GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 9

TRANG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z5547940853696_c22e1de8ba6efc311887a62f5e563901.jpg Z5547940811788_25a94d4644ada0ae8a28a704440d8808.jpg Z5547940810742_117d36aa84d633f50a06fff45e988b07.jpg Z5547929511935_166ec05c4d6c1475f0eb506d54b29b71.jpg Z5547929456682_261a5bed5fad4a97d7dba4b3ec3699d2.jpg Z5547929448801_126266d54659f74f38252045ee8a1acc.jpg Z5547929432436_7e13bc07c3a7a3d8354de847005f90f5.jpg Z5547929424023_6d8abea7541817a8bd661b044a148b2a.jpg Z5547922612174_13666a638e8142e7c46809c9ba6eeba5.jpg Z5547922611148_793b00be8f3385a236984507ea1413b4.jpg Z5547922592137_6e0c82d7662daef7d6093eb879f1c9a2.jpg Z5547922584614_25fd4f958afbba6a7a1e4a5b5ba14fc5.jpg Z5547940768588_fcb6f157dacd8274e8a9169ac6cd4c22.jpg Z5547940757126_7dd7723249b1fa5bcaac7fc0f61a7730.jpg Z5547921981851_835f3a4d0676ff63f0b1af949b5de289.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WELLCOME

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10

    DANH NGÔN VỀ ĐỌC SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH

    GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY

    Hoa Vẫn Nở Mỗi Ngày - Valérie Perrin _ Nguyễn Thị Tươi (dịch)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:31' 07-03-2024
    Dung lượng: 5.0 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Kính tặng mẹ cha, Francine và Yoan Perrin.
    Tặng Patricia Lopez “Paquita” và Sophie Daull.

    1
    Chỉ vắng một người, và mọi thứ đối với ta đều trở
    nên trống trải.
    Trích bài thơ “L'isolementt”, Alphonse de
    Lamartine.
    Các hàng xóm láng giềng của tôi chẳng sợ điều gì. Họ không
    có gì phải lo lắng, không phải lòng ai, không cắn móng tay,
    không tin vào thuyết ngẫu nhiên, không hứa hẹn, không gây
    ồn, không có bảo hiểm xã hội, không khóc lóc, không tìm chìa
    khóa, cũng không tìm kính, không tìm điều khiển, không tìm
    con cái, thậm chí không tìm kiếm cả hạnh phúc.
    Họ không đọc sách, không nộp thuế, không ăn kiêng giữ
    dáng, không có sở thích ưu tiên, không thay đổi ý kiến, không
    dọn giường, không hút thuốc, không lập danh sách, không uốn
    lưỡi bảy lần trong miệng trước khi nói. Họ không có người
    thay thế.
    Họ không xu nịnh, không tham vọng, không thù hằn,
    không điệu đà, không hẹp hòi ti tiện, không hào phóng, không
    ghen ghét, không cẩu thả, không sạch sẽ, không cao quý,
    không thú vị, không nghiện ngập, không hà tiện, không tươi
    cười, không ranh mãnh, không bạo lực, không yêu đương,

    không ưa rên rỉ, không đạo đức giả, không dịu dàng, không
    cứng rắn, không mềm yếu, không tàn nhẫn, không dối trá,
    không trộm cắp, không ham cờ bạc, không dũng cảm, không
    giả tạo, không sùng đạo, không tục tĩu, không lạc quan.
    Họ là người chết.
    Điểm khác biệt duy nhất giữa họ, chính là chất liệu gỗ
    dùng làm quan tài: gỗ sồi, gỗ thông hoặc gỗ gụ.

    2
    Người muốn tôi trở thành người thế nào, nếu tôi
    không còn nghe thấy tiếng bước chân người, là sự
    sống của người hay sự sống của tôi đã rời xa, tôi
    cũng không biết nữa.
    Trích bài thơ “Je respire où tu palpites”, Victor
    Hugo.
    Tôi tên là Violette Toussaint. Trước đây tôi là người gác ghi,
    giờ đây tôi là người quản trang.
    Tôi nhấm nháp cuộc sống, tôi uống nó từng ngụm nhỏ
    giống như ta uống trà nhài mật ong. Và tối đến, khi cổng vào
    nghĩa trang của tôi đã khóa kín, khi chùm chìa khóa đã được
    treo trên cánh cửa phòng tắm, tôi như đang ở thiên đường.
    Không phải thiên đường nơi các hàng xóm của tôi đang ở.
    Không đâu.
    Là thiên đường của người sống: một ngụm rượu Porto một nhãn rượu vang sản xuất năm 1983 -, mà José-Luis
    Fernandez mang cho tôi vào ngày 1 tháng Chín hằng năm.
    Một phần còn lại của kỳ nghỉ được rót vào một chiếc cốc nhỏ
    bằng pha lê, một thứ nắng thu mà tôi mở nắp vào khoảng 19
    giờ, dù trời mưa, có tuyết rơi, hay lộng gió.

