GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 9

TRANG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z5547940853696_c22e1de8ba6efc311887a62f5e563901.jpg Z5547940811788_25a94d4644ada0ae8a28a704440d8808.jpg Z5547940810742_117d36aa84d633f50a06fff45e988b07.jpg Z5547929511935_166ec05c4d6c1475f0eb506d54b29b71.jpg Z5547929456682_261a5bed5fad4a97d7dba4b3ec3699d2.jpg Z5547929448801_126266d54659f74f38252045ee8a1acc.jpg Z5547929432436_7e13bc07c3a7a3d8354de847005f90f5.jpg Z5547929424023_6d8abea7541817a8bd661b044a148b2a.jpg Z5547922612174_13666a638e8142e7c46809c9ba6eeba5.jpg Z5547922611148_793b00be8f3385a236984507ea1413b4.jpg Z5547922592137_6e0c82d7662daef7d6093eb879f1c9a2.jpg Z5547922584614_25fd4f958afbba6a7a1e4a5b5ba14fc5.jpg Z5547940768588_fcb6f157dacd8274e8a9169ac6cd4c22.jpg Z5547940757126_7dd7723249b1fa5bcaac7fc0f61a7730.jpg Z5547921981851_835f3a4d0676ff63f0b1af949b5de289.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WELLCOME

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10

    DANH NGÔN VỀ ĐỌC SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH

    GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY

    Hói đáp các quyền cơ bản của DTTS

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phùng Thu Hương
    Ngày gửi: 21h:33' 28-06-2024
    Dung lượng: 1.6 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hội đồng
    Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
    LÊ MẠNH HÙNG
    Phó Chủ tịch Hội đồng
    Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thành viên
    TRẦN QUỐC DÂN
    NGUYỄN ĐỨC TÀI
    NGUYỄN NGUYÊN
    NGUYỄN HOÀI ANH

    Nhóm biên soạn:
    HOÀNG XUÂN LƯƠNG (Chủ biên)
    NGUYỄN HÀ ANH
    VŨ LÂM QUÂN

    Hiệu đính:
    ĐỖ XUÂN LÂN

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những
    quyền cơ bản của con người, được pháp luật quốc tế
    ghi nhận và nội luật hóa trong pháp luật quốc gia
    theo điều kiện đặc thù của đất nước. Ở Việt Nam,
    quyền cơ bản của dân tộc thiểu số luôn được Đảng và
    Nhà nước ta quán triệt và thực hiện nhất quán, đồng
    thời được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu
    phát triển của đất nước. Với 54 dân tộc cùng chung
    sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, Điều 5 Hiến
    pháp năm 2013 quy định: Nước Cộng hòa xã hội chủ
    nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân
    tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân
    tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
    phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ
    dân tộc... Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
    viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập
    quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình... và
    tất cả các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong
    đó có quyền của dân tộc thiểu số) cũng được quy định
    tại Chương II của Hiến pháp.
    Cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của
    Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm các dân tộc

    5

    bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, bảo đảm các quyền cơ
    bản của đồng bào dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực
    dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, trong
    những năm qua, quyền của người dân tộc thiểu số ở
    nước ta ngày càng được quy định đầy đủ trong nhiều
    chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
    trong các bộ luật, luật và các văn bản dưới luật.
    Nhằm giúp bạn đọc, trước hết là bạn đọc tại các cơ
    sở xã, phường, thị trấn nắm được những nội dung cơ
    bản về quyền của dân tộc thiểu số trong các văn kiện
    pháp lý quốc tế, đặc biệt là trong pháp luật Việt Nam,
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với
    Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản cuốn sách
    Hỏi - đáp các quyền cơ bản của dân tộc thiểu
    số theo quy định pháp luật Việt Nam do tác giả
    Hoàng Xuân Lương làm chủ biên. Cuốn sách được
    biên soạn với những câu hỏi và trả lời theo hai phần:
    Phần I. Khái quát chung về dân tộc thiểu số và
    quyền của người dân tộc thiểu số.
    Phần II. Các quyền cơ bản của người dân tộc
    thiểu số theo quy định pháp luật Việt Nam.
    Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
    Tháng 10 năm 2018
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    LỜI NÓI ĐẦU
    Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc. Trong
    quá trình xây dựng và phát triển đất nước, quan
    điểm chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về chính
    sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các
    dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp
    nhau cùng phát triển”. Điều này, một mặt thể hiện
    trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với đồng
    bào các dân tộc thiểu số; mặt khác, cho thấy việc
    giải quyết vấn đề dân tộc là đòi hỏi cấp thiết cần có
    những quyết sách kịp thời, phù hợp trong mỗi giai
    đoạn lịch sử cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu phát
    triển đất nước. Việc luật hóa quyền của người dân
    tộc thiểu số cũng trên quan điểm chiến lược này.
    Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi
    người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị
    phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự,
    kinh tế, văn hóa, xã hội. Bình đẳng về quyền có
    nghĩa là mọi thành viên trong cộng đồng đều có cơ
    hội được hưởng các quyền như nhau trong những
    điều kiện, hoàn cảnh, năng lực sẵn có như nhau.
    Người dân tộc thiểu số ở nước ta là công dân nước
    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền
    7

    hưởng những quyền con người, quyền công dân
    được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ. Tuy
    nhiên, do có những đặc thù về địa bàn cư trú và
    điều kiện phát triển, nên để bảo đảm và thúc đẩy
    sự bình đẳng thực sự trong thực hiện các quyền
    con người và quyền công dân đối với dân tộc thiểu
    số, pháp luật nước ta còn có những quy định mang
    tính riêng có đối với người dân tộc thiểu số - đó
    thực chất là quyền được phát triển bình đẳng.
    Thừa nhận và bảo đảm các quyền của dân tộc
    thiểu số đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt
    Nam là vấn đề mang tính chiến lược để phát triển
    đất nước - nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế
    hiện nay, khi mà những thế lực thù địch luôn lợi
    dụng cơ hội để phá hoại, gây mất ổn định an ninh
    chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước.
    Nâng cao nhận thức của Nhân dân và cán bộ ở
    cơ sở về các quyền cơ bản của đồng bào các dân tộc
    thiểu số để từ đó phát huy nội lực của người dân
    trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham
    gia giám sát việc thực hiện những chương trình, kế
    hoạch kinh tế - xã hội của địa phương, cũng là một
    trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác dân
    tộc. Cuốn sách Hỏi - đáp các quyền cơ bản của dân
    tộc thiểu số theo quy định pháp luật Việt Nam,
    được biên soạn xuất phát từ những lý do như vậy.
    Có thể nhận thấy, quyền con người, quyền công
    dân nói chung và quyền của người dân tộc thiểu
    số nói riêng ở nước ta được pháp luật quốc gia ghi
    8

    nhận và bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống văn
    bản pháp luật, bao gồm Hiến pháp, những bộ luật,
    luật chuyên ngành cùng những văn bản mang tính
    pháp quy có liên quan.
    Trong cuốn sách này chúng tôi giới thiệu những
    quyền mang tính riêng có của dân tộc thiểu số thuộc
    các lĩnh vực: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn
    hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam.
    Rất mong được độc giả đón nhận.
    CÁC TÁC GIẢ

    9

    10

    Phần I

    KHÁI QUÁT CHUNG
    VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ QUYỀN CỦA
    NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
    I. QUAN ĐIỂM CỦA QUỐC TẾ VỀ DÂN TỘC
    THIỂU SỐ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC
    THIỂU SỐ

    Câu hỏi 1: Thuật ngữ “dân tộc thiểu số”
    được hiểu thế nào? Dân tộc thiểu số được
    nhận biết thông qua những đặc trưng gì?
    Trả lời:
    Thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được sử dụng
    chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và
    pháp luật các quốc gia. Tùy theo lĩnh vực nghiên
    cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia, thuật ngữ
    “dân tộc thiểu số” được hiểu khác nhau. Năm 1992,
    Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua thuật
    ngữ “dân tộc thiểu số” dựa trên quan điểm của
    GS. Francesco Capotorti (đặc phái viên của Liên
    hợp quốc) đưa ra năm 1977: “Dân tộc thiểu số” là
    thuật ngữ chỉ một nhóm người: (a) Cư trú trên lãnh
    thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công
    dân của quốc gia này; (b) Duy trì mối quan hệ lâu
    11

    dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c) Thể hiện
    bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và
    ngôn ngữ của họ; (d) Đủ tư cách đại diện cho nhóm
    dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc
    gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e)
    Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung
    của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập
    quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ”1.
    Có thể thấy “dân tộc thiểu số” là một thuật
    ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành
    khoa học khác nhau trên thế giới, trong đó có khoa
    học pháp lý. Trên thực tế, thuật ngữ “dân tộc thiểu
    số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số
    trong một quốc gia đa dân tộc.
    Quan niệm “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa
    số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có
    những vấn đề chưa thống nhất và được vận dụng
    xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể,
    tùy theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về
    dân số của mỗi quốc gia. Song, nội dung được quan
    niệm như đã nói trên về cơ bản là tương đối thống
    nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên
    cứu dân tộc học trên thế giới.
    Dân tộc thiểu số thường được nhận biết thông
    qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:
    - Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.
    1. Minority Rights: International Standards and Guidance
    for Implementation (HR/PUB/10/3).

    12

    Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc (tộc
    người). Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các
    bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền
    tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.
    - Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh
    thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều
    dân tộc anh em. Vận mệnh của mỗi tộc người là
    một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và
    bảo vệ lãnh thổ đất nước.
    - Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng
    (bên cạnh ngôn ngữ, chữ viết chung của quốc gia),
    có quyền sử dụng trong giao tiếp dân sự và trong
    lĩnh vực pháp lý.
    - Có nét tâm lý riêng (tâm lý tộc người), mang
    bản sắc văn hóa tộc người.
    Câu hỏi 2: Thế nào là quyền của người dân
    tộc thiểu số? Quyền của người dân tộc thiểu
    số có những tính chất cơ bản gì?
    Trả lời:
    Dựa trên quan điểm về thuật ngữ “dân tộc thiểu
    số” như đã đề cập ở phần trên, có thể hiểu, “người
    dân tộc thiểu số” trước hết thuộc nhóm người thiểu
    số, là cá thể trong một nhóm/một tộc người dân tộc
    thiểu số. Họ cùng tộc người của mình sống trên
    một quốc gia hoặc địa phương nhất định, có những
    đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn
    ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có
    quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những
    13

    yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và
    hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo
    tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ1. Theo
    các công ước quốc tế, người dân tộc thiểu số được
    hưởng những quyền của con người và những quyền
    của nhóm người thiểu số. Trong mỗi quốc gia, họ
    có quyền có quốc tịch và có quyền được xác định
    dân tộc theo quy định pháp luật của quốc gia mà
    họ sống.
    Quyền của người dân tộc thiểu số được quốc
    tế chính thức ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế
    về nhân quyền của Liên hợp quốc (UDHR) năm
    1948: Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các
    quyền và tự do, không có bất kỳ sự phân biệt đối
    xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ,
    tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội (Điều 2);
    và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
    trị (ICCPR) năm 1966: Tại những nước có nhiều
    nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng
    chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc,
    tôn giáo, ngôn ngữ và các nhóm thiểu số đó, cùng
    với những thành viên khác của cộng đồng mình,
    không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền
    1. Xem thêm: Lê Xuân Trình (Khoa Luật - Đại học Quốc
    gia Hà Nội): Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định
    của luật pháp quốc tế và Việt Nam (Luận văn Thạc sĩ Luật
    học, Hà Nội, 2015), http://repository.law.vnu.edu.vn/.

    14

    văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành
    tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói
    riêng của họ (Điều 27). Như vậy, dưới góc độ pháp
    lý, “quyền của người dân tộc thiểu số” trước hết là
    những quyền cơ bản của con người được ghi nhận
    và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa
    thuận pháp lý quốc tế.
    Thuật ngữ “quyền con người” hay “nhân quyền”
    là một phạm trù đa diện, phức tạp, với nhiều góc
    tiếp cận, tương ứng là nhiều định nghĩa, cách hiểu
    khác nhau. Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc,
    quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ
    quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm
    chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn
    hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do
    cơ bản của con người1.
    Từ góc độ lý luận và pháp luật, quyền con người
    là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
    người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc
    gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế2. Đây là những
    chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
    tuân thủ, chứa đựng những giá trị nhân văn cao
    1. OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human
    Rights-based Approach to Development Cooperation, New
    York and Geneva, 2006, tr.1.
    2. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình Lý
    luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.38.

    15

    quý của toàn nhân loại, kết tinh từ tinh hoa văn
    hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói
    chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của
    toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và
    hạnh phúc của mọi người. Quyền con người là vốn
    có cho tất cả các thành viên trong gia đình nhân
    loại. Do vậy, quyền con người là quyền phổ quát và
    không thể tách rời của cá nhân con người; không thể
    tước đoạt các quyền này khỏi con người. Chỉ có thể
    hạn chế việc thực thi một số quyền con người trong
    những tình huống nhất định.
    Như vậy, tiếp cận ở góc độ nào và ở cấp độ nào
    thì quyền con người cũng được xác định như là
    những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế và quốc
    gia thừa nhận, tuân thủ.
    Đối với quyền của dân tộc thiểu số, chủ thể
    hưởng thụ quyền là các dân tộc thiểu số trong một
    quốc gia. Mỗi quốc gia có trách nhiệm bảo đảm cho
    dân tộc thiểu số trong quốc gia của mình được hưởng
    thụ quyền dựa trên điều kiện đặc thù của đất nước.
    Người dân tộc thiểu số có đầy đủ các quyền về dân
    sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa như mọi người
    và mọi công dân trong quốc gia của họ, hoàn toàn
    bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.
    Thuộc quyền con người, quyền của người dân
    tộc thiểu số có các tính chất cơ bản, như: tính phổ
    biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân
    chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
    16

    Trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền nói
    chung ở cấp độ toàn cầu và khu vực, có nhiều văn
    kiện ghi nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
    quyền của người dân tộc thiểu số. Ở cấp độ toàn
    cầu, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, phải kể đến
    các văn kiện:
    - Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên
    hợp quốc năm 1948.
    - Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức
    phân biệt chủng tộc năm 1965.
    - Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
    chính trị năm 1966.
    - Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
    và văn hóa năm 1966.
    - Tuyên bố về quyền của những người thuộc các
    nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và
    ngôn ngữ năm 1992.
    Câu hỏi 3: Các vấn đề có tính nguyên tắc
    trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền của
    người dân tộc thiểu số được quy định thế nào?
    Trả lời:
    Vấn đề có tính nguyên tắc trong việc ghi nhận
    và bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số, đó là:
    - Bình đẳng, không phân biệt đối xử: Có thể
    thấy rằng tất cả các văn kiện quốc tế quan trọng về
    nhân quyền, đặc biệt là tại các văn kiện về quyền
    của nhóm người dễ bị tổn thương và người dân tộc
    17

    thiểu số đều có quy định trực tiếp về nguyên tắc
    bình đẳng, không phân biệt đối xử như là cơ sở tiên
    quyết bảo đảm quyền con người nói chung, quyền
    của người dân tộc thiểu số nói riêng được ghi nhận
    và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
    - Vai trò tích cực của các quốc gia: Có thể thấy
    rằng, trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền,
    đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số, bên cạnh
    cơ chế quốc tế và khu vực, các quốc gia có vai trò
    quyết định. Tuy lựa chọn các mô hình tương đối
    khác nhau, nhưng các quốc gia thường có cơ quan
    chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.
    Câu hỏi 4: Trong các điều ước quốc tế,
    những quyền cơ bản nào của người dân tộc
    thiểu số được ghi nhận và bảo vệ?
    Trả lời:
    Phù hợp với tính phổ quát của quyền con
    người, trong các văn kiện quan trọng nhất của
    Liên hợp quốc, người dân tộc thiểu số trước hết
    được hưởng tất cả các quyền con người được cộng
    đồng quốc tế ghi nhận trên cơ sở bình đẳng, không
    có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Họ được bảo
    đảm tất cả các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế,
    xã hội, văn hóa.
    Xuất phát từ những đặc điểm vốn có cũng như
    thực trạng trong việc bảo đảm quyền, luật pháp
    18

    quốc tế nhấn mạnh những nhóm quyền cơ bản của
    người dân tộc thiểu số cần được thúc đẩy và bảo vệ
    trong phạm vi toàn cầu. Đây là những nhóm quyền
    cơ bản liên quan chặt chẽ đến người dân tộc thiểu
    số, là tiền đề quan trọng để bảo đảm các quyền
    khác của họ, đó là:
    - Quyền có quốc tịch, được xác định dân tộc:
    Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người dân tộc
    thiểu số luôn gắn liền với một quốc gia có chủ
    quyền và vai trò quan trọng thuộc về các quốc gia.
    Do vậy, trước hết họ cần có quốc tịch và được công
    nhận là dân tộc thiểu số. Quyền có quốc tịch, được
    xác định dân tộc là tiền đề quan trọng để bảo đảm
    mọi quyền khác của người dân tộc thiểu số.
    - Quyền tham gia quản lý đất nước: Quyền
    tham gia quản lý đất nước được ghi nhận lần đầu
    trong Điều 21 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
    năm 1948 của Liên hợp quốc. Theo đó, mọi người
    đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình, một
    cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ
    được tự do lựa chọn... (khoản 1).
    Rõ ràng, thực hiện việc bầu cử, ứng cử, tham
    gia quản lý, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
    nước là cách trực tiếp có hiệu quả nhất để người
    dân tộc thiểu số thực hiện các quyền chính trị của
    mình qua thiết chế các cơ quan nhà nước. Bình
    đẳng về chính trị là cơ sở và là điều kiện bảo đảm
    19

    cơ hội bình đẳng phát triển mọi mặt đời sống xã hội
    cho người dân tộc thiểu số.
    - Quyền đối với văn hóa, phong tục tập quán,
    ngôn ngữ: Có thể thấy rằng đây là nhóm quyền đặc
    trưng của người dân tộc thiểu số cần được bảo vệ,
    nhóm quyền này được ghi nhận một cách chuyên
    biệt trực tiếp tại Điều 27 Công ước quốc tế về quyền
    dân sự và chính trị năm 1966 và tại Tuyên bố về
    quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về
    dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992
    của Liên hợp quốc (Điều 1, Điều 2, Điều 4).
    Văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ là linh
    hồn của các dân tộc thiểu số, đây cũng là những
    đặc trưng quan trọng khi xác định dân tộc. Chính
    vì vậy, quyền của người dân tộc thiểu số đối với văn
    hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ của họ cần được
    thúc đẩy và bảo vệ ở cấp độ toàn cầu.
    - Quyền được giáo dục: Tuyên bố về quyền của
    những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc,
    chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 khẳng
    định, quyền được giáo dục là quyền đặc biệt quan
    trọng của người thiểu số đòi hỏi các quốc gia phải
    quan tâm (Điều 4).
    Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân
    biệt chủng tộc năm 1965 khẳng định việc đảm bảo
    quyền được giáo dục đào tạo (điểm e khoản 5 Điều 5)
    như một biện pháp quan trọng trong chính sách
    20

    của quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa
    bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và
    bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của tất
    cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da,
    nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc.
    - Quyền được chăm sóc sức khỏe: Nội dung
    quyền được chăm sóc sức khỏe được nêu tại Điều 25
    Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của
    Liên hợp quốc. Nội dung này, sau đó được cụ thể
    hóa ở nhiều văn kiện quốc tế khác, như: Công ước
    quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
    năm 1966 (Điều 10, Điều12); Công ước quốc tế
    về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống
    lại phụ nữ năm 1979 (Điều 11, Điều 12, Điều 14);
    Tuyên bố Viên và Chương trình hành động thông
    qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần
    thứ hai năm 1993; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi
    hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 (điểm d
    khoản 5 Điều 5).
    Quyền được chăm sóc sức khỏe, được tiếp cận
    các dịch vụ y tế là quyền cơ bản của tất cả mọi
    người trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử.
    Mọi người có quyền được hưởng tiêu chuẩn chăm
    sóc sức khỏe cao nhất có thể được. Đối với người
    dân tộc thiểu số và nhóm người “dễ bị tổn thương”
    và “dễ bị bỏ quên”, như: phụ nữ, trẻ em, người tàn
    tật... khi mà điều kiện được tiếp cận các dịch vụ y tế
    còn rất hạn chế thì quyền được chăm sóc sức khỏe
    21

    có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là quyền không thể
    thiếu để thực hiện các quyền khác.
    - Quyền được hưởng an sinh xã hội: Cũng như
    quyền được giáo dục và quyền được chăm sóc sức
    khỏe, quyền được hưởng an sinh xã hội của người dân
    tộc thiểu số được ghi nhận tại Công ước quốc tế về
    xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965
    (điểm d khoản 5 Điều 5) như một biện pháp quan
    trọng trong chính sách của quốc gia thành viên
    cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc
    dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng
    trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân
    biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay
    sắc tộc.
    - Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn
    giáo: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn
    giáo của người dân tộc thiểu số được ghi nhận tại
    Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
    chính trị năm 1966; Điều 2 Tuyên bố về quyền của
    những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc,
    chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992; điểm g
    khoản 4 Điều 5 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi
    hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965.
    - Quyền lập hội, tự do hội họp: Công ước quốc
    tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
    năm 1965 ghi nhận: “quyền tự do hội họp và lập
    hội một cách hòa bình” của người dân tộc thiểu số
    22

    tại điểm i khoản 4 Điều 5. Tiếp đó, Tuyên bố về
    quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số
    về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm
    1992 ghi: Những người thuộc các nhóm thiểu số
    có quyền thành lập và duy trì các hội riêng của họ
    (khoản 4 Điều 2).
    - Quyền tự do đi lại, cư trú: Tại Điều 5 Công ước
    quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng
    tộc năm 1965, quy định người dân tộc thiểu số có
    quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ
    quốc gia (điểm a khoản 4); quyền được xuất cảnh
    khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả nước mình, và quay
    trở lại nước mình (điểm b khoản 4).
    II. DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ QUYỀN
    CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

    Câu hỏi 5: Dân tộc thiểu số ở Việt Nam có
    những đặc điểm gì?
    Trả lời:
    Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được
    sử dụng trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật
    cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và
    trong hoạt động thực tiễn. Điều 4 Nghị định số
    05/2011/NĐ-CP ngày 14-01-2011  của Chính phủ
    về công tác dân tộc (gọi tắt là Nghị định số 05/2011/
    NĐ-CP) giải thích thuật ngữ “dân tộc thiểu số” và
    những thuật ngữ có liên quan, theo đó:
    23

    - Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít
    hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước
    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 2).
    - Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số
    dân dưới 10.000 người (khoản 5).
    - Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên
    50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số
    quốc gia (khoản 3).
    - Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các
    dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng
    đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
    Việt Nam (khoản 4).
    Ở nước ta có 54 dân tộc cùng chung sống,
    trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc
    khác là dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số Việt
    Nam sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi (chiếm
    3/4 diện tích đất tự nhiên của cả nước), đây là
    những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về
    chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng,
    môi trường sinh thái của đất nước. Có thể khái
    quát đặc điểm chung của các dân tộc thiểu số ở
    Việt Nam như sau:
    Một là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có quy
    mô dân số và trình độ phát triển kinh tế, xã hội
    không đồng đều, với sự chênh lệch khá lớn về điều
    kiện sống, mức sống giữa các dân tộc và giữa các
    vùng địa lý khác nhau.
    24

    Theo Điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội 53
    dân tộc thiểu số ở Việt Nam năm 2015 của Tổng cục
    Thống kê, 53 dân tộc thiểu số ở nước ta có số dân
    là 13,38 triệu người, chiếm 14,58% dân số cả nước.
    Trong các dân tộc thiểu số, có những dân tộc có số
    dân trên một triệu người, như: Tày, Thái, Mường,
    Khmer, Nùng, Hmông; và có những dân tộc chỉ có
    số dân dưới 1.000 người, như: Si La, Pu Péo, Rơ
    Măm, Brâu, Ơ Đu, Ngái.
    Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn
    chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di
    dân tự do vẫn diễn biến phức tạp. Kết cấu hạ tầng
    (điện, đường, trường, trạm, công trình dịch vụ công
    cộng) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn; trình
    độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều
    kiện sống và mức sống giữa các dân tộc còn chênh
    lệch. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam
    luôn quan tâm, thực hiện đường lối phát triển bình
    đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa
    các dân tộc.
    Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú
    xen kẽ với nhau, địa bàn cư trú tập trung ở vùng
    núi và biên giới - nơi có vị trí chiến lược quan trọng
    về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi
    trường sinh thái của đất nước.
    Trong quá trình lịch sử hình thành và phát
    triển của dân tộc Việt Nam, các đợt di cư kéo dài
    25

    hàng thiên niên kỷ đã làm cho bản đồ cư trú của
    các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có sự tập trung ở
    một số vùng nhưng mỗi dân tộc không cư trú thành
    những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân
    tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã, bản.
    Trong mỗi vùng và mỗi địa bàn có những dân tộc là
    người gốc địa phương từ lâu đời và có những người
    thuộc các dân tộc khác chuyển đến cư trú với tính
    xen kẽ ngày càng mạnh mẽ; không có tỉnh, huyện
    nào chỉ có một dân tộc cư trú.
    Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt
    Nam là biểu hiện của sự cộng cư đoàn kết trên
    quan điểm “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt
    Nam là một”. Điều này thúc đẩy sự hòa hợp, tin
    cậy, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường hợp tác
    và xích lại gần nhau hơn trong lao động sáng tạo;
    nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sinh hoạt
    văn hóa; ngày càng tiến tới xóa bỏ cách biệt giữa
    các dân tộc và các vùng dân cư. Đây là cơ sở giải
    quyết mối quan hệ giữa các dân tộc, phòng ngừa
    xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp lợi ích, xung đột văn
    hóa, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, không để
    các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại, gây mất ổn
    định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của
    đất nước.
    Các dân tộc thiểu số cư trú dọc biên giới phía
    Bắc, Tây và Tây Nam - nơi có nhiều cửa ngõ thông
    26

    thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và
    thế giới. Đây cũng là những địa bàn có tiềm năng
    lớn về khoáng sản (than, sắt, đồng, chì, kẽm, vàng,
    bạc, đá quý), năng lượng thủy điện, đất rừng và môi
    trường sinh thái của cả nước. Miền núi cũng là nơi
    có nhiều dòng sông chảy về đồng bằng, hằng năm
    cung cấp hàng tỷ mét khối  nước cho các nhà máy
    thủy điện và hàng tỷ mét khối phù sa cho vùng đồng
    bằng của Việt Nam. Các vùng đất phì nhiêu ở miền
    núi đã và đang phát triển việc trồng cây công nghiệp
    dài ngày, như: cà phê, tiêu, chè, cao su... và chăn
    nuôi gia súc; các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự
    nhiên và tre, gỗ được cung cấp cho cả nước.
    Từ xa xưa đến nay, do khu vực đồng bào dân
    tộc thiểu số sinh sống có địa hình hiểm trở, đồng
    bào các dân tộc lại sẵn có lòng yêu nước nên vùng
    dân tộc thiểu số luôn là căn cứ địa vững chắc của
    các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của
    dân tộc ta. Trong công cuộc đổi mới đất nước, vùng
    dân tộc thiểu số tiếp tục đóng vai trò đặc biệt quan
    trọng trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế,
    xã hội; đảm bảo an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững
    chắc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.
    Ba là, nhiều dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn
    giáo đan xen, đa dạng.
    Trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế, xã
    hội chưa cao, hầu hết các dân tộc thiểu số còn lưu
    27

    giữ và chịu sự chi phối khá rõ nét của nhiều loại
    hình tín ngưỡng dân gian. Nhiều dân tộc thiểu
    số có tín ngưỡng, tôn giáo đan xen, đa dạng. Đến
    nay đa số đồng bào dân tộc thiểu số vẫn theo tín
    ngưỡng truyền thống, thờ cúng tổ tiên, thờ đa thần,
    các hình thái tôn giáo sơ khai. Trong đó nhiều tín
    ngưỡng có tác dụng tích cực, thể hiện ước nguyện
    tốt đẹp về cuộc sống con người, củng cố tình đoàn
    kết, đồng tâm hiệp lực giữa các thành viên trong
    cộng đồng. Nhưng một số tín ngưỡng dân gian cũng
    là môi trường cho mê tín dị đoan và hủ tục tồn tại
    và phát triển.
    Bốn là, đồng bào các dân tộc thiểu số có ý thức
    tộc người sâu sắc.
    Nhìn chung, đồng bào các dân tộc thiểu số nước
    ta có ý thức tộc người sâu sắc, thấy rõ vị trí, đặc
    trưng của dân tộc mình và mối quan hệ chung với
    các tộc người khác ở cả trong và ngoài biên giới
    quốc gia. Từ đó đã tăng cường tính cố kết, hòa hợp
    dân tộc, cũng như tinh thần yêu nước, lòng tự hào
    của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
    Năm là,  mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa
    riêng, độc đáo, góp phần làm nên sự phong phú, đa
    dạng của nền văn hóa Việt Nam.
    Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều có bản
    sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp phần tạo nên sự
    phong phú và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
    28

    thống nhất. Bên cạnh tiếng Việt là ngôn ngữ quốc
    gia, được dùng làm phương tiện giao tiếp chung
    cho tất cả các dân tộc thì hầu hết các dân tộc thiểu
    số ở Việt Nam đều có ngôn ngữ riêng, thuộc 8 nhóm
    ngôn ngữ khác nhau, gồm: Nhóm ngôn ngữ Môn Khmer, nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, nhóm ngôn
    ngữ Tày - Thái, nhóm ngôn ngữ Ka - đai, nhóm
    ngôn ngữ Hmông - Dao, nhóm ngôn ngữ Malayô Pôlinêdi, nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, nhóm ngôn
    ngữ Hán. Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện để
    duy trì, phát triển ngôn ngữ, chữ viết, bản sắc văn
    hóa của các dân tộc. Tổ chức xã hội truyền thống ở
    mỗi dân tộc có những sắc thái riêng; mỗi thôn, bản,
    buôn, phum, sóc thường là nơi cư trú theo dòng họ
    huyết thống hoặc do hôn nhân hợp thành. Cách
    thức sinh hoạt, phong tục tập quán ở mỗi dân tộc
    cũng có sự khác nhau.
    Sáu là,  các dân tộc ở Việt Nam có truyền
    thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong chinh phục
    thiên nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo
    vệ Tổ quốc.
    Trong quá trình phát triển, mặc dù nguồn gốc
    lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán có những điểm
    khác nhau, song các dân tộc ở Việt Nam đã luôn
    đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tương thân tương ái,
    cùng nhau chinh phục thiên nhiên, kiên cường đấu
    tranh để chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược. Ngày
    29

    nay, trên dọc tuyến biên giới từ Bắc - Trung - Nam,
    đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp tục đảm trách
    vai trò là người giữ gìn biên cương, lãnh thổ của Tổ
    quốc. Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh
    bền bỉ, kiên cường, đồng bào các dân tộc thiểu số đã
    xây đắp nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh,
    tinh hoa và in đậm dấu ấn bản sắc dân tộc, chứng
    minh sức sống mãnh liệt và trường tồn của cộng
    đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
    Câu hỏi 6: Quan điểm của Đảng và Nhà nước
    ta như thế nào về quyền của dân tộc thiểu số?
    Trả lời:
    Quán triệt những quan điểm cơ bản của Chủ
    nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, Đảng ta và
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc
    và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở
    Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa
    các dân tộc. Có thể khẳng định, chính sách dân tộc
    của Đảng luôn được quán triệt và triển khai thực
    hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong
    mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc
    của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng
    yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.
    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đến Đại
    hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, chính
    sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên cơ sở các
    30

    vấn đề cốt lõi, đó là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong
    toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ
    bản trong chí...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama