GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 9

TRANG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z5547940853696_c22e1de8ba6efc311887a62f5e563901.jpg Z5547940811788_25a94d4644ada0ae8a28a704440d8808.jpg Z5547940810742_117d36aa84d633f50a06fff45e988b07.jpg Z5547929511935_166ec05c4d6c1475f0eb506d54b29b71.jpg Z5547929456682_261a5bed5fad4a97d7dba4b3ec3699d2.jpg Z5547929448801_126266d54659f74f38252045ee8a1acc.jpg Z5547929432436_7e13bc07c3a7a3d8354de847005f90f5.jpg Z5547929424023_6d8abea7541817a8bd661b044a148b2a.jpg Z5547922612174_13666a638e8142e7c46809c9ba6eeba5.jpg Z5547922611148_793b00be8f3385a236984507ea1413b4.jpg Z5547922592137_6e0c82d7662daef7d6093eb879f1c9a2.jpg Z5547922584614_25fd4f958afbba6a7a1e4a5b5ba14fc5.jpg Z5547940768588_fcb6f157dacd8274e8a9169ac6cd4c22.jpg Z5547940757126_7dd7723249b1fa5bcaac7fc0f61a7730.jpg Z5547921981851_835f3a4d0676ff63f0b1af949b5de289.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • WELLCOME

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10

    DANH NGÔN VỀ ĐỌC SÁCH

    “Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH

    GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY

    Hồng Lâu Mộng - Tào Tuyết Cần _ Cao Ngạc

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:32' 07-03-2024
    Dung lượng: 44.0 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    Hồng Lâu Mộng Tập 1 by Tào Tuyết Cần
    Lời giới thiệu
    Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu trong Hồng Lâu
    Mộng
    Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
    Hồi 1. Chân Sĩ Ẩn trong mộng ảo biết đá thiêng; Giả Vũ
    Thôn lúc phong trần mơ người đẹp.
    Hồi 2. Giả phu nhân tạ thế ở thành Dương Châu; Lãnh
    Tử Hưng kể chuyện trong phủ Vinh quốc.
    Hồi 3. Nhờ anh vợ, Như Hải đền được ơn dạy bảo; Đón
    cháu ngoại, Giả mẫu xót thương trẻ mồ côi.
    Hồi 4. Gái bạc mệnh gặp trai bạc mệnh; Sư Hồ Lô xử án
    Hồ Lô.
    Hồi 5 Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê; Uống
    rượu tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc.
    Hồi 6. Giả Bảo Ngọc mới thử cuộc mây mưa; Lưu lão lão
    đến thăm phủ Vinh quốc.
    Hồi 7. Đem biếu cung hoa, Giả Liễn đùa Hy Phượng; Ăn
    yến Ninh phủ, Bảo Ngọc gặp Tần Chung.
    Hồi 8. So ngọc thông linh, Kim Oanh hơi ngỏ ý; Thăm
    dò cô Bảo, Đại Ngọc nếm phải chua.
    Hồi 9. Quen nết phong lưu, bạn đa tình cùng vào trường
    học; Gây chuyện ngờ vực, tên ngoan đồng làm nhộn thư
    đường.
    Hồi 10. Kim quả phụ tham lợi chịu nhẫn nhục; Trương
    thái y xem bệnh nói gốc nguồn.
    Hồi 11. Mừng sinh nhật, phủ Ninh bày tiệc linh đình;
    Gặp Hy Phượng, Giả Thụy động lòng dâm dục.
    Hồi 12. Vương Hy Phượng độc ác, bày cuộc tương tư;
    Giả Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt.
    Hồi 13. Tần Khả Khanh chết được phong Long Cẩm Úy;
    Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh.
    Hồi 14. Lâm Như Hải từ trần ở thành Dương Châu; Giả
    Bảo Ngọc giữa đường chào vua Bắc Tĩnh.
    Hồi 15. Vương Phượng Thư lộng quyền ở chùa Thủy
    Nguyệt; Tần Kình Khanh gặp gái trong am Mạn Đầu.



    Hồi 16. Giả Nguyên Xuân có tài, được tuyển vào cung
    Phượng Tảo; Tần Kình Khanh còn trẻ, đã thác xuống
    cõi Hoàng Tuyền.
    Hồi 17 và 18. Đề câu đối trong vườn Đại Quan, thử tài
    Bảo Ngọc; Về thăm nhà ở phủ Vinh quốc, gặp tiết
    nguyên tiêu.
    Hồi 19. Tình đằm thắm đêm khuya hoa biết nói; Ý triền
    miên ngày vắng ngọc thêm hương.
    Hồi 20. Phượng Thư thẳng thắn dẹp hẳn thói ghen
    tuông; Đại Ngọc tinh ranh nói những câu bỡn cợt.
    Hồi 21. Giả cách giận hờn, Tập Nhân răn Bảo Ngọc; Trả
    lời khôn khéo, Bình Nhi cứu Giả Liễn.
    Hồi 22. Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền; Đánh
    đố thơ, Giả Chính lo lời sấm.
    Hồi 23. Mượn câu văn Tây Sương Ký, giở giọng giỡn
    đùa; Nghe khúc hát Mẫu Đơn Đình, chạnh lòng hờn tủi.
    Hồi 24. Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bạc coi
    khinh; Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn.
    Hồi 25. Mắc phải thuật năm con quỷ, chị em hóa điên
    rồ; Nhờ được phép hai vị tiên, ngọc thiêng hết mờ ám.
    Hồi 26. Cầu Phong Yêu nói lóng đưa tình kín; Quán
    Tiêu Tương xuân buồn tỏ nỗi riêng.
    Hồi 27. Đình Trích Thúy, Dương Phi đùa bướm trắng;
    Mộ Mai Hương, Phi Yến khóc hoa tàn.
    Hồi 28. Ngọc Hàm tặng thắt lưng, gợi được mối tình;
    Bảo Thoa cởi chuỗi thơm, lộ ra vẻ thẹn.
    Hồi 29. Người hưởng phúc, phúc nhiều, còn cầu xin
    thêm phúc; Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì
    tình.
    Hồi 30. Bảo Thoa mượn cái quạt, nói cạnh cả hai bên;
    Linh Quan vạch chữ “Tường”, làm ngây người ngoài
    cuộc.
    Hồi 31. Xé tan cái quạt, nghìn vàng mua lấy một trận
    cười; Điềm ứng kỳ lân, hai sao gặp nhau khi đầu bạc.
    Hồi 32. Giải bày hết tâm can, Bảo Ngọc đâm ra mê mẩn;
    Không chịu được sỉ nhục, Kim Xuyến đành phải liều
    thân.
    Hồi 33. Coi anh như thù, giọng lưỡi ton hót; Đẻ con bất
    hiếu, roi vọt dập vùi.








    Hồi 34. Mối tình ngổn ngang, thấy tình cô em càng
    thêm thấm thía; Lỗi lầm chồng chất, lấy lầm khuyên
    anh xiết nỗi buồn rầu.
    Hồi 35. Ngọc Xuyến được nếm canh lá sen; Oanh Nhi
    khéo tết dây hoa mai.
    Hồi 36. Thêu bức uyên ương, hiên Giáng Vân mộng
    lành báo trước; Ngẫm đường tình phận, viện Lê Hương
    duyên đẹp định rồi.
    Hồi 37. Thu Sảng trai, định mở Xã hải đường; Hành Vu
    uyển, đêm nghĩ bài hoa cúc.
    Hồi 38. Lâm Tiêu Tương đứng đầu những thơ ngâm
    cúc; Tiết Hành Vu mỉa đời trong bài vịnh cua.
    Hồi 39. Già nhà quê hay nói huênh hoang; Cậu có tình
    cứ tìm ngành ngọn.
    Hồi 40. Vườn Đại Quan, Sử Thái Quân hai lần mở tiệc;
    Gieo súc sắc, Kim Uyên Ương ra lệnh đố thơ.
    Hồng Lâu Mộng Tập 2 by Tào Tuyết Cần
    Hồi 41. Am Lũng Thúy, Bảo Ngọc thưởng trà ngon; Viện
    Di Hồng, già Lưu say rượu ngủ.
    Hồi 42. Giải mối ngờ, Bảo Thoa ngỏ lời thân thiết; Thêm
    vui chuyện, Đại Ngọc nói ý xa xôi.
    Hồi 43. Ngồi rỗi bày trò, góp tiền ăn sinh nhật; Mối tình
    không dứt, vốc đất viếng oan hồn.
    Hồi 44. Chuyện xảy bất ngờ, Phượng Thư đâm ghen;
    Mừng ngoài tưởng tượng, Bình Nhi trang điểm.
    Hồi 45. Bạn kim lan ngỏ chuyện kim lan; Đêm mưa gió
    ngâm bài mưa gió.
    Hồi 46. Người liều lĩnh khó thoát việc liều lĩnh; Gái
    Uyên Ương thề dứt bạn uyên ương.
    Hồi 47. Tiết Bàn đa tình bị đánh, Tương Liên sợ tội trốn
    đi.
    Hồi 48. Dùng bậy chữ tình, nhầm về tình, chàng đi buôn
    bán; Mến yêu gái nhã, gặp cuộc nhã, nàng mải ngâm
    thơ.
    Hồi 49. Cõi lưu ly mai hồng tuyết trắng; Gái son phấn
    ăn sống nuốt tanh.
    Hồi 50. Am Lư Tuyết nối nhau thơ tức cảnh; Ổ Noãn
    Hương khéo đặt câu đố đèn.


    ế





    Hồi 51. Cô em họ Tiết làm thơ hoài cổ; Lang băm họ Hồ
    dùng thuốc hổ lang.
    Hồi 52. Bình Nhi cố tình giấu việc mất vòng vàng; Tình
    Văn đương ốm, vùng dậy vá áo cừu.
    Hồi 53. Đêm trừ tịch, phủ Ninh tế tổ tiên; Tối nguyên
    tiêu, phủ Vinh mở yến tiệc.
    Hồi 54. Sử Thái Quân bỏ lối chuyện sáo ngày xưa;
    Vương Hy Phượng học đòi áo hoa múa hát.
    Hồi 55. Mắng con gái mình, dì Triệu tức nhảm; Khinh
    cô chủ bé, mụ Ngô ác ngầm.
    Hồi 56. Thám Xuân thông thạo, tìm mối lợi bỏ hẳn lệ
    xưa; Bảo Thoa khôn ngoan, ra ơn nhỏ giữ gìn thể thống.
    Hồi 57. Tử Quyên khôn ngoan, đặt chuyện thử lòng cậu
    Bảo; Dì Tiết hiền hậu, đem lời an ủi cô Lâm.
    Hồi 58. Dưới bóng hạnh, phượng giả khóc hão huyền;
    Bên cửa the, tình thật nghĩ vơ vẩn.
    Hồi 59. Bến Liễu Diệp tủi phận yến oanh; Hiên Giáng
    Vân nhờ tay ấn quyết.
    Hồi 60. Đem phấn mạt ly thay cho bột tường vi; Biếu
    mai quế lộ lòi ra bột phục linh.
    Hồi 61. Ném chuột sợ vỡ đồ, Bảo Ngọc đành phải nhận
    lỗi; Xét việc thấy oan uổng, Bình Nhi khéo tòng quyền.
    Hồi 62. Hồi ương Vân ngây thơ, ngủ trên hoa thược
    dược; . Hương Lăng trơ trẽn, cởi tấm quần hồng lăng.
    Hồi 63. Viện Di Hồng chị em mở tiệc; Nuốt kim đan, Giả
    Kính chết oan.
    Hồi 64. Gái buồn rầu đề thơ ngũ mỹ; Trai lẳng lơ tặng
    ngọc cửu long.
    Hồi 65. Giả Liễn vụng trộm cưới dì Hai; Dì Ba quyết
    lòng lấy chàng Liễu.
    Hồi 66. Cô bé đa tình, hổ vì tình về nơi địa phủ; Chàng
    trai lạnh nhạt, khi quá lạnh vào chốn không môn.
    Hồi 67. Thấy đồ thổ nghi, Đại Ngọc nhớ quê cũ; Nghe
    việc bí mật, Phượng Thư hỏi người hầu.
    Hồi 68. Dì Vưu khổ sở, bị lừa vào vườn Đại Quan; Chị
    Phượng ghen tuông, làm nhộn ở phủ Ninh quốc.
    Hồi 69. Giở lối khôn vặt, mượn gươm giết người; Biết
    gặp hạn đen, nuốt vàng thoát kiếp.


    Hồi 70. Lâm Đại Ngọc mở thi xã Đào Hoa; Sử Tương
    Vân điền tiểu từ Liễu Nhứ.
    Hồi 71. Người hiềm khích cố ý gây hiềm khích; Gái
    Uyên Ương vô tình gặp uyên ương.
    Hồi 72. Cậy mình khỏe, Vương Phượng Thư kiêng nói
    ốm; Ỷ thần thế, vợ Lai Vượng cố ép duyên.
    Hồi 73. A hoàn ngớ ngẩn, nhặt nhầm túi xuân tình; Tiểu
    thư ươn hèn, bỏ lơ dây kim phượng.
    Hồi 74. Quá nghe gièm hót, khám xét vườn Đại Quan;
    Thề giữ đoan nghiêm, rào lấp phủ Ninh quốc.
    Hồi 75. Mở tiệc đêm khuya, điềm lạ vẳng nghe tiếng
    thảm; Thưởng trăng tháng tám, lời nói thành câu sấm
    hay.
    Hồi 76. Nhà Đột Bích nghe sáo, cảm nỗi ưu sầu; Quán
    Ao Tinh nối thơ, buồn đêm vắng lặng.
    Hồi 77. A hoàn đẹp, sớm chết oan vì tội phong lưu; Con
    hát xinh, cắt tình duyên vào am Thủy Nguyệt.
    Hồi 78. Họa sĩ già ra bài từ Quỷ Hoạch; Công tử ngốc
    làm văn tế Phù Dung.
    Hồi 79. Rước lấy sư tử Hà Đông, Tiết Bàn hối hận; Vớ
    phải giống sói Trung Sơn, Nghênh Xuân nhầm to.
    Hồi 80. Gặp anh chồng phũ, Hương Lăng bị trận đòn
    oan; Chữa đàn bà ghen, đạo sĩ kê bài thuốc nhảm.
    Hồng Lâu Mộng Tập 3 by Tào Tuyết Cần
    Hồi 81. Bốn chị câu cá chơi, xem ai tốt số; Hai lần vào
    trường học, vâng theo lời cha.
    Hồi 82. Lấy nghĩa sách giảng bày, cụ đồ già dạy răn
    chàng bướng; Thấy ác mộng kinh khủng, gái Tiêu
    Tương hoảng sợ ngây hồn.
    Hồi 83. Vào cung Vị, thăm Nguyên Phi bị ốm; Nhộn nhà
    cửa, làm Bảo Thoa nghẹn lời.
    Hồi 84. Thử tài học, Bảo Ngọc được nhắc đến việc hôn
    nhân; Thăm cháu ốm, Giả Hoàn càng gây thêm mối thù
    oán.
    Hồi 85. Giả Chính được thăng chức lang trung; Tiết Bàn
    lại gây nên tù tội.
    Hồi 86. Ăn của đút, quan già thay án kiện; Gửi tình
    riêng, gái trẻ giảng cầm thư.






    Hồi 87. Cảm thấy gió thu, gảy đàn buồn thương chuyện
    cũ; Say ngồi nhập định, tà hỏa lẩn vào trong tim.
    Hồi 88. Muốn bà vui, Bảo Ngọc khen cháu bé mồ côi;
    Nghiêm phép nhà, Giả Trân đánh người hầu cứng cổ.
    Hồi 89. Người đâu vật còn đây, công tử làm bài từ; Bóng
    cung ngỡ là rắn, Tần Khanh đành tuyệt thực.
    Hồi 90. Mất áo bông, gái nghèo ngấm ngầm bực bội;
    Đưa hoa quả, chú em nghĩ ngợi vẩn vơ.
    Hồi 91. Định thỏa lòng dâm, Bảo Thiềm bày mưu kế;
    Bày ra nghi trận, Bảo Ngọc bàn đạo thiền.
    Hồi 92. Bàn chuyện gái hiền, Xảo Thư mến người trinh
    thục; Xem hạt châu lớn, Giả Chính tính chuyện hợp tan.
    Hồi 93. Người họ Chân đến nương nhờ họ Giả; Am Thủy
    Nguyệt vỡ lở án gió trăng.
    Hồi 94. Giả mẫu bày tiệc, thưởng Hải Đường nở hoa;
    Bảo Ngọc mất ngọc, biết tai ương sắp đến.
    Hồi 95. Tin đồn không sai, Nguyên Phi đã mất; Giả thực
    lẫn lộn, Bảo Ngọc hoá ngây.
    Hồi 96. Giấu hẳn tăm hơi, Phượng Thư bày kế lạ; Cơ
    mưu đã lộ, Đại Ngọc mất tính thường.
    Hồi 97. Đốt cảo thơ, Đại Ngọc dứt tình si; Về nhà chồng,
    Bảo Thoa thành lễ lớn.
    Hồi 98. Giáng Châu đau buồn, hồn về nơi ly hận; Thần
    Anh mang bệnh, lệ tràn cõi tương tư.
    Hồi 99. Giữ phép công bọn hầu ác cùng nhau phá lệ;
    Xem tin báo ông cậu già đâm ra lo phiền.
    Hồi 100. Làm hỏng mất dịp tốt, Hương Lăng gây mối
    oán thù; Thương em lấy chồng xa, Bảo Ngọc cảm tình ly
    biệt.
    Hồi 101. Vườn Đại Quan đêm trăng rợn hồn ma; Chùa
    Tán Hoa quẻ thần ghê điềm lạ.
    Hồi 102. Phủ Ninh quốc, ruột thịt bị tai ương; Vườn Đại
    Quan, phù thủy trừ yêu quái.
    Hồi 103. Giở kế độc ác, Kim Quế tự giết mình; Không
    hiểu đạo thiền, Vũ Thôn gặp người cũ.
    Hồi 104. Kim cương say, cá nhỏ gây thành sóng lớn;
    Công tử ngốc, thương thừa nhớ lại tình xưa.
    Hồi 105. Quân Cẩm y khám biên phủ Ninh quốc; Quan
    ngự sử tâu hặc châu Bình An.

    ế


    Hồi 106. Gây tai ương, Vương Hy Phượng xiết bao hổ
    thẹn; Tránh họa hoạn, Giả Thái Quân cầu khấn phật
    trời.
    Hồi 107. Cho của thừa, Giả mẫu hiểu nghĩa lớn; Phục
    chức cũ, Giả Chính đội ơn trời.
    Hồi 108. Tiệc bày vui gượng, viện Hoành Vu mừng ngày
    sinh; Chết vẫn say đời, quán Tiêu Tương nghe quỉ khóc.
    Hồi 109. Hồn thơm chờ đợi, con Năm may được yêu
    nhầm; Oan án trả xong, Nghênh Xuân trở về cõi lạc.
    Hồi 110. Sử Thái Quân tuổi già về nơi địa phủ; Vương
    Hy Phượng sức kiệt làm mất lòng người.
    Hồi 111. Gái Uyên Ương theo chủ lên chầu trời; Hầu
    chó lớn đem người về cướp của.
    Hồi 112. Sống đầy oan nghiệt, Diệu Ngọc bị giặc cướp
    đi; Chết vì hiềm thù, dì Triệu sa xuống âm phủ.
    Hồi 113. Ăn năn lỗi trước, Phượng Thư nhờ cậy già Lưu;
    Quên hẳn hiềm xưa, Tử Quyên cảm thương Bảo Ngọc.
    Hồi 114. Vương Hy Phượng trải qua cơn ảo nhớ lại Kim
    Lăng; Chân Ứng Gia được đội ơn vua về chầu ngọc
    khuyết.
    Hồi 115. Tri lời thiên lệnh, Tích Xuân thề vẫn giữ chí
    xưa; Tên người dù giống nhau, Bảo Ngọc không coi là
    tri kỷ.
    Hồi 116. Được ngọc thiêng, nhận thấy duyên tiên nơi
    Ảo Cảnh; Trọn đạo hiếu, đưa linh cữu mẹ về cố hương.
    Hồi 117. Ngăn việc tu hành, hai gái đẹp cố giữ viên
    ngọc; Thích họp bạn xấu, một con hư coi giữ việc nhà.
    Hồi 118. Nhớ hiềm xưa, ông cậu lừa gái nhỏ; Sợ nói
    nhảm, vợ hầu can chàng ngây.
    Hồi 119. Đỗ hương khôi, Bảo Ngọc rũ sạch duyên trần;
    Đội ơn vua, họ Giả dồi dào hưởng phúc.
    Hồi 120. Chân Sĩ Ẩn kể rõ cảnh Thái Hư; Giả Vũ Thôn
    kết thúc Hồng Lâu Mộng.

    TÀO TUYẾT CẦN
    CAO NGẠC

     

    HỒNG LÂU MỘNG
     
    Tập 1

    Hình minh họa: Đới Đôn Bảng

    Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Doãn Địch, Nguyễn
    Thọ dịch

    Thông tin sách:
     
    Tên sách: Hồng Lâu Mộng
    Tác giả: Tào Tuyết Cần, Cao Ngạc
    Nhóm dịch giả: Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Doãn Địch, Nguyễn
    Thọ
    Nguồn sách: vnthuquan.net
    do các thành viên Tiểu Hồ Tiên, Thất Sơn anh hùng, Nữ Hiệp
    Dễ Thương, Lat Dat, Hoa tuy lip đen thực hiện phần phiên
    âm, thơ, từ, … sưu tầm được trên mạng (thivien.net, v.v.)
     
    Ebook này không đúng hoàn toàn với nguyên bản.

    MỤC LỤC
    Lời giới thiệu
    Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu trong Hồng Lâu
    Mộng
    Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
    Hồi 1. Chân Sĩ Ẩn trong mộng ảo biết đá thiêng; Giả Vũ
    Thôn lúc phong trần mơ người đẹp.
    Hồi 2. Giả phu nhân tạ thế ở thành Dương Châu; Lãnh Tử
    Hưng kể chuyện trong phủ Vinh quốc.
    Hồi 3. Nhờ anh vợ, Như Hải đền được ơn dạy bảo; Đón cháu
    ngoại, Giả mẫu xót thương trẻ mồ côi.
    Hồi 4. Gái bạc mệnh gặp trai bạc mệnh; Sư Hồ Lô xử án Hồ
    Lô.
    Hồi 5 Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê; Uống rượu
    tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc.
    Hồi 6. Giả Bảo Ngọc mới thử cuộc mây mưa; Lưu lão lão đến
    thăm phủ Vinh quốc.
    Hồi 7. Đem biếu cung hoa, Giả Liễn đùa Hy Phượng; Ăn yến
    Ninh phủ, Bảo Ngọc gặp Tần Chung.
    Hồi 8. So ngọc thông linh, Kim Oanh hơi ngỏ ý; Thăm dò cô
    Bảo, Đại Ngọc nếm phải chua.
    Hồi 9. Quen nết phong lưu, bạn đa tình cùng vào trường học;
    Gây chuyện ngờ vực, tên ngoan đồng làm nhộn thư đường.
    Hồi 10. Kim quả phụ tham lợi chịu nhẫn nhục; Trương thái y
    xem bệnh nói gốc nguồn.
    Hồi 11. Mừng sinh nhật, phủ Ninh bày tiệc linh đình; Gặp Hy
    Phượng, Giả Thụy động lòng dâm dục.
    Hồi 12. Vương Hy Phượng độc ác, bày cuộc tương tư; Giả
    Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt.
    Hồi 13. Tần Khả Khanh chết được phong Long Cẩm Úy;
    Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh.
    Hồi 14. Lâm Như Hải từ trần ở thành Dương Châu; Giả Bảo
    Ngọc giữa đường chào vua Bắc Tĩnh.
    Hồi 15. Vương Phượng Thư lộng quyền ở chùa Thủy Nguyệt;
    Tần Kình Khanh gặp gái trong am Mạn Đầu.
    Hồi 16. Giả Nguyên Xuân có tài, được tuyển vào cung
    Phượng Tảo; Tần Kình Khanh còn trẻ, đã thác xuống cõi
    Hoàng Tuyền.




    Hồi 17 và 18. Đề câu đối trong vườn Đại Quan, thử tài Bảo
    Ngọc; Về thăm nhà ở phủ Vinh quốc, gặp tiết nguyên tiêu.
    Hồi 19. Tình đằm thắm đêm khuya hoa biết nói; Ý triền
    miên ngày vắng ngọc thêm hương.
    Hồi 20. Phượng Thư thẳng thắn dẹp hẳn thói ghen tuông;
    Đại Ngọc tinh ranh nói những câu bỡn cợt.
    Hồi 21. Giả cách giận hờn, Tập Nhân răn Bảo Ngọc; Trả lời
    khôn khéo, Bình Nhi cứu Giả Liễn.
    Hồi 22. Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền; Đánh đố thơ,
    Giả Chính lo lời sấm.
    Hồi 23. Mượn câu văn Tây Sương Ký, giở giọng giỡn đùa;
    Nghe khúc hát Mẫu Đơn Đình, chạnh lòng hờn tủi.
    Hồi 24. Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bạc coi
    khinh; Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn.
    Hồi 25. Mắc phải thuật năm con quỷ, chị em hóa điên rồ;
    Nhờ được phép hai vị tiên, ngọc thiêng hết mờ ám.
    Hồi 26. Cầu Phong Yêu nói lóng đưa tình kín; Quán Tiêu
    Tương xuân buồn tỏ nỗi riêng.
    Hồi 27. Đình Trích Thúy, Dương Phi đùa bướm trắng; Mộ
    Mai Hương, Phi Yến khóc hoa tàn.
    Hồi 28. Ngọc Hàm tặng thắt lưng, gợi được mối tình; Bảo
    Thoa cởi chuỗi thơm, lộ ra vẻ thẹn.
    Hồi 29. Người hưởng phúc, phúc nhiều, còn cầu xin thêm
    phúc; Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì tình.
    Hồi 30. Bảo Thoa mượn cái quạt, nói cạnh cả hai bên; Linh
    Quan vạch chữ “Tường”, làm ngây người ngoài cuộc.
    Hồi 31. Xé tan cái quạt, nghìn vàng mua lấy một trận cười;
    Điềm ứng kỳ lân, hai sao gặp nhau khi đầu bạc.
    Hồi 32. Giải bày hết tâm can, Bảo Ngọc đâm ra mê mẩn;
    Không chịu được sỉ nhục, Kim Xuyến đành phải liều thân.
    Hồi 33. Coi anh như thù, giọng lưỡi ton hót; Đẻ con bất hiếu,
    roi vọt dập vùi.
    Hồi 34. Mối tình ngổn ngang, thấy tình cô em càng thêm
    thấm thía; Lỗi lầm chồng chất, lấy lầm khuyên anh xiết nỗi
    buồn rầu.
    Hồi 35. Ngọc Xuyến được nếm canh lá sen; Oanh Nhi khéo
    tết dây hoa mai.
    Hồi 36. Thêu bức uyên ương, hiên Giáng Vân mộng lành báo
    trước; Ngẫm đường tình phận, viện Lê Hương duyên đẹp


    định rồi.
    Hồi 37. Thu Sảng trai, định mở Xã hải đường; Hành Vu uyển,
    đêm nghĩ bài hoa cúc.
    Hồi 38. Lâm Tiêu Tương đứng đầu những thơ ngâm cúc; Tiết
    Hành Vu mỉa đời trong bài vịnh cua.
    Hồi 39. Già nhà quê hay nói huênh hoang; Cậu có tình cứ
    tìm ngành ngọn.
    Hồi 40. Vườn Đại Quan, Sử Thái Quân hai lần mở tiệc; Gieo
    súc sắc, Kim Uyên Ương ra lệnh đố thơ.

    Lời giới thiệu
     
    Trong lịch sử văn học Trung Quốc: Hồng Lâu Mộng có một
    vị trí đặc biệt. Người Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về
    nó1, sáng tác về nó đến nỗi nói:
    “Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng,
    Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!”
    (Mở miệng mà không nói Hồng Lâu Mộng thì đọc hết cả thi
    thư cũng vô ích!)
    Có một ngành học chuyên nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng,
    gọi là Hồng học; gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc in
    chuyên san “Hồng Lâu Mộng nghiên cứu”. Có lẽ trên thế giới
    chỉ có Shakespeare là có một vinh dự lớn lao như thế, vì có
    “Shakespeare học”. Cái gì làm người Trung Quốc say Hồng
    Lâu Mộng “như điếu đổ” vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm
    đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời đại. Thời nhà Thanh,
    dưới thời các hoàng đế Ung Chính, Càn Long (1723 1795) là
    thời kinh tế phồn vinh, chẳng những công nghiệp, thủ công
    nghiệp, mà cả khai thác mỏ, thương nghiệp… cũng phát
    triển mạnh mẽ. Các thành thị lớn như Nam Kinh, Dương
    Châu, Võ Xương, Nhạc Châu… buôn bán, sản xuất sầm uất là
    những đô thị lớn. Chỉ kể một thị trấn như Thanh Giang bên
    bờ Vận Hà thôi mà thời đó đã có hơn nửa triệu dân! Nền
    kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa đó trong lòng xã hội phong
    kiến chuyên chế mọt ruỗng và đang trên đà tan rã, đã đẻ ra
    một tầng lớp người thành thị, những người này có những
    nhu cầu thẩm mỹ mới. Tây Sương Ký, Mẫu Đơn Đình, Cổ kim
    tiểu thuyết, Liêu Trai… là những tác phẩm tả tình yêu, những
    số phận, những buồn vui cá nhân…, chính là sự “thăng hoa”
    của cuộc sống đã bắt đầu khác trước về chất của người thành
    thị. Hồng Lâu Mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời
    đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội
    phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều truyền
    thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu
    đương, giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao
    một lý tưởng cho cuộc sống… Tất cả những cái đó có những
    mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu Thanh,
    nhưng nó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân
    đương thời. Giữa những khát vọng sâu xa ấy của con người
    thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật, đã có
    một cuộc hẹn hò tuyệt diệu qua Hồng Lâu Mộng.


    ế



    Tác giả chính của Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần 1716(?)
    1763(?) giống như phần lớn các nhà văn lớn Trung Hoa
    trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn”, là để
    ký thác những suy tư về con người và thời đại. Ông vốn sinh
    ra trong một gia đình đại quý tộc. Từ đời tằng tổ đến đời
    cha, thay nhau tập chức “Giang Ninh chức tạo” là một chức
    quan to thu thuế. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương
    Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào, đủ biết sự sủng ái của nhà
    vua với gia đình ông ra sao! Và cũng có thể đoán biết cuộc
    sống trong phủ Giang hồi đó xa hoa, vương giả như thế nào!
    Trong Hồng Lâu Mộng, Nguyên Phi về thăm nhà có một buổi
    mà phải xây cất bao nhiêu đình tạ trong vườn Đại Quan, nữa
    là hoàng đế tuần du ngự đến nhà. Nhà ông chẳng những là
    hào môn vọng tộc hiển hách như thế, lại còn có truyền thống
    văn chương. Ông nội ông, Tào Dần, từng in bộ “Toàn Đường
    thi” trứ danh, và là một nhà thơ, tác giả “Luyện đình thi sao”.
    Nhưng cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua,
    đã tan vỡ. Lúc Tào Tuyết Cần lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau
    rồi: cha bị khép tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sản, nhà họ
    Tào suy sụp và ông phải về sống ở vùng ngoại ô phía tây
    thành Bắc Kinh trong cảnh: “cả nhà rau cháo, rượu thường
    mua chịu”. Hồng Lâu Mộng do đó có thể xem là phản quang
    những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quý tộc đã tan
    vỡ đó. Một mặt, đó là sự nhớ tiếc khôn nguôi những huy
    hoàng của vàng son lộng lẫy, cảm thấy tất cả nhuốm màu thê
    lương, hư vô, tất cả đều xê dịch về phía bế tắc, hủy diệt, tất cả
    đều đáng ân hận, và chỉ có thể cứu chuộc bằng hư vô, bằng
    siêu hình, bằng tôn giáo! Nhưng mặt khác, từ trong cuộc
    sống nghèo khó hôm nay, quay đầu nhìn lại thì cái khoảng
    cách lớn lao đó làm cho ông thấy được rõ hơn, khách quan
    hơn, bình tĩnh hơn những gì ông đã thấy, đã nếm trải về
    cuộc sống thối nát của giai cấp quý tộc và sự miêu tả khách
    quan “những quan hệ hiện thực” này làm ông trở thành một
    nhà hiện thực. Chí ít thì về mặt đó, ông đã lay chuyển được
    “niềm lạc quan về cái trật tự hiện tồn”, và như thế, ông là sản
    phẩm của một thời đại, đồng thời đã nhìn xa hơn thời đại.
    Tào Tuyết Cần để 10 năm để viết 80 hồi đầu Hồng Lâu
    Mộng: “Xem ra chữ chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười
    năm khéo lạ lùng”; năm lần sửa chữa, trong cảnh cùng khốn,
    ốm đau không tiền chạy thuốc, trong cảnh đứa con yêu của
    ông chết. Và ông đã lìa đời trong cảnh đau khổ dồn dập đó.
    Bình sinh, ông vẽ giỏi, hay thơ, thích rượu, cuồng phong.
    Người ta chỉ biết được về ông có thế thôi! Hai mươi tám năm
    sau khi ông mất, Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi, đến khoảng 1792
    1793 thì Hồng Lâu Mộng được in và lưu truyền khắp Trung
    Quốc. Những hồi Cao Ngạc viết tiếp thì không thể hay bằng
    những hồi Tào Tuyết Cần viết, nhưng cũng phải nói là Cao
    Ngạc đã sống với tác phẩm và tri âm tác giả, nên đã hoàn
    ế





    ế

    thành dự định của Tào Tuyết Cần và nối tiếp bút lực của
    người đi trước, hoàn thành và bộc lộ trọn vẹn tư tưởng của
    tác phẩm, khiến cho tác phẩm vẫn giữ được vẻ hấp dẫn
    mãnh liệt.2

    Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu
    trong Hồng Lâu Mộng
     
    Câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuyên
    suốt qua toàn bộ tác phẩm, làm nên chủ đề chính của cuốn
    tiểu thuyết vĩ đại này. Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, hai
    anh em cô cậu ruột, cùng ở chung một nhà từ bé. Lớn lên, vì
    Bảo Ngọc được bà nội nuông chiều, riêng cho ở trong vườn
    Đại Quan cùng với đám “quần thoa”, nên anh ta và Đại Ngọc
    gần gũi nhau. Nhưng đây không phải là câu chuyện “lửa gần
    rơm…” Đây cũng không phải chỉ là câu chuyện “tài tử giai
    nhân là nợ sẵn”. Tình yêu của họ còn có nguyên cớ sâu xa
    hơn nhiều; họ nói như Saint Exupéry: “Yêu nhau không chỉ
    là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là họ
    “đồng điệu”, “tri âm” lẫn nhau trên những vấn đề có ý nghĩa
    cuộc sống. Nói cho đúng, lúc đầu Bảo Ngọc cũng còn có chút
    phân vân. Anh ta sống giữa đám a hoàn nhan sắc, những
    Tập Nhân, Tình Văn… những người này là những phụ nữ
    xuất thân từ tầng lớp dưới, được họ Giả mua về hầu hạ,
    nhưng đó là những người có tình, có phẩm chất tốt đẹp. Họ
    chính là một bức màn ngăn bụi trần của phủ Vinh quốc đầy
    dẫy những hạng đàn ông ô trọc. Bảo Ngọc cảm nhận được
    thực chất vị tha, quên mình đầy dịu dàng của họ, anh ta như
    một người được vây bọc bởi sự tận tụy, thương yêu… của
    những nữ tỳ đồng thời cũng là “nữ thần” này. Do đó không lạ
    gì mà Bảo Ngọc đã nêu lên cái “nguyên lý nữ tính” rất xa lạ
    với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến:
    “Xương thịt con gái là nước kết thành. Xương thịt con trai là
    bùn kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ
    nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bẩn”.
    Trong phủ Giả lúc đó còn có cô em họ Tiết Bảo Thoa ở nhờ.
    Bảo Thoa đẹp, đức hạnh, nết na theo đúng nếp nhà phong
    kiến. Bảo Ngọc cũng mến Bảo Thoa, gần nàng, anh chàng
    đôi lúc cũng thấy xiêu xiêu, quả có như lời Lâm Đại Ngọc
    “gần cô chị thì quên khuấy cô em!” Nhưng rồi dần dần, Bảo
    Ngọc chỉ yêu có Đại Ngọc thôi. Đại Ngọc kiều diễm, yếu đuối,
    là một tâm hồn dễ cảm xúc, một tâm hồn nhạy cảm và
    phong phú đó là một tâm hồn thơ đích thực; và đó là điều
    mà họ gặp nhau. Quan trọng hơn, là trong khi cả nhà chờ
    mong Bảo Ngọc học giỏi thi đỗ, làm quan giữ nếp nhà…, thì


    Bảo Ngọc lại chán ngấy cái con đường mòn nhàm chán đó,
    và người hiểu anh duy nhất là Đại Ngọc. Bảo Ngọc, chàng
    trai được nhốt trong cái lồng kính quý tộc đầy cao lương
    gấm vóc, anh ta được người ta dùng gia giáo, thi giáo, lễ
    pháp… để ràng buộc theo con đường vạch sẵn. Giả Bảo Ngọc
    bị mất tự do, và anh ta cảm thấy sâu sắc điều đó, nên lúc nào
    anh ta cũng vùng vẫy tìm lối thoát, tìm cách phản kháng lại.
    Như một con chim khao khát trời xanh rộng lớn bị nhốt vào
    cái lồng vàng chật hẹp, Giả Bảo Ngọc sống không yên ổn.
    Anh lục lọi sách vở, đi vào triết học cổ, đi vào “tham thiền
    ngộ đạo”… nhưng những cái đó không cung cấp được cho
    anh một vũ khí tư tưởng nào để tự giải phóng! Mà thực ra,
    thì anh cũng lẩn quẩn, loanh quanh; anh ta là một sản phẩm
    đầy mâu thuẫn của một xã hội cũng đang chứa đầy mâu
    thuẫn, một xã hội đang tìm lối ra nhưng không có lối ra. Rốt
    cuộc, anh ta tỏ thái độ hoài nghi những gì “thánh hiền” đã
    viết, đã soạn, cho đó là “soạn bậy”, là “bịa”, là “nói tầm bậy”.
    Đối với đạo đức phong kiến mà cái cao nhất là “tôi trung con
    hiếu”, “sát thân thành nhân”, anh ta dám nói những lời “cách
    mệnh”: “Những bọn mày râu dơ bẩn, chỉ biết “quan văn chết
    vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc”, là hai cái chết của
    kẻ đại trượng phu, thành ra chỉ làm rối lên, nào có biết đâu
    có vua ngu mới có bầy tôi chết vì lời can gián; chỉ lo ra công
    đánh giặc, liều mình hy sinh, tương lai sẽ bỏ nước cho ai”.
    Thật là lời lẽ của kẻ “đại nghịch vô đạo”. Tất nhiên, nói cho
    công bằng, đó là một đôi ý nghĩ đột xuất của anh chàng này,
    còn như bình thường, anh ta vẫn phải nép mình trong lồng
    cũi tuân phục “di huấn thánh nhân”. Trong hoàn cảnh đó,
    Lâm Đại Ngọc đã đến. Họ đã đến với nhau không dễ dàng.
    Đại Ngọc vì gia cảnh đến ở nhờ trong phủ họ Giả, tuy là cháu
    ngoại đấy, nhưng vẫn bị Giả mẫu xem là “người ngoài”: “nữ
    nhi ngoại tộc”. Cái mặc cảm “ăn bám ở nhờ” luôn luôn làm
    nàng đau khổ nàng vốn là người nhiều tự ái, là người nhạy
    cảm, khó hòa hợp với chung quanh và do đó cô đơn. Tình
    cảnh của nàng còn bi đát hơn Bảo Ngọc nhiều, vì nàng là con
    gái, là phận ở nhờ, mà trong cái xã hội ghê khiếp ấy, thì nàng
    chẳng là cái gì cả, nàng chỉ là một cánh bèo dạt, một cánh
    hoa rơi! Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, cho
    nên nàng luôn buồn thương vô hạn. Tâm hồn nàng như một
    sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt mưa thu hay tơ liễu
    bay đều âm vang một điệu buồn đứt ruột! Cái yếu đuối, cái
    “đa sầu đa cảm” của nàng cũng là một nét tính cách riêng
    nhưng xuất phát từ những điều kiện của thời đại. Giả Bảo
    Ngọc và Lâm Đại Ngọc đã đến với nhau như thế và đã đến
    với nhau rồi, hiểu lòng nhau rồi, họ vẫn sống những ngày
    tháng không yên. Trong tình yêu này, họ chưa được hưởng
    bao nhiêu hạnh phúc; chưa nếm mật ngọt tình yêu, họ đã
    linh cảm thấy mật đắng của đời! Họ luôn luôn bị bủa vây
    ế

    trong trùng điệp của mạng lưới phong kiến. Họ không phải
    là người quyết định được tình yêu của mình. Cuối cùng, Giả
    mẫu và bọn phu nhân trong phủ họ Giả đã quyết định! Họ
    đã chọn Tiết Bảo Thoa cho Bảo Ngọc. Và một khi đã chọn, họ
    đã nhẫn tâm theo kế “đánh tráo” của Phượng Thư. Bảo Ngọc
    cứ yên trí là “cưới em Lâm”, hóa ra lúc giở khăn che mặt, lại
    là Bảo Thoa; Bảo Ngọc lúc bấy giờ mới bật ngửa, mà Lâm Đại
    Ngọc thì sau cơn ốm nặng, đã chết trong niềm đau đớn, oán
    hận bằng đốt thơ, đốt khăn tặng trong lúc cả nhà mừng đám
    cưới của người mình yêu! Kết thúc tấn bi kịch này, Bảo Ngọc
    trốn nhà đi tu; và Bảo Thoa làm một người góa phụ trẻ đau
    khổ.

    Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
     
    Hồng Lâu Mộng không những đã đưa lại một nội dung mới
    mang ý nghĩa thời đại; nó còn làm được một việc vĩ đại nữa
    là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn nói: “Từ
    khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền
    thống đã bị phá vỡ”. Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ
    yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc, Thủy hử, Tây
    du ký… thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên
    ngoài và lời nói của nhân vật. Con người trong những tiểu
    thuyết đó, sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp mang
    tính chất phương thức sản xuất châu Á, có bề giản đơn, nhất
    quán trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường.
    Những truyện ngắn “truyền kỳ”, những truyện ngắn trong
    Liêu Trai đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân
    với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng
    vẫn chưa có một thi pháp tiểu thuyết thực sự phản ánh một
    cách nhìn mới về con người. Hồng Lâu Mộng đã làm được
    việc đó. Dĩ nhiên là trong những hạn chế gay gắt của thời
    đại. Dù cho có những nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhân tố kinh
    tế hàng hóa, thị trường, thành phố, thị dân… xã hội Trung
    Quốc vẫn là xã hội phong kiến, và cái con người “mới” mà
    người ta chờ đợi đó đã xuất hiện chưa hoàn chỉnh; thi pháp
    tiểu thuyết trong Hồng Lâu Mộng đã mang một số nhân tố
    mới của tiểu thuyết cận đại phương Tây, nhưng nó không thể
    đi xa hơn nữa. Nó vẫn còn bị giam mình trong cái khung
    tiểu thuyết chương hồi truyền thống, lấy “kể việc” làm
    phương tiện chủ yếu khám phá của con người. Nhưng, xét
    cho kỹ thì phải ghi nhận những yếu tố mới ở Hồng Lâu Mộng
    là rất có ý nghĩa. Trước hết, đó là cách nhìn con người trong
    sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện chứng, có
    chiều sâu đầy kịch tính. Số phận và tính cách của Bảo Ngọc
    đã được tác giả miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn


    giữa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng nề của gia đình
    và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu
    như chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như
    chẳng làm được gì, chẳng chiến đấu dũng mãnh gì để đoạt
    lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi
    chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt
    tập thơ…, không phải là không có lý! Anh ta chưa bao giờ
    xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng, kiên
    định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại,
    anh ta sinh ra đau thần kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì
    suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi kịch. Cuối
    cùng giải pháp “đi tu” phản ánh sự từ chối, sự phản kháng
    dẫu yếu ớt đã được anh ta chọn lựa. Đi thi và thi đỗ cao để
    an ủi gia đình, rồi bỏ trốn đi tu, Bảo Ngọc đã đi hết sự phát
    triển tính cách một cách hợp lý và quả là qua số phận anh
    ta, như một số nhà nghiên cứu nhận định, có sự gởi gắm, có
    sự thể hiện một phần nào bản thân tác giả. Đó đúng là một
    số phận tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại của từ này. Lâm
    Đại Ngọc là một tính cách thú vị khác. Nàng yêu Bảo Ngọc,
    nhưng do thân phận của nàng, mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời là
    nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự tuyệt… “Bảo Ngọc
    cười nói:
    Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh, cô là trang nghiêng nước
    nghiêng thành3. Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ
    bừng lên, lập tức dựng ngược lông mày, như cau lại mà
    không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà không phải
    trợn. Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Bảo
    Ngọc: Anh nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem những lời lẳng
    lơ suồng sã lăng nhăng để khinh nhờn tôi! Tôi về mách cậu
    mợ đấy” (hồi 23). Điều đó làm cho nàng trở nên đáng yêu và
    tội nghiệp, làm cho nàng trở nên nhiều nữ tính hơn. Không
    một nét giả dối, nàng là một nhân vật đã hiện ra với chiều
    sâu tâm lý đa dạng, được bộc lộ qua tình ...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama