với Philippe là anh ta
sẽ KHÔNG PHẢI LÀM GÌ CẢ. Rằng ba phu đào huyệt đã
phụ trách hết công việc tu sửa, đào huyệt và quy hoạch khu
nghĩa trang. Rằng công việc của quản trang chỉ đơn giản là mở
và đóng cổng. Là hiện diện. Với giờ giấc làm việc không hề
phiền toái. Những kỳ nghỉ và những kỳ cuối tuần dài dằng dặc
như cây cầu cạn Valserine. Và rằng tôi, tôi sẽ làm những việc
còn lại. Tất cả những việc còn lại.
Super Mario đã ngừng chạy. Nàng công chúa đã ngã
xuống vách núi.
Trước khi đi ngủ, Philippe Toussaint đọc lại tờ quảng cáo:
“Quản trang, một nghề của tương lai”.
Trạm gác ghi của chúng tôi hồi ấy nằm ở Malgrange-surNancy. Vào thời kỳ ấy trong cuộc đời tôi, tôi không hề sống.
“Vào thời kỳ ấy trong sự chết của tôi” có lẽ sẽ đúng hơn. Tôi
thức dậy, tôi mặc quần áo, tôi làm việc, tôi đi chợ, tôi ngủ. Với
một viên thuốc ngủ. Thậm chí là hai viên. Thậm chí là nhiều
hơn. Và tôi nhìn chồng tôi đang nhìn tôi như thể tôi bị mất trí.
Giờ giấc làm việc của tôi hồi ấy phiền hà khủng khiếp.
Tôi hạ rồi nâng thanh chắn gần mười lăm lần mỗi ngày, khắp
các ngày trong tuần. Chuyến tàu đầu tiên chạy qua lúc 4h50 và
chuyến cuối cùng lúc 23h04. Tôi như đã cài đặt tự động tiếng
chuông của thanh chắn trong đầu. Tôi nghe thấy nó trước cả
khi nó vang lên. Cái nhịp điệu địa ngục ấy, lẽ ra chúng tôi có
thể chia sẻ, thay phiên nhau đảm trách. Nhưng thứ duy nhất
mà Philippe Toussaint có thể đảm trách được, đó là chiếc xe
mô tô và thân thể đám tình nhân của anh ta.
Ôi chao, những hành khách mà tôi nhìn thấy đi qua mới
khiến tôi ước ao biết bao. Tuy nhiên, đó chỉ là những đoàn tàu
nhỏ thuộc tỉnh lẻ nối Nancy với Épinal, và chúng dừng lại cả
chục lần mỗi chuyến, tại những thị trấn nghèo khổ, để phục vụ
dân bản địa. Tuy nhiên, tôi ghen tị với những người đàn ông
và đàn bà ấy. Tôi hình dung là họ đang đi đến những cuộc hẹn,
những cuộc hẹn mà tôi cũng muốn có, giống như những hành
khách mà tôi nhìn thấy lướt qua trước mặt.
Chúng tôi lên đường nhắm đến Bourgogne ba tuần sau khi bài
viết kia xuất hiện trên mặt báo. Chúng tôi đã chuyển từ nơi
xám xịt sang nơi xanh mướt. Từ đường nhựa đến đồng cỏ, từ
mùi hắc ín của đường sắt đến mùi của nông thôn.
Chúng tôi đến nghĩa trang Brancion-en-Chalon ngày 15
tháng Tám năm 1997. Nước Pháp đang trong kỳ nghỉ hè. Toàn
bộ dân cư đi vắng cả. Những con chim thường bay từ ngôi mộ
này sang ngôi mộ khác không còn bay nữa. Lũ mèo thường
duỗi mình giữa những bình hoa đã biến mất. Thậm chí, trời đã
trở nên quá nóng đối với lũ kiến và thằn lằn, những mặt đá
cẩm thạch bị nắng rọi nóng bỏng. Ba phu đào huyệt đang nghỉ
hè, cả những người mới chết cũng thế. Tôi một mình lang
thang giữa những lối đi, đọc tên những con người mà tôi chưa
từng quen biết. Tuy nhiên, tôi lập tức cảm thấy dễ chịu ở nơi
này. Ở chỗ dành cho tôi.
4
Sinh linh là vĩnh hằng, cuộc đời chỉ là một chặng
ghé qua, ký ức vĩnh cửu sẽ là thông điệp của cuộc
đời ấy.
Khi đám trẻ mới lớn không nhét kẹo cao su vào lỗ khóa, chính
tôi là người mở và đóng cánh cổng nặng nề của nghĩa trang.
Giờ mở cửa thay đổi theo mùa.
Từ 8 giờ đến 19 giờ từ ngày 1 tháng Ba đến ngày 31 tháng
Mười.
Từ 9 giờ đến 17 giờ từ ngày 2 tháng Mười một đến ngày
28 tháng Hai.
Không ai quy định gì cho ngày 29 tháng Hai.
Từ 7 giờ đến 20 giờ ngày 1 tháng Mười một.
Tôi tiếp quản công việc của chồng tôi sau khi anh ta ra đi
- hay chính xác hơn là từ khi anh ta biến mất. Philippe
Toussaint xuất hiện với ghi chú “mất tích đáng ngờ” trong hồ
sơ quốc gia của cảnh sát.
Vẫn còn nhiều người đàn ông khác xung quanh tôi. Ba
phu đào huyệt, Nono, Gaston và Elvis. Ba nhân viên tang lễ,
tức ba anh em nhà Lucchini có tên lần lượt là Pierre, Paul và
Jacques, cùng cha xứ Cédric Duras. Tất cả những người đàn
ông này ghé qua nhà tôi nhiều lượt mỗi ngày. Họ đến uống
một ly rượu, hoặc nhâm nhi một món ăn vặt. Họ còn giúp tôi
chăm sóc vườn rau, khi tôi cần mang những bao đất trồng ra
vườn, hoặc sửa lại đường ống nước bị rò. Tôi coi họ như
những người bạn, chứ không phải như những đồng nghiệp.
Cho dù tôi không có ở đó, họ vẫn có thể vào bếp nhà tôi, rót
một cốc cà phê, uống xong, rửa cốc rồi rời đi.
Phu đào huyệt làm cái công việc khiến người ta xa lánh,
ghê tởm. Tuy nhiên, ba phu đào huyệt ở nghĩa trang của tôi là
những người dịu dàng và dễ chịu nhất mà tôi từng biết.
Nono là người tôi tin tưởng nhất. Đó là một người đàn
ông thẳng thắn, có niềm vui sống từ trong máu. Bất cứ thứ gì
cũng khiến anh thích thú, và anh không bao giờ nói không.
Trừ phi anh phải tham dự tang lễ một đứa trẻ. Anh để “việc
đó” cho những người khác. “Những người có đủ dũng khí”
như anh thường nói. Nono trông giống Georges Brassens,
nhận xét ấy khiến anh phá lên cười, bởi vì tôi là người duy
nhất trên thế giới nói với anh rằng trông anh giống Georges
Brassens.
Còn Gaston, anh chính là người sáng tạo ra sự vụng về.
Cử chỉ của anh lúc nào cũng lệch đi. Lúc nào trông anh cũng
như đang say rượu, mặc dù anh chỉ uống nước. Trong các lễ an
táng, anh đứng giữa Nono và Elvis, phòng khi anh bị mất
thăng bằng. Dưới chân Gaston, luôn thường trực một vụ động
đất. Anh xô người khác ngã, anh tự ngã, anh xô đổ đồ đạc, anh
giẫm nát thứ gì đó. Khi Gaston vào nhà tôi, tôi luôn lo sợ anh
làm hỏng thứ gì đó hoặc tự làm mình bị thương. Và bởi vì nỗi
lo sợ không xua được rủi ro, nên lần nào anh cũng đánh vỡ
một cái cốc hoặc tự làm mình bị thương.
Còn Elvis, tất cả mọi người đều gọi anh là Elvis vì Elvis
Presley. Anh không biết đọc cũng không biết viết, nhưng lại
thuộc lòng toàn bộ các bài hát của thần tượng. Anh phát âm lời
hát rất tệ, chúng tôi không bao giờ biết được anh đang hát
tiếng Anh hay tiếng Pháp, nhưng tâm hồn anh đặt cả vào bài
hát. “Love mi tendeur, love mi trou…”
Anh em nhà Lucchini chỉ hơn kém nhau một tuổi, ba
mươi tám, ba mươi chín và bốn mươi. Họ làm nhân viên tang
lễ theo kiểu cha truyền con nối, đã từ nhiều thế hệ. Họ cũng là
những chủ nhân may mắn của nhà xác Brancion, tòa nhà nằm
sát cạnh cửa hàng của họ. Nono kể với tôi rằng chỉ có một
cánh cửa sập ngăn cửa hàng với nhà xác. Chính Pierre, anh cả,
là người đón tiếp tang gia. Paul phụ trách trang điểm cho
người chết. Anh làm việc trong tầng hầm. Còn Jacques là tài
xế lái xe đòn. Chuyến đi cuối cùng, anh là người đảm nhận.
Nono gọi họ là “các tông đồ”.
Ngoài ra, còn có cha xứ của chúng tôi, Cédric Duras.
Chúa trời thật có khiếu sắp đặt, mặc dù không phải lúc nào
cũng chính xác. Từ khi cha Cédric đến, hình như có nhiều phụ
nữ trong vùng bị ấn tượng mạnh trước khải huyền thần thánh.
Dường như ngày càng có nhiều tín đồ nữ hiện diện trên các
băng ghế ở nhà thờ vào sáng Chủ nhật.
Tôi thì không bao giờ đến nhà thờ. Làm thế chẳng khác
nào ngủ với một nữ đồng nghiệp. Tuy nhiên, tôi nghĩ tôi đón
nhận tâm sự của những người ghé qua nhà tôi còn nhiều hơn
cha Cédric nhận được trong phòng xưng tội của ông. Chính
trong căn nhà khiêm tốn của tôi và những lối đi trong nghĩa
trang mà các gia đình dốc bầu tâm sự. Lúc đến, lúc đi, đôi khi
là cả hai. Gần giống như những người quá cố. Với họ thì chính
sự im lặng, những tấm bia mộ, những chuyến viếng thăm,
những bông hoa, những bức ảnh, cách thức hành xử của những
người đến nghiêng mình trước mộ họ, là những điều kể với tôi
về cuộc đời trước đây của họ. Cuộc đời khi họ còn sống. Còn
chuyển động.
Nghề nghiệp của tôi đòi hỏi phải kín đáo, thích giao tiếp,
không lòng trắc ẩn. Không lòng trắc ẩn, đối với một phụ nữ
như tôi, cũng giống như trở thành nhà du hành vũ trụ, bác sĩ
phẫu thuật, chuyên gia núi lửa hoặc nhà nghiên cứu về di
truyền học. Nó không nằm trong hành tinh tôi sống, cũng
không thuộc khả năng của tôi. Nhưng tôi không bao giờ khóc
trước mặt một người khách viếng thăm nghĩa trang. Thỉnh
thoảng tôi khóc trước hoặc sau một lễ an táng, nhưng không
bao giờ tôi khóc trong buổi lễ. Nghĩa trang của tôi đã có từ ba
thế kỷ nay. Người quá cố đầu tiên được đón nhận tại đây là
một phụ nữ. Diane de Vigneron (1756-1773), bà chết trong lúc
sinh con, ở tuổi mười chín. Nếu lướt đầu ngón tay lên bia mộ
của bà, ta vẫn có thể đoán thấy tên bà khắc trên lớp đá thô
nhám. Bà không bị cải táng, mặc dù nghĩa trang của tôi đang
thiếu chỗ. Không có bất kỳ người nào trong các đời thị trưởng
dám đưa ra quyết định quấy rầy con người đầu tiên được chôn
ở đây. Nhất là khi quanh Diane còn có một huyền thoại xưa cũ.
Theo người dân trong vùng Brancion, dường như bà đã nhiều
lần xuất hiện trong “trang phục ánh sáng” của bà, đằng trước
cửa kính các cửa hàng ở trung tâm thành phố và trong nghĩa
trang. Khi đến các hội chợ bán đồ cũ trong vùng, thỉnh thoảng
tôi có nhìn thấy hình ảnh của bà Diane được thể hiện như một
bóng ma trên những bức tranh khắc cổ xưa có từ thế kỷ 18,
hoặc trên những tấm bưu thiếp. Một bà Diane giả được dựng
lên, cải trang thành một con ma tầm thường giả hiệu.
Có nhiều huyền thoại xung quanh các nấm mồ. Người
sống thường xuyên sáng tác lại cuộc đời của những người đã
chết.
Có một huyền thoại nữa ở Brancion, mới hơn rất nhiều so
với huyền thoại Diane de Vigneron. Bà tên là Reine Ducha
(1961-1982), bà được chôn trong nghĩa trang của tôi, hàng thứ
15, trong khu Bá Hương. Một cô gái trẻ xinh xắn tóc nâu tươi
cười trong bức ảnh gắn trên bia mộ. Bà chết khi đang lái xe, ở
cửa ngõ thành phố. Hình như đám thanh niên thường nhìn thấy
bà bên vệ đường, mặc toàn đồ trắng, ở địa điểm xảy ra vụ tai
nạn.
Huyền thoại về “các bà áo trắng” đã lan khắp thế giới. Có
vẻ như những bóng ma nữ chết bất đắc kỳ tử đã ám ảnh thế
giới của người sống, kéo lê linh hồn đau khổ của họ trong các
tòa lâu đài và các nghĩa trang.
Và để tăng thêm sự kỳ bí của huyền thoại về Reine thì mộ
của bà đã phải di chuyển. Theo Nono và anh em nhà Lucchini,
đó là hậu quả của tình trạng sạt đất. Điều đó thường xảy ra khi
có quá nhiều nước tích tụ trong một hầm mộ.
Trong vòng hai mươi năm, tôi nghĩ mình đã chứng kiến
rất nhiều chuyện trong nghĩa trang, thậm chí có những đêm tôi
bắt gặp những cái bóng đang làm tình trên hoặc giữa các ngôi
mộ, nhưng đó không phải là những bóng ma.
Ngoại trừ các huyền thoại, không có gì là vĩnh cửu, kể cả
những phần mộ mua quyền sở hữu lâu dài. Ta có thể mua một
mộ phần trong vòng mười lăm năm, ba mươi năm, năm mươi
năm hoặc vĩnh viễn. Chỉ có điều trong trường hợp mua vĩnh
viễn, ta phải đề phòng: nếu sau một giai đoạn ba mươi năm mà
một mộ phần mua vĩnh viễn không còn được chăm sóc (bề
ngoài xuống cấp xấu xí) và đã rất lâu không có người nào
được chôn thêm vào đó, thì chính quyền có thể thu hồi; phần
xương cốt còn lại sẽ được bỏ vào một hầm hài cốt ở cuối nghĩa
trang.
Từ khi đến đây, tôi đã chứng kiến nhiều phần mộ quá hạn
bị tháo dỡ và dọn dẹp, còn xương người quá cố được đưa vào
hầm hài cốt. Và không có ai nói gì hết. Bởi vì những người
quá cố ấy được coi như những đồ vật mà người ta tìm thấy,
nhưng lại chẳng còn ai đề nghị nhận lại nữa.
Luôn là như thế với cái chết. Thời điểm nó xảy ra càng lùi
xa, thì nó càng ít tác động đến người sống. Thời gian hủy hoại
cuộc sống. Thời gian gặm mòn cái chết.
Tôi cùng ba phu đào huyệt làm tất cả để không bao giờ bỏ
rơi một phần mộ nào. Chúng tôi không chịu đựng nổi cảnh
phải nhìn thấy người ta dán lên bia mộ một tờ thông báo của
tòa thị chính: “Phần mộ này đang nằm trong quy trình thu hồi.
Đề nghị liên hệ gấp với tòa thị chính, xin cảm ơn.” Trong khi
tên của người quá cố yên nghỉ bên dưới vẫn hiển hiện trên đó.
Chắc hẳn là vì thế mà trong các nghĩa trang ngập tràn văn
bia. Để xua đuổi số phận trôi chảy của thời gian. Bấu víu vào
những kỷ niệm. Dòng tưởng niệm mà tôi thích nhất là: “Cái
chết bắt đầu khi không ai còn khả năng mơ về bạn.” Nó được
ghi trên mộ của một nữ y tá trẻ, Marie Deschamps, qua đời
năm 1917. Hình như một người lính đã dựng tấm bia này vào
năm 1919. Mỗi khi đi qua mộ bà, tôi tự hỏi liệu ông có mơ về
bà lâu không.
“Cho dù anh làm gì, cho dù em ở nơi nào, không gì xóa
mờ được em, anh nghĩ đến em” của Jean-Jacques Goldman và
“Những ngôi sao chỉ trò chuyện với nhau về em” của Francis
Cabrel là những câu hát được ghi lại nhiều nhất trên các tấm
bia.
Nghĩa trang của tôi rất đẹp. Hai bên các lối đi trồng những
hàng cây đoạn trăm tuổi. Phần lớn các ngôi mộ đều có hoa.
Đằng trước căn nhà công vụ nhỏ, tôi có bán vài chậu hoa.
Và khi không thể bán được chúng, tôi sẽ tặng chúng cho
những ngôi mộ bị bỏ rơi.
Tôi cũng trồng cả thông nữa. Vì chúng tỏa hương thơm
vào mùa hè. Đó là mùi hương tôi yêu thích nhất.
Tôi trồng thông vào năm 1997, năm chúng tôi đến đây.
Chúng đã cao lên rất nhiều, và mang lại cho nghĩa trang của
tôi một dáng vẻ đẹp đẽ. Quản trang chính là chăm sóc cho
những người quá cố đang yên nghỉ ở đó. Chính là tôn trọng
họ. Và nếu không được tôn trọng khi còn sống, ít nhất họ cũng
được như thế khi nằm xuống.
Tôi tin chắc rằng có nhiều kẻ khốn đang yên nghỉ ở đây.
Nhưng cái chết không phân biệt giữa người tốt và kẻ xấu. Với
lại, trong đời mình, ai chẳng ít nhất một lần từng là kẻ khốn
kiếp?
Trái ngược với tôi, Philippe Toussaint lập tức ghét nghĩa trang
này, thành phố nhỏ này, vùng Bourgogne, nông thôn, những
phiến đá cũ kỹ, những con bò sữa màu trắng, và cả con người
nơi đây.
Tôi còn chưa dỡ xong những thùng các tông đựng đồ
chuyển đến thì anh ta đã xách mô tô đi suốt từ sáng đến tối. Và
vài tháng sau, có những lần anh ta bỏ đi suốt nhiều tuần liền.
Cho đến cái ngày anh ta không quay về nữa. Cảnh sát không
hiểu tại sao tôi không thông báo việc anh ta mất tích sớm hơn.
Tôi không bao giờ nói với họ rằng anh ta đã biến mất nhiều
năm nay, kể cả khi anh ta vẫn ăn tối cùng bàn với tôi. Tuy
nhiên, sau chừng một tháng, khi hiểu ra rằng anh ta sẽ không
quay về nữa, tôi vẫn cảm thấy mình bị bỏ rơi, chẳng khác nào
những phần mộ mà tôi vẫn đều đặn quét dọn. Cũng xám xịt, tẻ
nhạt và chông chênh như thế. Sẵn sàng bị phá dỡ, và những gì
còn lại của tôi sẽ bị vứt vào hầm hài cốt.
5
Cuốn sách cuộc đời là cuốn sách tối cao, mà ta
không thể đóng hay mở lại theo ý mình, ta những
muốn quay trở lại trang nơi ta yêu, ấy thế mà trang
nơi ta chết đã nằm ngay dưới ngón tay ta.
Trích từ Vers sur un album, Alphonse de
Lamartine.
Tôi gặp Philippe Toussaint tại Tibourin, một hộp đêm ở
Charleville-Mézières vào năm 1985.
Philippe Toussaint đứng tì khuỷu tay lên mặt quầy. Còn
tôi, khi đó tôi là nhân viên phục vụ. Tôi làm nhiều công việc
lặt vặt bằng cách nói dối tuổi của mình. Một cậu bạn trong
trung tâm bảo trợ nơi tôi sống đã làm giả giấy tờ cho tôi, để
biến tôi thành người thành niên.
Tôi không có tuổi chính xác. Tôi có thể mười bốn tuổi,
cũng có thể đã hai mươi lăm. Tôi chỉ mặc quần jean và áo
thun, cắt tóc ngắn và đeo khuyên khắp nơi. Cả ở mũi. Tôi nhỏ
bé và vẽ viền mắt bằng phấn đen để tạo cho bản thân một
phong cách giống với Nina Hagen. Tôi vừa bỏ học. Tôi còn
chưa đọc thông viết thạo. Nhưng tôi biết đếm. Tôi đã trải qua
nhiều chặng đời và chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm việc
để trả tiền thuê nhà và rời khỏi trung tâm càng sớm càng tốt.
Sau đó, tôi sẽ tính tiếp.
Vào năm 1985, thứ duy nhất tử tế ở tôi là hàm răng. Trong
suốt thời thơ ấu, tôi vẫn luôn bị ám ảnh với việc có được hàm
răng trắng đẹp như những cô gái trong các tạp chí. Khi nhân
viên giáo dục đến các gia đình đón nhận và hỏi tôi có cần thứ
gì không, tôi luôn đề nghị được đến phòng khám nha khoa, cứ
như thể số phận và toàn bộ cuộc đời tôi phụ thuộc vào nụ cười
mà tôi sẽ trưng ra.
Tôi không có bạn gái, vì tôi quá giống con trai. Thay vào
đó, tôi gắn bó với các xơ, nhưng những lần chia cắt lặp đi lặp
lại, việc thường xuyên thay đổi gia đình đón nhận đã phá hủy
tôi. Đừng bao giờ gắn bó. Tôi tự nhủ việc để tóc ngắn sẽ bảo
vệ tôi, sẽ khiến tôi có tâm hồn và sự gan góc của một đứa con
trai. Kết quả là đám con gái tránh né tôi. Tôi đã ngủ với đám
con trai để giống như tất cả mọi người, nhưng chẳng có gì thú
vị, tôi đã thất vọng, tôi thấy chuyện đó chẳng có gì hay ho. Tôi
làm chuyện đó để đánh lừa, hoặc để đổi lấy quần áo, một cái
kẹp tóc vớ vẩn, một tấm vé vào đâu đó, một bàn tay siết lấy
tay tôi. Tôi ưa thích thứ tình yêu trong những câu chuyện cổ
tích trẻ con, những câu chuyện mà chưa từng có ai kể cho tôi
nghe. “Họ cưới nhau và có rất, rất, rất nhiều…”
Tì khuỷu tay trên bàn quầy, Philippe Toussaint vừa quan
sát đám bạn của anh ta đang nhảy trên sàn vừa nhấm nháp một
ly whisky-Coca không đá. Anh ta có khuôn mặt đẹp như thiên
thần. Một kiểu Michel Berger phiên bản tô màu. Những lọn
tóc dài vàng óng, đôi mắt xanh, làn da trắng sáng, chiếc mũi
khoằm, khuôn miệng như quả dâu tây… sẵn sàng để bị ngấu
nghiến, một quả dâu tây chín mọng vào tháng Bảy. Anh ta mặc
quần jean, áo thun trắng và áo blu dông da màu đen. Anh ta
cao lớn, vạm vỡ, hoàn hảo. Vừa nhìn thấy anh ta, tim tôi đã
nện thình thịch giống hệt như ca từ trong bài hát của ông chú
tưởng tượng của tôi, Charles Trenet. Với tôi, Philippe
Toussaint sẽ có được mọi thứ miễn phí, kể cả những ly
whisky-Coca mà anh ta nhấm nháp.
Anh ta chẳng cần làm gì cũng có thể hôn đám con gái tóc
vàng xinh đẹp xúm xít xung quanh. Chẳng khác nào bầy ruồi
bu quanh một mẩu thịt ôi. Philippe Toussaint có vẻ không
quan tâm đến bất cứ chuyện gì. Anh ta để mặc mọi người
muốn làm gì thì làm. Để có được những gì mình muốn, anh ta
chẳng cần phải động một ngón tay, ngoại trừ để thỉnh thoảng
nâng ly rượu lên môi, giữa hai nụ hôn sáng ánh huỳnh quang.
Anh ta quay lưng về phía tôi. Khi nhìn anh ta, tôi chỉ thấy
những lọn tóc vàng chuyển từ màu xanh lá sang đỏ rồi xanh lơ
dưới ánh đèn chiếu. Ánh mắt tôi la cà trên mái tóc anh ta đến
cả tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng, anh ta nghiêng người về phía
một cô nàng đang thì thầm điều gì đó vào tai anh ta, và tôi
ngắm nghía khuôn mặt nhìn nghiêng hoàn hảo ấy.
Thế rồi, anh ta xoay người về phía quầy bar, và ánh mắt
anh ta đậu lên tôi để rồi không chịu nhả ra nữa. Kể từ lúc đó,
tôi trở thành thứ đồ chơi ưa thích nhất của anh ta.
Lúc đầu, tôi nghĩ anh ta quan tâm đến tôi là vì lượng rượu
miễn phí mà tôi rót vào cốc anh ta. Trong lúc rót rượu cho
Philippe, tôi cố không để anh ta nhìn thấy bộ móng tay mà tôi
gặm nhấm nham nhở, chỉ phô ra hàm răng trắng và đều tăm
tắp. Tôi nghĩ anh ta có vẻ là con nhà tử tế. Đối với tôi, ngoại
trừ đám thanh niên trong trung tâm bảo trợ, tất cả mọi người
dù trai hay gái đều có vẻ là con nhà tử tế cả.
Một đám gái ăn chơi thành thị nghẽn lại sau lưng anh ta.
Chẳng khác nào ở một khúc quanh trên xa lộ Mặt Trời vào
ngày đông người đi nghỉ hè. Nhưng anh ta vẫn tiếp tục liếc
nhìn tôi, nỗi ham muốn dâng đầy trong mắt. Tôi tựa người vào
bàn quầy, đối diện với anh ta, để chắc chắn rằng tôi chính là
người mà anh ta đang nhìn. Tôi cắm một chiếc ống hút vào
cốc của anh ta. Tôi ngước mắt nhìn lên. Đúng là anh ta đang
nhìn tôi.
Tôi hỏi anh ta: “Anh có muốn uống thứ gì khác không?”
Tôi không nghe thấy câu trả lời của anh ta. Tôi liền lại gần
hơn, hét lên: “Cái gì cơ?” Anh ta ghé sát vào tai tôi, rồi bảo:
“Em.”
Tôi lén rót cho mình một cốc bourbon. Uống xong một
ngụm, tôi không còn đỏ mặt nữa, uống xong hai ngụm tôi cảm
thấy rất thoải mái, và sau ba ngụm thì tôi đã có thừa dũng khí.
Tôi lại ghé sát tai anh ta và trả lời: “Sau khi tôi hết ca, chúng
ta có thể uống cùng nhau.”
Anh ta mỉm cười. Hàm răng anh ta cũng giống hàm răng
tôi, trắng và đều tăm tắp.
Tôi tự nhủ cuộc đời tôi sắp thay đổi khi Philippe Toussaint
đưa tay qua mặt bàn quầy để khẽ vuốt cánh tay tôi. Tôi cảm
thấy làn da tôi căng lên, như thể nó đã có một dự cảm nào đó.
Anh ta hơn tôi mười tuổi. Sự khác biệt về tuổi tác nâng anh ta
lên một tầm cao mới. Tôi có cảm giác mình là một con bướm
đang ngắm một ngôi sao.
6
Vì đã đến giờ, khi mọi người ở trong mồ mả nghe
tiếng Ngài và ra khỏi.
Jean, 5:28, 29 / Kinh Thánh.
Có ai đó khẽ gõ cửa nhà tôi. Tôi không chờ ai đến, vả lại tôi
cũng chẳng còn chờ đợi ai từ lâu lắm rồi.
Có hai cửa vào nhà tôi, một cửa từ phía nghĩa trang, cửa
còn lại từ phía mặt đường. Éliane bắt đầu sủa và chạy về cánh
cửa phía mặt đường. Bà chủ của nó, Marianne Ferry (19532007), đang yên nghỉ tại khu Phu Danh. Éliane đến đây vào
ngày chôn cất bà, và không bao giờ rời đi nữa. Những tuần
đầu tiên, tôi mang đồ ăn đến mộ bà chủ cho nó, rồi dần dần nó
theo tôi về tận nhà. Nono đặt tên cho nó là Éliane giống tên
nhân vật mà Isabelle Adjani thủ vai trong Mùa hè sát nhân,
bởi vì nó có đôi mắt rất đẹp màu xanh, và bà chủ nó qua đời
vào tháng Tám.
Trong vòng hai mươi năm, đã có ba con chó đến với tôi
cùng lúc với chủ của chúng, rồi trở thành chó của tôi do hoàn
cảnh xô đẩy, nhưng bây giờ tôi chỉ còn lại một mình Éliane.
Tiếng gõ cửa lại vang lên. Tôi lưỡng lự không biết có nên
mở hay không. Mới 7 giờ sáng. Tôi đang vừa nhấm nháp cốc
trà vừa đậy lại hộp bánh quy bơ mặn và hũ mứt dâu quà tặng
của Suzanne Clerc, chồng bà (1933-2007) đang yên nghỉ trong
khu Bá Hương. Tôi đang nghe nhạc. Ngoại trừ những giờ
nghĩa trang mở cửa, tôi luôn nghe nhạc.
Tôi đứng dậy và tắt đài.
– Ai đấy?
Một giọng đàn ông ngập ngừng trả lời tôi.
– Tôi xin lỗi, thưa bà, tôi nhìn thấy có ánh đèn.
Tôi nghe thấy người đó cọ chân vào tấm thảm chùi chân.
– Tôi muốn hỏi vài câu về một người đang yên nghỉ trong
nghĩa...
 