    Lượng chất lỏng màu hồng ngọc đầy chừng hai cái đê
    khâu. Máu của những ruộng nho Porto. Tôi nhắm mắt. Và tôi
    tận hưởng. Chỉ một ngụm là đủ để tôi vui vẻ cả tối. Hai cái đê
    khâu là bởi tôi thích cảm giác say ngất ngây, chứ không thích
    rượu.
    José-Luis Fernandez tới đặt hoa trên mộ Maria Pinto, tức
    bà Fernandez (1956-2007) mỗi tuần một lần, ngoại trừ vào
    tháng Bảy, khi ấy chính tôi sẽ đảm nhiệm việc đó thay ông. Do
    đấy mới có chai rượu porto kia, như một lời cảm ơn dành cho
    tôi.
    Hiện tại của tôi là một món quà của Chúa trời. Đó là điều
    tôi tự nhủ với lòng mình mỗi sáng, khi mở mắt.
    Tôi đã từng rất bất hạnh, thậm chí bị hủy hoại. Không tồn
    tại. Trống rỗng. Tôi từng giống như các hàng xóm láng giềng
    hiện nay của tôi, nhưng tệ hơn. Các chức năng sống của tôi
    vẫn hoạt động, nhưng không có tôi ở bên trong. Không có sức
    nặng của tâm hồn, cái tâm hồn dường như luôn có khối lượng
    là hai mươi mốt gram, cho dù ta béo hay gầy, cao hay thấp, trẻ
    hay già.
    Nhưng vì chưa từng ưa thích đau khổ, nên tôi đã quyết
    định rằng chuyện đó sẽ không kéo dài thêm nữa. Nỗi đau khổ,
    nhất định nó phải chấm dứt vào một ngày nào đó.
    Tôi đã có một khởi đầu rất tệ. Tôi là một đứa trẻ được
    sinh ra từ một người mẹ vô danh, ra đời tại Ardennes, phía
    Bắc tỉnh, cái góc dính gần với nước Bỉ, nơi khí hậu được coi là
    mang tính chất “lục địa thoái biến” (lượng mưa rất lớn vào
    mùa thu và thường xuyên có băng giá vào mùa đông), nơi tôi

    tưởng tượng rằng con kênh của Jacques Brel chạy đến hút tầm
    mắt.
    Ngày chào đời, tôi không la hét. Vậy là người ta đặt tôi
    sang một bên, chẳng khác nào một gói hàng nặng 2,670 ki lô
    không có nhãn, không tên người nhận, trong lúc họ điền các
    loại giấy tờ hành chính để tuyên bố rằng tôi đã ra đi trước khi
    kịp đến thế giới này.
    Chết lưu. Một đứa trẻ không sự sống, không mang họ.
    Nữ hộ sinh phải nhanh chóng tìm cho tôi một cái tên để
    điền vào các ô trống, bà đã chọn Violette.
    Tôi hình dung rằng khi đó tôi tím ngắt từ đầu đến chân.
    Khi tôi đổi màu, khi da tôi chuyển sang hồng hào và bà
    phải điền thông tin vào một tờ giấy chứng sinh, bà đã không
    đổi tên cho tôi.
    Người ta đặt tôi lên một cái lò sưởi. Làn da tôi được sưởi
    ấm. Vùng bụng của mẹ tôi, vốn chưa từng muốn có tôi, hẳn đã
    khiến tôi đóng băng. Hơi ấm đã đưa tôi về lại với ban ngày.
    Chắc là vì thế mà tôi yêu thích mùa hè đến vậy, tôi không bao
    giờ bỏ lỡ bất kỳ dịp nào để hứng lấy tia nắng đầu tiên rọi
    xuống, chẳng khác nào một đóa hướng dương.
    Họ thời con gái của tôi là Trenet, giống như Charles. Sau
    cái tên Violette, có lẽ vẫn là nữ hộ sinh đó đã cho tôi cái họ ấy.
    Hẳn là bà ấy yêu thích Charles. Như đến lượt tôi yêu thích
    ông. Suốt một thời gian dài, tôi đã coi ông như một người họ
    hàng xa, một kiểu ông chú người Mỹ mà tôi chẳng bao giờ
    được gặp. Khi ta yêu một ca sĩ, vì suốt ngày hát những bài hát

    của anh ta, ta sẽ có một thứ có thể được gọi là quan hệ bà con
    họ hàng, đại loại thế.
    Cái họ Toussaint là sau này tôi mới mang. Khi tôi kết hôn
    với Philippe Toussaint. Với một cái họ như thế, lẽ ra tôi đã
    phải đề phòng. Nhưng có những người mang họ Printemps

    5

    mà vẫn đánh vợ như thường đấy thôi. Một cái họ hay ho
    không ngăn cản ai đó trở thành một kẻ khốn.
    Tôi không bao giờ thấy nhớ mẹ. Ngoại trừ những khi bị
    sốt. Khi khỏe mạnh, tôi lớn lên. Tôi vổng lên như thể sự thiếu
    vắng cha mẹ đã mang lại cho tôi một cái cọc đỡ gắn dọc cột
    sống. Tôi luôn đứng thẳng. Đó là một đặc điểm riêng ở tôi. Tôi
    chưa từng khom lưng. Kể cả trong những ngày đau buồn. Mọi
    người hỏi tôi khá thường xuyên là tôi có luyện khiêu vũ cổ
    điển không. Tôi trả lời rằng không. Rằng chính cuộc sống
    hằng ngày đã đưa tôi vào khuôn khổ, bắt tôi đu xà và nhón
    chân mỗi ngày.

    3
    Cứ để họ bắt tôi hoặc bắt người thân của tôi đi, bởi
    vì tất cả các nghĩa trang rồi một ngày sẽ là những
    hoa viên.
    Theo lời bài hát “Les enfants lune”, Damien Saez.
    Năm 1997, khi trạm gác ghi của chúng tôi được tự động hóa,
    vợ chồng tôi đã mất việc. Chúng tôi được lên báo. Chúng tôi
    đại diện cho những nạn nhân liên đới cuối cùng của tiến bộ kỹ
    thuật, những công nhân điều khiển trạm gác ghi thủ công cuối
    cùng của nước Pháp. Để minh họa cho bài báo, phóng viên đã
    chụp ảnh chúng tôi. Philippe Toussaint thậm chí còn choàng
    một tay quanh eo tôi khi tạo dáng. Mặc dù tôi đang mỉm cười,
    nhưng Chúa ơi, mắt tôi trong bức ảnh đó mới buồn làm sao.
    Ngày bài báo được đăng, Philippe Toussaint rầu rĩ như đã
    chết cả tâm hồn khi từ cơ quan ANPE quá cố trở về: anh ta
    vừa nhận ra rằng anh ta sắp phải làm việc. Anh ta đã quen với
    việc tôi làm tất cả thay cho anh ta. Nếu xét về khoản lười
    biếng, thì tôi đã trúng số độc đắc khi lấy Philippe. Tôi đã chọn
    đúng cả dãy số, để rồi nhận được giải jackpot.
    Để giúp Philippe lấy lại tinh thần, tôi đưa cho anh ta một
    tờ giấy: “Quản trang, một nghề của tương lai”. Anh ta nhìn tôi

    như thể tôi vừa bị mất trí. Vào năm 1997, ngày nào anh ta
    cũng nhìn tôi như thể tôi bị mất trí. Phải chăng một người đàn
    ông không còn tình yêu sẽ nhìn người phụ nữ anh ta từng yêu
    như thể cô ta bị mất trí?
    Tôi giải thích với anh ta rằng tôi tình cờ nhặt được tờ
    quảng cáo này. Rằng tòa thị chính Brancion-en-Chalon đang
    tìm kiếm một cặp vợ chồng quản trang để trông nom cho nghĩa
    trang của họ. Và rằng người chết họ có giờ giấc sinh hoạt ổn
    định và ít gây ồn hơn so với những đoàn tàu. Rằng tôi đã nói
    chuyện với thị trưởng, ông ấy sẵn sàng tuyển dụng chúng tôi
    ngay lập tức.
    Chồng tôi không tin tôi. Anh ta nói với tôi rằng anh ta
    không tin vào sự tình cờ. Rằng anh ta thà chết còn hơn là đi
    đến “nơi đó” và làm cái nghề của loài kền kền ăn xác thối ấy.
    Anh ta bật ti vi rồi chơi trò Mario 64. Mục tiêu của trò
    chơi, đó là hái cho được toàn bộ sao ở từng chặng. Còn tôi, chỉ
    có một ngôi sao duy nhất tôi muốn hái: ngôi sao may mắn. Đó
    là điều tôi đã nghĩ khi nhìn thấy Mario chạy khắp nơi để giải
    cứu công chúa Peach bị Bowser bắt cóc.
    Thế là tôi bắt đầu nằn nì. Tôi nói với anh ta rằng khi trở
    thành quản trang, mỗi người chúng tôi sẽ có một khoản lương,
    mà còn hậu hơn lương gác ghi, rằng người chết giúp chúng tôi
    kiếm khá hơn những đoàn tàu. Rằng chúng tôi sẽ có một căn
    nhà công vụ rất xinh xắn mà không phải trả tiền thuê. Rằng
    chúng tôi sẽ được thay đổi, rời khỏi căn nhà nơi chúng tôi đã
    sống suốt nhiều năm, một căn nhà tồi tàn ngấm nước chẳng
    khác nào một cái thuyền cũ vào mùa đông và ấm nóng chẳng

    khác nào cực Bắc vào mùa hè. Rằng đó sẽ là một khởi đầu mới
    và chúng tôi cần sự khởi đầu ấy, rằng chúng tôi sẽ treo những
    tấm rèm xinh xắn ở cửa sổ để không còn nhìn thấy những
    người hàng xóm, những cây thập giá, những bà góa và tất tần
    tật những thứ khác. Rằng những tấm rèm đó sẽ là ranh giới
    giữa cuộc sống của chúng tôi và nỗi buồn của những người
    khác. Lẽ ra tôi có thể nói sự thật với anh ta, rằng những tấm
    rèm đó sẽ là ranh giới ngăn giữa nỗi buồn của tôi và nỗi buồn
    của những người khác. Nhưng nhất định không được nói thế.
    Không nói gì cả. Khiến anh ta tin tưởng. Giả vờ. Để anh ta
    nhượng bộ.
    Để chốt hạ màn thuyết phục, tôi hứa với Philippe là anh ta
    sẽ KHÔNG PHẢI LÀM GÌ CẢ. Rằng ba phu đào huyệt đã
    phụ trách hết công việc tu sửa, đào huyệt và quy hoạch khu
    nghĩa trang. Rằng công việc của quản trang chỉ đơn giản là mở
    và đóng cổng. Là hiện diện. Với giờ giấc làm việc không hề
    phiền toái. Những kỳ nghỉ và những kỳ cuối tuần dài dằng dặc
    như cây cầu cạn Valserine. Và rằng tôi, tôi sẽ làm những việc
    còn lại. Tất cả những việc còn lại.
    Super Mario đã ngừng chạy. Nàng công chúa đã ngã
    xuống vách núi.
    Trước khi đi ngủ, Philippe Toussaint đọc lại tờ quảng cáo:
    “Quản trang, một nghề của tương lai”.
    Trạm gác ghi của chúng tôi hồi ấy nằm ở Malgrange-surNancy. Vào thời kỳ ấy trong cuộc đời tôi, tôi không hề sống.
    “Vào thời kỳ ấy trong sự chết của tôi” có lẽ sẽ đúng hơn. Tôi
    thức dậy, tôi mặc quần áo, tôi làm việc, tôi đi chợ, tôi ngủ. Với

    một viên thuốc ngủ. Thậm chí là hai viên. Thậm chí là nhiều
    hơn. Và tôi nhìn chồng tôi đang nhìn tôi như thể tôi bị mất trí.
    Giờ giấc làm việc của tôi hồi ấy phiền hà khủng khiếp.
    Tôi hạ rồi nâng thanh chắn gần mười lăm lần mỗi ngày, khắp
    các ngày trong tuần. Chuyến tàu đầu tiên chạy qua lúc 4h50 và
    chuyến cuối cùng lúc 23h04. Tôi như đã cài đặt tự động tiếng
    chuông của thanh chắn trong đầu. Tôi nghe thấy nó trước cả
    khi nó vang lên. Cái nhịp điệu địa ngục ấy, lẽ ra chúng tôi có
    thể chia sẻ, thay phiên nhau đảm trách. Nhưng thứ duy nhất
    mà Philippe Toussaint có thể đảm trách được, đó là chiếc xe
    mô tô và thân thể đám tình nhân của anh ta.
    Ôi chao, những hành khách mà tôi nhìn thấy đi qua mới
    khiến tôi ước ao biết bao. Tuy nhiên, đó chỉ là những đoàn tàu
    nhỏ thuộc tỉnh lẻ nối Nancy với Épinal, và chúng dừng lại cả
    chục lần mỗi chuyến, tại những thị trấn nghèo khổ, để phục vụ
    dân bản địa. Tuy nhiên, tôi ghen tị với những người đàn ông
    và đàn bà ấy. Tôi hình dung là họ đang đi đến những cuộc hẹn,
    những cuộc hẹn mà tôi cũng muốn có, giống như những hành
    khách mà tôi nhìn thấy lướt qua trước mặt.

    Chúng tôi lên đường nhắm đến Bourgogne ba tuần sau khi bài
    viết kia xuất hiện trên mặt báo. Chúng tôi đã chuyển từ nơi
    xám xịt sang nơi xanh mướt. Từ đường nhựa đến đồng cỏ, từ
    mùi hắc ín của đường sắt đến mùi của nông thôn.
    Chúng tôi đến nghĩa trang Brancion-en-Chalon ngày 15

    tháng Tám năm 1997. Nước Pháp đang trong kỳ nghỉ hè. Toàn
    bộ dân cư đi vắng cả. Những con chim thường bay từ ngôi mộ
    này sang ngôi mộ khác không còn bay nữa. Lũ mèo thường
    duỗi mình giữa những bình hoa đã biến mất. Thậm chí, trời đã
    trở nên quá nóng đối với lũ kiến và thằn lằn, những mặt đá
    cẩm thạch bị nắng rọi nóng bỏng. Ba phu đào huyệt đang nghỉ
    hè, cả những người mới chết cũng thế. Tôi một mình lang
    thang giữa những lối đi, đọc tên những con người mà tôi chưa
    từng quen biết. Tuy nhiên, tôi lập tức cảm thấy dễ chịu ở nơi
    này. Ở chỗ dành cho tôi.

    4
    Sinh linh là vĩnh hằng, cuộc đời chỉ là một chặng
    ghé qua, ký ức vĩnh cửu sẽ là thông điệp của cuộc
    đời ấy.
    Khi đám trẻ mới lớn không nhét kẹo cao su vào lỗ khóa, chính
    tôi là người mở và đóng cánh cổng nặng nề của nghĩa trang.
    Giờ mở cửa thay đổi theo mùa.
    Từ 8 giờ đến 19 giờ từ ngày 1 tháng Ba đến ngày 31 tháng
    Mười.
    Từ 9 giờ đến 17 giờ từ ngày 2 tháng Mười một đến ngày
    28 tháng Hai.
    Không ai quy định gì cho ngày 29 tháng Hai.
    Từ 7 giờ đến 20 giờ ngày 1 tháng Mười một.
    Tôi tiếp quản công việc của chồng tôi sau khi anh ta ra đi
    - hay chính xác hơn là từ khi anh ta biến mất. Philippe
    Toussaint xuất hiện với ghi chú “mất tích đáng ngờ” trong hồ
    sơ quốc gia của cảnh sát.
    Vẫn còn nhiều người đàn ông khác xung quanh tôi. Ba
    phu đào huyệt, Nono, Gaston và Elvis. Ba nhân viên tang lễ,
    tức ba anh em nhà Lucchini có tên lần lượt là Pierre, Paul và

    Jacques, cùng cha xứ Cédric Duras. Tất cả những người đàn
    ông này ghé qua nhà tôi nhiều lượt mỗi ngày. Họ đến uống
    một ly rượu, hoặc nhâm nhi một món ăn vặt. Họ còn giúp tôi
    chăm sóc vườn rau, khi tôi cần mang những bao đất trồng ra
    vườn, hoặc sửa lại đường ống nước bị rò. Tôi coi họ như
    những người bạn, chứ không phải như những đồng nghiệp.
    Cho dù tôi không có ở đó, họ vẫn có thể vào bếp nhà tôi, rót
    một cốc cà phê, uống xong, rửa cốc rồi rời đi.
    Phu đào huyệt làm cái công việc khiến người ta xa lánh,
    ghê tởm. Tuy nhiên, ba phu đào huyệt ở nghĩa trang của tôi là
    những người dịu dàng và dễ chịu nhất mà tôi từng biết.
    Nono là người tôi tin tưởng nhất. Đó là một người đàn
    ông thẳng thắn, có niềm vui sống từ trong máu. Bất cứ thứ gì
    cũng khiến anh thích thú, và anh không bao giờ nói không.
    Trừ phi anh phải tham dự tang lễ một đứa trẻ. Anh để “việc
    đó” cho những người khác. “Những người có đủ dũng khí”
    như anh thường nói. Nono trông giống Georges Brassens,
    nhận xét ấy khiến anh phá lên cười, bởi vì tôi là người duy
    nhất trên thế giới nói với anh rằng trông anh giống Georges
    Brassens.
    Còn Gaston, anh chính là người sáng tạo ra sự vụng về.
    Cử chỉ của anh lúc nào cũng lệch đi. Lúc nào trông anh cũng
    như đang say rượu, mặc dù anh chỉ uống nước. Trong các lễ an
    táng, anh đứng giữa Nono và Elvis, phòng khi anh bị mất
    thăng bằng. Dưới chân Gaston, luôn thường trực một vụ động
    đất. Anh xô người khác ngã, anh tự ngã, anh xô đổ đồ đạc, anh
    giẫm nát thứ gì đó. Khi Gaston vào nhà tôi, tôi luôn lo sợ anh
    làm hỏng thứ gì đó hoặc tự làm mình bị thương. Và bởi vì nỗi

    lo sợ không xua được rủi ro, nên lần nào anh cũng đánh vỡ
    một cái cốc hoặc tự làm mình bị thương.
    Còn Elvis, tất cả mọi người đều gọi anh là Elvis vì Elvis
    Presley. Anh không biết đọc cũng không biết viết, nhưng lại
    thuộc lòng toàn bộ các bài hát của thần tượng. Anh phát âm lời
    hát rất tệ, chúng tôi không bao giờ biết được anh đang hát
    tiếng Anh hay tiếng Pháp, nhưng tâm hồn anh đặt cả vào bài
    hát. “Love mi tendeur, love mi trou…”
    Anh em nhà Lucchini chỉ hơn kém nhau một tuổi, ba
    mươi tám, ba mươi chín và bốn mươi. Họ làm nhân viên tang
    lễ theo kiểu cha truyền con nối, đã từ nhiều thế hệ. Họ cũng là
    những chủ nhân may mắn của nhà xác Brancion, tòa nhà nằm
    sát cạnh cửa hàng của họ. Nono kể với tôi rằng chỉ có một
    cánh cửa sập ngăn cửa hàng với nhà xác. Chính Pierre, anh cả,
    là người đón tiếp tang gia. Paul phụ trách trang điểm cho
    người chết. Anh làm việc trong tầng hầm. Còn Jacques là tài
    xế lái xe đòn. Chuyến đi cuối cùng, anh là người đảm nhận.
    Nono gọi họ là “các tông đồ”.
    Ngoài ra, còn có cha xứ của chúng tôi, Cédric Duras.
    Chúa trời thật có khiếu sắp đặt, mặc dù không phải lúc nào
    cũng chính xác. Từ khi cha Cédric đến, hình như có nhiều phụ
    nữ trong vùng bị ấn tượng mạnh trước khải huyền thần thánh.
    Dường như ngày càng có nhiều tín đồ nữ hiện diện trên các
    băng ghế ở nhà thờ vào sáng Chủ nhật.
    Tôi thì không bao giờ đến nhà thờ. Làm thế chẳng khác
    nào ngủ với một nữ đồng nghiệp. Tuy nhiên, tôi nghĩ tôi đón
    nhận tâm sự của những người ghé qua nhà tôi còn nhiều hơn

    cha Cédric nhận được trong phòng xưng tội của ông. Chính
    trong căn nhà khiêm tốn của tôi và những lối đi trong nghĩa
    trang mà các gia đình dốc bầu tâm sự. Lúc đến, lúc đi, đôi khi
    là cả hai. Gần giống như những người quá cố. Với họ thì chính
    sự im lặng, những tấm bia mộ, những chuyến viếng thăm,
    những bông hoa, những bức ảnh, cách thức hành xử của những
    người đến nghiêng mình trước mộ họ, là những điều kể với tôi
    về cuộc đời trước đây của họ. Cuộc đời khi họ còn sống. Còn
    chuyển động.
    Nghề nghiệp của tôi đòi hỏi phải kín đáo, thích giao tiếp,
    không lòng trắc ẩn. Không lòng trắc ẩn, đối với một phụ nữ
    như tôi, cũng giống như trở thành nhà du hành vũ trụ, bác sĩ
    phẫu thuật, chuyên gia núi lửa hoặc nhà nghiên cứu về di
    truyền học. Nó không nằm trong hành tinh tôi sống, cũng
    không thuộc khả năng của tôi. Nhưng tôi không bao giờ khóc
    trước mặt một người khách viếng thăm nghĩa trang. Thỉnh
    thoảng tôi khóc trước hoặc sau một lễ an táng, nhưng không
    bao giờ tôi khóc trong buổi lễ. Nghĩa trang của tôi đã có từ ba
    thế kỷ nay. Người quá cố đầu tiên được đón nhận tại đây là
    một phụ nữ. Diane de Vigneron (1756-1773), bà chết trong lúc
    sinh con, ở tuổi mười chín. Nếu lướt đầu ngón tay lên bia mộ
    của bà, ta vẫn có thể đoán thấy tên bà khắc trên lớp đá thô
    nhám. Bà không bị cải táng, mặc dù nghĩa trang của tôi đang
    thiếu chỗ. Không có bất kỳ người nào trong các đời thị trưởng
    dám đưa ra quyết định quấy rầy con người đầu tiên được chôn
    ở đây. Nhất là khi quanh Diane còn có một huyền thoại xưa cũ.
    Theo người dân trong vùng Brancion, dường như bà đã nhiều
    lần xuất hiện trong “trang phục ánh sáng” của bà, đằng trước

    cửa kính các cửa hàng ở trung tâm thành phố và trong nghĩa
    trang. Khi đến các hội chợ bán đồ cũ trong vùng, thỉnh thoảng
    tôi có nhìn thấy hình ảnh của bà Diane được thể hiện như một
    bóng ma trên những bức tranh khắc cổ xưa có từ thế kỷ 18,
    hoặc trên những tấm bưu thiếp. Một bà Diane giả được dựng
    lên, cải trang thành một con ma tầm thường giả hiệu.
    Có nhiều huyền thoại xung quanh các nấm mồ. Người
    sống thường xuyên sáng tác lại cuộc đời của những người đã
    chết.
    Có một huyền thoại nữa ở Brancion, mới hơn rất nhiều so
    với huyền thoại Diane de Vigneron. Bà tên là Reine Ducha
    (1961-1982), bà được chôn trong nghĩa trang của tôi, hàng thứ
    15, trong khu Bá Hương. Một cô gái trẻ xinh xắn tóc nâu tươi
    cười trong bức ảnh gắn trên bia mộ. Bà chết khi đang lái xe, ở
    cửa ngõ thành phố. Hình như đám thanh niên thường nhìn thấy
    bà bên vệ đường, mặc toàn đồ trắng, ở địa điểm xảy ra vụ tai
    nạn.
    Huyền thoại về “các bà áo trắng” đã lan khắp thế giới. Có
    vẻ như những bóng ma nữ chết bất đắc kỳ tử đã ám ảnh thế
    giới của người sống, kéo lê linh hồn đau khổ của họ trong các
    tòa lâu đài và các nghĩa trang.
    Và để tăng thêm sự kỳ bí của huyền thoại về Reine thì mộ
    của bà đã phải di chuyển. Theo Nono và anh em nhà Lucchini,
    đó là hậu quả của tình trạng sạt đất. Điều đó thường xảy ra khi
    có quá nhiều nước tích tụ trong một hầm mộ.
    Trong vòng hai mươi năm, tôi nghĩ mình đã chứng kiến
    rất nhiều chuyện trong nghĩa trang, thậm chí có những đêm tôi

    bắt gặp những cái bóng đang làm tình trên hoặc giữa các ngôi
    mộ, nhưng đó không phải là những bóng ma.
    Ngoại trừ các huyền thoại, không có gì là vĩnh cửu, kể cả
    những phần mộ mua quyền sở hữu lâu dài. Ta có thể mua một
    mộ phần trong vòng mười lăm năm, ba mươi năm, năm mươi
    năm hoặc vĩnh viễn. Chỉ có điều trong trường hợp mua vĩnh
    viễn, ta phải đề phòng: nếu sau một giai đoạn ba mươi năm mà
    một mộ phần mua vĩnh viễn không còn được chăm sóc (bề
    ngoài xuống cấp xấu xí) và đã rất lâu không có người nào
    được chôn thêm vào đó, thì chính quyền có thể thu hồi; phần
    xương cốt còn lại sẽ được bỏ vào một hầm hài cốt ở cuối nghĩa
    trang.
    Từ khi đến đây, tôi đã chứng kiến nhiều phần mộ quá hạn
    bị tháo dỡ và dọn dẹp, còn xương người quá cố được đưa vào
    hầm hài cốt. Và không có ai nói gì hết. Bởi vì những người
    quá cố ấy được coi như những đồ vật mà người ta tìm thấy,
    nhưng lại chẳng còn ai đề nghị nhận lại nữa.
    Luôn là như thế với cái chết. Thời điểm nó xảy ra càng lùi
    xa, thì nó càng ít tác động đến người sống. Thời gian hủy hoại
    cuộc sống. Thời gian gặm mòn cái chết.
    Tôi cùng ba phu đào huyệt làm tất cả để không bao giờ bỏ
    rơi một phần mộ nào. Chúng tôi không chịu đựng nổi cảnh
    phải nhìn thấy người ta dán lên bia mộ một tờ thông báo của
    tòa thị chính: “Phần mộ này đang nằm trong quy trình thu hồi.
    Đề nghị liên hệ gấp với tòa thị chính, xin cảm ơn.” Trong khi
    tên của người quá cố yên nghỉ bên dưới vẫn hiển hiện trên đó.
    Chắc hẳn là vì thế mà trong các nghĩa trang ngập tràn văn

    bia. Để xua đuổi số phận trôi chảy của thời gian. Bấu víu vào
    những kỷ niệm. Dòng tưởng niệm mà tôi thích nhất là: “Cái
    chết bắt đầu khi không ai còn khả năng mơ về bạn.” Nó được
    ghi trên mộ của một nữ y tá trẻ, Marie Deschamps, qua đời
    năm 1917. Hình như một người lính đã dựng tấm bia này vào
    năm 1919. Mỗi khi đi qua mộ bà, tôi tự hỏi liệu ông có mơ về
    bà lâu không.
    “Cho dù anh làm gì, cho dù em ở nơi nào, không gì xóa
    mờ được em, anh nghĩ đến em” của Jean-Jacques Goldman và
    “Những ngôi sao chỉ trò chuyện với nhau về em” của Francis
    Cabrel là những câu hát được ghi lại nhiều nhất trên các tấm
    bia.
    Nghĩa trang của tôi rất đẹp. Hai bên các lối đi trồng những
    hàng cây đoạn trăm tuổi. Phần lớn các ngôi mộ đều có hoa.
    Đằng trước căn nhà công vụ nhỏ, tôi có bán vài chậu hoa.
    Và khi không thể bán được chúng, tôi sẽ tặng chúng cho
    những ngôi mộ bị bỏ rơi.
    Tôi cũng trồng cả thông nữa. Vì chúng tỏa hương thơm
    vào mùa hè. Đó là mùi hương tôi yêu thích nhất.
    Tôi trồng thông vào năm 1997, năm chúng tôi đến đây.
    Chúng đã cao lên rất nhiều, và mang lại cho nghĩa trang của
    tôi một dáng vẻ đẹp đẽ. Quản trang chính là chăm sóc cho
    những người quá cố đang yên nghỉ ở đó. Chính là tôn trọng
    họ. Và nếu không được tôn trọng khi còn sống, ít nhất họ cũng
    được như thế khi nằm xuống.
    Tôi tin chắc rằng có nhiều kẻ khốn đang yên nghỉ ở đây.
    Nhưng cái chết không phân biệt giữa người tốt và kẻ xấu. Với

    lại, trong đời mình, ai chẳng ít nhất một lần từng là kẻ khốn
    kiếp?

    Trái ngược với tôi, Philippe Toussaint lập tức ghét nghĩa trang
    này, thành phố nhỏ này, vùng Bourgogne, nông thôn, những
    phiến đá cũ kỹ, những con bò sữa màu trắng, và cả con người
    nơi đây.
    Tôi còn chưa dỡ xong những thùng các tông đựng đồ
    chuyển đến thì anh ta đã xách mô tô đi suốt từ sáng đến tối. Và
    vài tháng sau, có những lần anh ta bỏ đi suốt nhiều tuần liền.
    Cho đến cái ngày anh ta không quay về nữa. Cảnh sát không
    hiểu tại sao tôi không thông báo việc anh ta mất tích sớm hơn.
    Tôi không bao giờ nói với họ rằng anh ta đã biến mất nhiều
    năm nay, kể cả khi anh ta vẫn ăn tối cùng bàn với tôi. Tuy
    nhiên, sau chừng một tháng, khi hiểu ra rằng anh ta sẽ không
    quay về nữa, tôi vẫn cảm thấy mình bị bỏ rơi, chẳng khác nào
    những phần mộ mà tôi vẫn đều đặn quét dọn. Cũng xám xịt, tẻ
    nhạt và chông chênh như thế. Sẵn sàng bị phá dỡ, và những gì
    còn lại của tôi sẽ bị vứt vào hầm hài cốt.

    5
    Cuốn sách cuộc đời là cuốn sách tối cao, mà ta
    không thể đóng hay mở lại theo ý mình, ta những
    muốn quay trở lại trang nơi ta yêu, ấy thế mà trang
    nơi ta chết đã nằm ngay dưới ngón tay ta.
    Trích từ Vers sur un album, Alphonse de
    Lamartine.
    Tôi gặp Philippe Toussaint tại Tibourin, một hộp đêm ở
    Charleville-Mézières vào năm 1985.
    Philippe Toussaint đứng tì khuỷu tay lên mặt quầy. Còn
    tôi, khi đó tôi là nhân viên phục vụ. Tôi làm nhiều công việc
    lặt vặt bằng cách nói dối tuổi của mình. Một cậu bạn trong
    trung tâm bảo trợ nơi tôi sống đã làm giả giấy tờ cho tôi, để
    biến tôi thành người thành niên.
    Tôi không có tuổi chính xác. Tôi có thể mười bốn tuổi,
    cũng có thể đã hai mươi lăm. Tôi chỉ mặc quần jean và áo
    thun, cắt tóc ngắn và đeo khuyên khắp nơi. Cả ở mũi. Tôi nhỏ
    bé và vẽ viền mắt bằng phấn đen để tạo cho bản thân một
    phong cách giống với Nina Hagen. Tôi vừa bỏ học. Tôi còn
    chưa đọc thông viết thạo. Nhưng tôi biết đếm. Tôi đã trải qua
    nhiều chặng đời và chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm việc

    để trả tiền thuê nhà và rời khỏi trung tâm càng sớm càng tốt.
    Sau đó, tôi sẽ tính tiếp.
    Vào năm 1985, thứ duy nhất tử tế ở tôi là hàm răng. Trong
    suốt thời thơ ấu, tôi vẫn luôn bị ám ảnh với việc có được hàm
    răng trắng đẹp như những cô gái trong các tạp chí. Khi nhân
    viên giáo dục đến các gia đình đón nhận và hỏi tôi có cần thứ
    gì không, tôi luôn đề nghị được đến phòng khám nha khoa, cứ
    như thể số phận và toàn bộ cuộc đời tôi phụ thuộc vào nụ cười
    mà tôi sẽ trưng ra.
    Tôi không có bạn gái, vì tôi quá giống con trai. Thay vào
    đó, tôi gắn bó với các xơ, nhưng những lần chia cắt lặp đi lặp
    lại, việc thường xuyên thay đổi gia đình đón nhận đã phá hủy
    tôi. Đừng bao giờ gắn bó. Tôi tự nhủ việc để tóc ngắn sẽ bảo
    vệ tôi, sẽ khiến tôi có tâm hồn và sự gan góc của một đứa con
    trai. Kết quả là đám con gái tránh né tôi. Tôi đã ngủ với đám
    con trai để giống như tất cả mọi người, nhưng chẳng có gì thú
    vị, tôi đã thất vọng, tôi thấy chuyện đó chẳng có gì hay ho. Tôi
    làm chuyện đó để đánh lừa, hoặc để đổi lấy quần áo, một cái
    kẹp tóc vớ vẩn, một tấm vé vào đâu đó, một bàn tay siết lấy
    tay tôi. Tôi ưa thích thứ tình yêu trong những câu chuyện cổ
    tích trẻ con, những câu chuyện mà chưa từng có ai kể cho tôi
    nghe. “Họ cưới nhau và có rất, rất, rất nhiều…”
    Tì khuỷu tay trên bàn quầy, Philippe Toussaint vừa quan
    sát đám bạn của anh ta đang nhảy trên sàn vừa nhấm nháp một
    ly whisky-Coca không đá. Anh ta có khuôn mặt đẹp như thiên
    thần. Một kiểu Michel Berger phiên bản tô màu. Những lọn
    tóc dài vàng óng, đôi mắt xanh, làn da trắng sáng, chiếc mũi
    khoằm, khuôn miệng như quả dâu tây… sẵn sàng để bị ngấu

    nghiến, một quả dâu tây chín mọng vào tháng Bảy. Anh ta mặc
    quần jean, áo thun trắng và áo blu dông da màu đen. Anh ta
    cao lớn, vạm vỡ, hoàn hảo. Vừa nhìn thấy anh ta, tim tôi đã
    nện thình thịch giống hệt như ca từ trong bài hát của ông chú
    tưởng tượng của tôi, Charles Trenet. Với tôi, Philippe
    Toussaint sẽ có được mọi thứ miễn phí, kể cả những ly
    whisky-Coca mà anh ta nhấm nháp.
    Anh ta chẳng cần làm gì cũng có thể hôn đám con gái tóc
    vàng xinh đẹp xúm xít xung quanh. Chẳng khác nào bầy ruồi
    bu quanh một mẩu thịt ôi. Philippe Toussaint có vẻ không
    quan tâm đến bất cứ chuyện gì. Anh ta để mặc mọi người
    muốn làm gì thì làm. Để có được những gì mình muốn, anh ta
    chẳng cần phải động một ngón tay, ngoại trừ để thỉnh thoảng
    nâng ly rượu lên môi, giữa hai nụ hôn sáng ánh huỳnh quang.
    Anh ta quay lưng về phía tôi. Khi nhìn anh ta, tôi chỉ thấy
    những lọn tóc vàng chuyển từ màu xanh lá sang đỏ rồi xanh lơ
    dưới ánh đèn chiếu. Ánh mắt tôi la cà trên mái tóc anh ta đến
    cả tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng, anh ta nghiêng người về phía
    một cô nàng đang thì thầm điều gì đó vào tai anh ta, và tôi
    ngắm nghía khuôn mặt nhìn nghiêng hoàn hảo ấy.
    Thế rồi, anh ta xoay người về phía quầy bar, và ánh mắt
    anh ta đậu lên tôi để rồi không chịu nhả ra nữa. Kể từ lúc đó,
    tôi trở thành thứ đồ chơi ưa thích nhất của anh ta.
    Lúc đầu, tôi nghĩ anh ta quan tâm đến tôi là vì lượng rượu
    miễn phí mà tôi rót vào cốc anh ta. Trong lúc rót rượu cho
    Philippe, tôi cố không để anh ta nhìn thấy bộ móng tay mà tôi
    gặm nhấm nham nhở, chỉ phô ra hàm răng trắng và đều tăm

    tắp. Tôi nghĩ anh ta có vẻ là con nhà tử tế. Đối với tôi, ngoại
    trừ đám thanh niên trong trung tâm bảo trợ, tất cả mọi người
    dù trai hay gái đều có vẻ là con nhà tử tế cả.
    Một đám gái ăn chơi thành thị nghẽn lại sau lưng anh ta.
    Chẳng khác nào ở một khúc quanh trên xa lộ Mặt Trời vào
    ngày đông người đi nghỉ hè. Nhưng anh ta vẫn tiếp tục liếc
    nhìn tôi, nỗi ham muốn dâng đầy trong mắt. Tôi tựa người vào
    bàn quầy, đối diện với anh ta, để chắc chắn rằng tôi chính là
    người mà anh ta đang nhìn. Tôi cắm một chiếc ống hút vào
    cốc của anh ta. Tôi ngước mắt nhìn lên. Đúng là anh ta đang
    nhìn tôi.
    Tôi hỏi anh ta: “Anh có muốn uống thứ gì khác không?”
    Tôi không nghe thấy câu trả lời của anh ta. Tôi liền lại gần
    hơn, hét lên: “Cái gì cơ?” Anh ta ghé sát vào tai tôi, rồi bảo:
    “Em.”
    Tôi lén rót cho mình một cốc bourbon. Uống xong một
    ngụm, tôi không còn đỏ mặt nữa, uống xong hai ngụm tôi cảm
    thấy rất thoải mái, và sau ba ngụm thì tôi đã có thừa dũng khí.
    Tôi lại ghé sát tai anh ta và trả lời: “Sau khi tôi hết ca, chúng
    ta có thể uống cùng nhau.”
    Anh ta mỉm cười. Hàm răng anh ta cũng giống hàm răng
    tôi, trắng và đều tăm tắp.
    Tôi tự nhủ cuộc đời tôi sắp thay đổi khi Philippe Toussaint
    đưa tay qua mặt bàn quầy để khẽ vuốt cánh tay tôi. Tôi cảm
    thấy làn da tôi căng lên, như thể nó đã có một dự cảm nào đó.
    Anh ta hơn tôi mười tuổi. Sự khác biệt về tuổi tác nâng anh ta
    lên một tầm cao mới. Tôi có cảm giác mình là một con bướm

    đang ngắm một ngôi sao.

    6
    Vì đã đến giờ, khi mọi người ở trong mồ mả nghe
    tiếng Ngài và ra khỏi.
    Jean, 5:28, 29 / Kinh Thánh.
    Có ai đó khẽ gõ cửa nhà tôi. Tôi không chờ ai đến, vả lại tôi
    cũng chẳng còn chờ đợi ai từ lâu lắm rồi.
    Có hai cửa vào nhà tôi, một cửa từ phía nghĩa trang, cửa
    còn lại từ phía mặt đường. Éliane bắt đầu sủa và chạy về cánh
    cửa phía mặt đường. Bà chủ của nó, Marianne Ferry (19532007), đang yên nghỉ tại khu Phu Danh. Éliane đến đây vào
    ngày chôn cất bà, và không bao giờ rời đi nữa. Những tuần
    đầu tiên, tôi mang đồ ăn đến mộ bà chủ cho nó, rồi dần dần nó
    theo tôi về tận nhà. Nono đặt tên cho nó là Éliane giống tên
    nhân vật mà Isabelle Adjani thủ vai trong Mùa hè sát nhân,
    bởi vì nó có đôi mắt rất đẹp màu xanh, và bà chủ nó qua đời
    vào tháng Tám.
    Trong vòng hai mươi năm, đã có ba con chó đến với tôi
    cùng lúc với chủ của chúng, rồi trở thành chó của tôi do hoàn
    cảnh xô đẩy, nhưng bây giờ tôi chỉ còn lại một mình Éliane.
    Tiếng gõ cửa lại vang lên. Tôi lưỡng lự không biết có nên
    mở hay không. Mới 7 giờ sáng. Tôi đang vừa nhấm nháp cốc

    trà vừa đậy lại hộp bánh quy bơ mặn và hũ mứt dâu quà tặng
    của Suzanne Clerc, chồng bà (1933-2007) đang yên nghỉ trong
    khu Bá Hương. Tôi đang nghe nhạc. Ngoại trừ những giờ
    nghĩa trang mở cửa, tôi luôn nghe nhạc.
    Tôi đứng dậy và tắt đài.
    – Ai đấy?
    Một giọng đàn ông ngập ngừng trả lời tôi.
    – Tôi xin lỗi, thưa bà, tôi nhìn thấy có ánh đèn.
    Tôi nghe thấy người đó cọ chân vào tấm thảm chùi chân.
    – Tôi muốn hỏi vài câu về một người đang yên nghỉ trong
    nghĩa...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama