GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
Hồng Lâu Mộng - Tào Tuyết Cần _ Cao Ngạc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:32' 07-03-2024
Dung lượng: 44.0 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:32' 07-03-2024
Dung lượng: 44.0 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Hồng Lâu Mộng Tập 1 by Tào Tuyết Cần
Lời giới thiệu
Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu trong Hồng Lâu
Mộng
Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
Hồi 1. Chân Sĩ Ẩn trong mộng ảo biết đá thiêng; Giả Vũ
Thôn lúc phong trần mơ người đẹp.
Hồi 2. Giả phu nhân tạ thế ở thành Dương Châu; Lãnh
Tử Hưng kể chuyện trong phủ Vinh quốc.
Hồi 3. Nhờ anh vợ, Như Hải đền được ơn dạy bảo; Đón
cháu ngoại, Giả mẫu xót thương trẻ mồ côi.
Hồi 4. Gái bạc mệnh gặp trai bạc mệnh; Sư Hồ Lô xử án
Hồ Lô.
Hồi 5 Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê; Uống
rượu tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc.
Hồi 6. Giả Bảo Ngọc mới thử cuộc mây mưa; Lưu lão lão
đến thăm phủ Vinh quốc.
Hồi 7. Đem biếu cung hoa, Giả Liễn đùa Hy Phượng; Ăn
yến Ninh phủ, Bảo Ngọc gặp Tần Chung.
Hồi 8. So ngọc thông linh, Kim Oanh hơi ngỏ ý; Thăm
dò cô Bảo, Đại Ngọc nếm phải chua.
Hồi 9. Quen nết phong lưu, bạn đa tình cùng vào trường
học; Gây chuyện ngờ vực, tên ngoan đồng làm nhộn thư
đường.
Hồi 10. Kim quả phụ tham lợi chịu nhẫn nhục; Trương
thái y xem bệnh nói gốc nguồn.
Hồi 11. Mừng sinh nhật, phủ Ninh bày tiệc linh đình;
Gặp Hy Phượng, Giả Thụy động lòng dâm dục.
Hồi 12. Vương Hy Phượng độc ác, bày cuộc tương tư;
Giả Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt.
Hồi 13. Tần Khả Khanh chết được phong Long Cẩm Úy;
Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh.
Hồi 14. Lâm Như Hải từ trần ở thành Dương Châu; Giả
Bảo Ngọc giữa đường chào vua Bắc Tĩnh.
Hồi 15. Vương Phượng Thư lộng quyền ở chùa Thủy
Nguyệt; Tần Kình Khanh gặp gái trong am Mạn Đầu.
ồ
ể
Hồi 16. Giả Nguyên Xuân có tài, được tuyển vào cung
Phượng Tảo; Tần Kình Khanh còn trẻ, đã thác xuống
cõi Hoàng Tuyền.
Hồi 17 và 18. Đề câu đối trong vườn Đại Quan, thử tài
Bảo Ngọc; Về thăm nhà ở phủ Vinh quốc, gặp tiết
nguyên tiêu.
Hồi 19. Tình đằm thắm đêm khuya hoa biết nói; Ý triền
miên ngày vắng ngọc thêm hương.
Hồi 20. Phượng Thư thẳng thắn dẹp hẳn thói ghen
tuông; Đại Ngọc tinh ranh nói những câu bỡn cợt.
Hồi 21. Giả cách giận hờn, Tập Nhân răn Bảo Ngọc; Trả
lời khôn khéo, Bình Nhi cứu Giả Liễn.
Hồi 22. Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền; Đánh
đố thơ, Giả Chính lo lời sấm.
Hồi 23. Mượn câu văn Tây Sương Ký, giở giọng giỡn
đùa; Nghe khúc hát Mẫu Đơn Đình, chạnh lòng hờn tủi.
Hồi 24. Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bạc coi
khinh; Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn.
Hồi 25. Mắc phải thuật năm con quỷ, chị em hóa điên
rồ; Nhờ được phép hai vị tiên, ngọc thiêng hết mờ ám.
Hồi 26. Cầu Phong Yêu nói lóng đưa tình kín; Quán
Tiêu Tương xuân buồn tỏ nỗi riêng.
Hồi 27. Đình Trích Thúy, Dương Phi đùa bướm trắng;
Mộ Mai Hương, Phi Yến khóc hoa tàn.
Hồi 28. Ngọc Hàm tặng thắt lưng, gợi được mối tình;
Bảo Thoa cởi chuỗi thơm, lộ ra vẻ thẹn.
Hồi 29. Người hưởng phúc, phúc nhiều, còn cầu xin
thêm phúc; Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì
tình.
Hồi 30. Bảo Thoa mượn cái quạt, nói cạnh cả hai bên;
Linh Quan vạch chữ “Tường”, làm ngây người ngoài
cuộc.
Hồi 31. Xé tan cái quạt, nghìn vàng mua lấy một trận
cười; Điềm ứng kỳ lân, hai sao gặp nhau khi đầu bạc.
Hồi 32. Giải bày hết tâm can, Bảo Ngọc đâm ra mê mẩn;
Không chịu được sỉ nhục, Kim Xuyến đành phải liều
thân.
Hồi 33. Coi anh như thù, giọng lưỡi ton hót; Đẻ con bất
hiếu, roi vọt dập vùi.
ồ
ố
ổ
ấ
Hồi 34. Mối tình ngổn ngang, thấy tình cô em càng
thêm thấm thía; Lỗi lầm chồng chất, lấy lầm khuyên
anh xiết nỗi buồn rầu.
Hồi 35. Ngọc Xuyến được nếm canh lá sen; Oanh Nhi
khéo tết dây hoa mai.
Hồi 36. Thêu bức uyên ương, hiên Giáng Vân mộng
lành báo trước; Ngẫm đường tình phận, viện Lê Hương
duyên đẹp định rồi.
Hồi 37. Thu Sảng trai, định mở Xã hải đường; Hành Vu
uyển, đêm nghĩ bài hoa cúc.
Hồi 38. Lâm Tiêu Tương đứng đầu những thơ ngâm
cúc; Tiết Hành Vu mỉa đời trong bài vịnh cua.
Hồi 39. Già nhà quê hay nói huênh hoang; Cậu có tình
cứ tìm ngành ngọn.
Hồi 40. Vườn Đại Quan, Sử Thái Quân hai lần mở tiệc;
Gieo súc sắc, Kim Uyên Ương ra lệnh đố thơ.
Hồng Lâu Mộng Tập 2 by Tào Tuyết Cần
Hồi 41. Am Lũng Thúy, Bảo Ngọc thưởng trà ngon; Viện
Di Hồng, già Lưu say rượu ngủ.
Hồi 42. Giải mối ngờ, Bảo Thoa ngỏ lời thân thiết; Thêm
vui chuyện, Đại Ngọc nói ý xa xôi.
Hồi 43. Ngồi rỗi bày trò, góp tiền ăn sinh nhật; Mối tình
không dứt, vốc đất viếng oan hồn.
Hồi 44. Chuyện xảy bất ngờ, Phượng Thư đâm ghen;
Mừng ngoài tưởng tượng, Bình Nhi trang điểm.
Hồi 45. Bạn kim lan ngỏ chuyện kim lan; Đêm mưa gió
ngâm bài mưa gió.
Hồi 46. Người liều lĩnh khó thoát việc liều lĩnh; Gái
Uyên Ương thề dứt bạn uyên ương.
Hồi 47. Tiết Bàn đa tình bị đánh, Tương Liên sợ tội trốn
đi.
Hồi 48. Dùng bậy chữ tình, nhầm về tình, chàng đi buôn
bán; Mến yêu gái nhã, gặp cuộc nhã, nàng mải ngâm
thơ.
Hồi 49. Cõi lưu ly mai hồng tuyết trắng; Gái son phấn
ăn sống nuốt tanh.
Hồi 50. Am Lư Tuyết nối nhau thơ tức cảnh; Ổ Noãn
Hương khéo đặt câu đố đèn.
ồ
ế
ổ
ồ
Hồi 51. Cô em họ Tiết làm thơ hoài cổ; Lang băm họ Hồ
dùng thuốc hổ lang.
Hồi 52. Bình Nhi cố tình giấu việc mất vòng vàng; Tình
Văn đương ốm, vùng dậy vá áo cừu.
Hồi 53. Đêm trừ tịch, phủ Ninh tế tổ tiên; Tối nguyên
tiêu, phủ Vinh mở yến tiệc.
Hồi 54. Sử Thái Quân bỏ lối chuyện sáo ngày xưa;
Vương Hy Phượng học đòi áo hoa múa hát.
Hồi 55. Mắng con gái mình, dì Triệu tức nhảm; Khinh
cô chủ bé, mụ Ngô ác ngầm.
Hồi 56. Thám Xuân thông thạo, tìm mối lợi bỏ hẳn lệ
xưa; Bảo Thoa khôn ngoan, ra ơn nhỏ giữ gìn thể thống.
Hồi 57. Tử Quyên khôn ngoan, đặt chuyện thử lòng cậu
Bảo; Dì Tiết hiền hậu, đem lời an ủi cô Lâm.
Hồi 58. Dưới bóng hạnh, phượng giả khóc hão huyền;
Bên cửa the, tình thật nghĩ vơ vẩn.
Hồi 59. Bến Liễu Diệp tủi phận yến oanh; Hiên Giáng
Vân nhờ tay ấn quyết.
Hồi 60. Đem phấn mạt ly thay cho bột tường vi; Biếu
mai quế lộ lòi ra bột phục linh.
Hồi 61. Ném chuột sợ vỡ đồ, Bảo Ngọc đành phải nhận
lỗi; Xét việc thấy oan uổng, Bình Nhi khéo tòng quyền.
Hồi 62. Hồi ương Vân ngây thơ, ngủ trên hoa thược
dược; . Hương Lăng trơ trẽn, cởi tấm quần hồng lăng.
Hồi 63. Viện Di Hồng chị em mở tiệc; Nuốt kim đan, Giả
Kính chết oan.
Hồi 64. Gái buồn rầu đề thơ ngũ mỹ; Trai lẳng lơ tặng
ngọc cửu long.
Hồi 65. Giả Liễn vụng trộm cưới dì Hai; Dì Ba quyết
lòng lấy chàng Liễu.
Hồi 66. Cô bé đa tình, hổ vì tình về nơi địa phủ; Chàng
trai lạnh nhạt, khi quá lạnh vào chốn không môn.
Hồi 67. Thấy đồ thổ nghi, Đại Ngọc nhớ quê cũ; Nghe
việc bí mật, Phượng Thư hỏi người hầu.
Hồi 68. Dì Vưu khổ sở, bị lừa vào vườn Đại Quan; Chị
Phượng ghen tuông, làm nhộn ở phủ Ninh quốc.
Hồi 69. Giở lối khôn vặt, mượn gươm giết người; Biết
gặp hạn đen, nuốt vàng thoát kiếp.
ồ
Hồi 70. Lâm Đại Ngọc mở thi xã Đào Hoa; Sử Tương
Vân điền tiểu từ Liễu Nhứ.
Hồi 71. Người hiềm khích cố ý gây hiềm khích; Gái
Uyên Ương vô tình gặp uyên ương.
Hồi 72. Cậy mình khỏe, Vương Phượng Thư kiêng nói
ốm; Ỷ thần thế, vợ Lai Vượng cố ép duyên.
Hồi 73. A hoàn ngớ ngẩn, nhặt nhầm túi xuân tình; Tiểu
thư ươn hèn, bỏ lơ dây kim phượng.
Hồi 74. Quá nghe gièm hót, khám xét vườn Đại Quan;
Thề giữ đoan nghiêm, rào lấp phủ Ninh quốc.
Hồi 75. Mở tiệc đêm khuya, điềm lạ vẳng nghe tiếng
thảm; Thưởng trăng tháng tám, lời nói thành câu sấm
hay.
Hồi 76. Nhà Đột Bích nghe sáo, cảm nỗi ưu sầu; Quán
Ao Tinh nối thơ, buồn đêm vắng lặng.
Hồi 77. A hoàn đẹp, sớm chết oan vì tội phong lưu; Con
hát xinh, cắt tình duyên vào am Thủy Nguyệt.
Hồi 78. Họa sĩ già ra bài từ Quỷ Hoạch; Công tử ngốc
làm văn tế Phù Dung.
Hồi 79. Rước lấy sư tử Hà Đông, Tiết Bàn hối hận; Vớ
phải giống sói Trung Sơn, Nghênh Xuân nhầm to.
Hồi 80. Gặp anh chồng phũ, Hương Lăng bị trận đòn
oan; Chữa đàn bà ghen, đạo sĩ kê bài thuốc nhảm.
Hồng Lâu Mộng Tập 3 by Tào Tuyết Cần
Hồi 81. Bốn chị câu cá chơi, xem ai tốt số; Hai lần vào
trường học, vâng theo lời cha.
Hồi 82. Lấy nghĩa sách giảng bày, cụ đồ già dạy răn
chàng bướng; Thấy ác mộng kinh khủng, gái Tiêu
Tương hoảng sợ ngây hồn.
Hồi 83. Vào cung Vị, thăm Nguyên Phi bị ốm; Nhộn nhà
cửa, làm Bảo Thoa nghẹn lời.
Hồi 84. Thử tài học, Bảo Ngọc được nhắc đến việc hôn
nhân; Thăm cháu ốm, Giả Hoàn càng gây thêm mối thù
oán.
Hồi 85. Giả Chính được thăng chức lang trung; Tiết Bàn
lại gây nên tù tội.
Hồi 86. Ăn của đút, quan già thay án kiện; Gửi tình
riêng, gái trẻ giảng cầm thư.
ồ
ấ
ồ
Hồi 87. Cảm thấy gió thu, gảy đàn buồn thương chuyện
cũ; Say ngồi nhập định, tà hỏa lẩn vào trong tim.
Hồi 88. Muốn bà vui, Bảo Ngọc khen cháu bé mồ côi;
Nghiêm phép nhà, Giả Trân đánh người hầu cứng cổ.
Hồi 89. Người đâu vật còn đây, công tử làm bài từ; Bóng
cung ngỡ là rắn, Tần Khanh đành tuyệt thực.
Hồi 90. Mất áo bông, gái nghèo ngấm ngầm bực bội;
Đưa hoa quả, chú em nghĩ ngợi vẩn vơ.
Hồi 91. Định thỏa lòng dâm, Bảo Thiềm bày mưu kế;
Bày ra nghi trận, Bảo Ngọc bàn đạo thiền.
Hồi 92. Bàn chuyện gái hiền, Xảo Thư mến người trinh
thục; Xem hạt châu lớn, Giả Chính tính chuyện hợp tan.
Hồi 93. Người họ Chân đến nương nhờ họ Giả; Am Thủy
Nguyệt vỡ lở án gió trăng.
Hồi 94. Giả mẫu bày tiệc, thưởng Hải Đường nở hoa;
Bảo Ngọc mất ngọc, biết tai ương sắp đến.
Hồi 95. Tin đồn không sai, Nguyên Phi đã mất; Giả thực
lẫn lộn, Bảo Ngọc hoá ngây.
Hồi 96. Giấu hẳn tăm hơi, Phượng Thư bày kế lạ; Cơ
mưu đã lộ, Đại Ngọc mất tính thường.
Hồi 97. Đốt cảo thơ, Đại Ngọc dứt tình si; Về nhà chồng,
Bảo Thoa thành lễ lớn.
Hồi 98. Giáng Châu đau buồn, hồn về nơi ly hận; Thần
Anh mang bệnh, lệ tràn cõi tương tư.
Hồi 99. Giữ phép công bọn hầu ác cùng nhau phá lệ;
Xem tin báo ông cậu già đâm ra lo phiền.
Hồi 100. Làm hỏng mất dịp tốt, Hương Lăng gây mối
oán thù; Thương em lấy chồng xa, Bảo Ngọc cảm tình ly
biệt.
Hồi 101. Vườn Đại Quan đêm trăng rợn hồn ma; Chùa
Tán Hoa quẻ thần ghê điềm lạ.
Hồi 102. Phủ Ninh quốc, ruột thịt bị tai ương; Vườn Đại
Quan, phù thủy trừ yêu quái.
Hồi 103. Giở kế độc ác, Kim Quế tự giết mình; Không
hiểu đạo thiền, Vũ Thôn gặp người cũ.
Hồi 104. Kim cương say, cá nhỏ gây thành sóng lớn;
Công tử ngốc, thương thừa nhớ lại tình xưa.
Hồi 105. Quân Cẩm y khám biên phủ Ninh quốc; Quan
ngự sử tâu hặc châu Bình An.
ồ
ế
ổ
Hồi 106. Gây tai ương, Vương Hy Phượng xiết bao hổ
thẹn; Tránh họa hoạn, Giả Thái Quân cầu khấn phật
trời.
Hồi 107. Cho của thừa, Giả mẫu hiểu nghĩa lớn; Phục
chức cũ, Giả Chính đội ơn trời.
Hồi 108. Tiệc bày vui gượng, viện Hoành Vu mừng ngày
sinh; Chết vẫn say đời, quán Tiêu Tương nghe quỉ khóc.
Hồi 109. Hồn thơm chờ đợi, con Năm may được yêu
nhầm; Oan án trả xong, Nghênh Xuân trở về cõi lạc.
Hồi 110. Sử Thái Quân tuổi già về nơi địa phủ; Vương
Hy Phượng sức kiệt làm mất lòng người.
Hồi 111. Gái Uyên Ương theo chủ lên chầu trời; Hầu
chó lớn đem người về cướp của.
Hồi 112. Sống đầy oan nghiệt, Diệu Ngọc bị giặc cướp
đi; Chết vì hiềm thù, dì Triệu sa xuống âm phủ.
Hồi 113. Ăn năn lỗi trước, Phượng Thư nhờ cậy già Lưu;
Quên hẳn hiềm xưa, Tử Quyên cảm thương Bảo Ngọc.
Hồi 114. Vương Hy Phượng trải qua cơn ảo nhớ lại Kim
Lăng; Chân Ứng Gia được đội ơn vua về chầu ngọc
khuyết.
Hồi 115. Tri lời thiên lệnh, Tích Xuân thề vẫn giữ chí
xưa; Tên người dù giống nhau, Bảo Ngọc không coi là
tri kỷ.
Hồi 116. Được ngọc thiêng, nhận thấy duyên tiên nơi
Ảo Cảnh; Trọn đạo hiếu, đưa linh cữu mẹ về cố hương.
Hồi 117. Ngăn việc tu hành, hai gái đẹp cố giữ viên
ngọc; Thích họp bạn xấu, một con hư coi giữ việc nhà.
Hồi 118. Nhớ hiềm xưa, ông cậu lừa gái nhỏ; Sợ nói
nhảm, vợ hầu can chàng ngây.
Hồi 119. Đỗ hương khôi, Bảo Ngọc rũ sạch duyên trần;
Đội ơn vua, họ Giả dồi dào hưởng phúc.
Hồi 120. Chân Sĩ Ẩn kể rõ cảnh Thái Hư; Giả Vũ Thôn
kết thúc Hồng Lâu Mộng.
TÀO TUYẾT CẦN
CAO NGẠC
HỒNG LÂU MỘNG
Tập 1
Hình minh họa: Đới Đôn Bảng
Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Doãn Địch, Nguyễn
Thọ dịch
Thông tin sách:
Tên sách: Hồng Lâu Mộng
Tác giả: Tào Tuyết Cần, Cao Ngạc
Nhóm dịch giả: Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Doãn Địch, Nguyễn
Thọ
Nguồn sách: vnthuquan.net
do các thành viên Tiểu Hồ Tiên, Thất Sơn anh hùng, Nữ Hiệp
Dễ Thương, Lat Dat, Hoa tuy lip đen thực hiện phần phiên
âm, thơ, từ, … sưu tầm được trên mạng (thivien.net, v.v.)
Ebook này không đúng hoàn toàn với nguyên bản.
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu trong Hồng Lâu
Mộng
Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
Hồi 1. Chân Sĩ Ẩn trong mộng ảo biết đá thiêng; Giả Vũ
Thôn lúc phong trần mơ người đẹp.
Hồi 2. Giả phu nhân tạ thế ở thành Dương Châu; Lãnh Tử
Hưng kể chuyện trong phủ Vinh quốc.
Hồi 3. Nhờ anh vợ, Như Hải đền được ơn dạy bảo; Đón cháu
ngoại, Giả mẫu xót thương trẻ mồ côi.
Hồi 4. Gái bạc mệnh gặp trai bạc mệnh; Sư Hồ Lô xử án Hồ
Lô.
Hồi 5 Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê; Uống rượu
tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc.
Hồi 6. Giả Bảo Ngọc mới thử cuộc mây mưa; Lưu lão lão đến
thăm phủ Vinh quốc.
Hồi 7. Đem biếu cung hoa, Giả Liễn đùa Hy Phượng; Ăn yến
Ninh phủ, Bảo Ngọc gặp Tần Chung.
Hồi 8. So ngọc thông linh, Kim Oanh hơi ngỏ ý; Thăm dò cô
Bảo, Đại Ngọc nếm phải chua.
Hồi 9. Quen nết phong lưu, bạn đa tình cùng vào trường học;
Gây chuyện ngờ vực, tên ngoan đồng làm nhộn thư đường.
Hồi 10. Kim quả phụ tham lợi chịu nhẫn nhục; Trương thái y
xem bệnh nói gốc nguồn.
Hồi 11. Mừng sinh nhật, phủ Ninh bày tiệc linh đình; Gặp Hy
Phượng, Giả Thụy động lòng dâm dục.
Hồi 12. Vương Hy Phượng độc ác, bày cuộc tương tư; Giả
Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt.
Hồi 13. Tần Khả Khanh chết được phong Long Cẩm Úy;
Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh.
Hồi 14. Lâm Như Hải từ trần ở thành Dương Châu; Giả Bảo
Ngọc giữa đường chào vua Bắc Tĩnh.
Hồi 15. Vương Phượng Thư lộng quyền ở chùa Thủy Nguyệt;
Tần Kình Khanh gặp gái trong am Mạn Đầu.
Hồi 16. Giả Nguyên Xuân có tài, được tuyển vào cung
Phượng Tảo; Tần Kình Khanh còn trẻ, đã thác xuống cõi
Hoàng Tuyền.
ồ
ề
ố
Hồi 17 và 18. Đề câu đối trong vườn Đại Quan, thử tài Bảo
Ngọc; Về thăm nhà ở phủ Vinh quốc, gặp tiết nguyên tiêu.
Hồi 19. Tình đằm thắm đêm khuya hoa biết nói; Ý triền
miên ngày vắng ngọc thêm hương.
Hồi 20. Phượng Thư thẳng thắn dẹp hẳn thói ghen tuông;
Đại Ngọc tinh ranh nói những câu bỡn cợt.
Hồi 21. Giả cách giận hờn, Tập Nhân răn Bảo Ngọc; Trả lời
khôn khéo, Bình Nhi cứu Giả Liễn.
Hồi 22. Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền; Đánh đố thơ,
Giả Chính lo lời sấm.
Hồi 23. Mượn câu văn Tây Sương Ký, giở giọng giỡn đùa;
Nghe khúc hát Mẫu Đơn Đình, chạnh lòng hờn tủi.
Hồi 24. Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bạc coi
khinh; Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn.
Hồi 25. Mắc phải thuật năm con quỷ, chị em hóa điên rồ;
Nhờ được phép hai vị tiên, ngọc thiêng hết mờ ám.
Hồi 26. Cầu Phong Yêu nói lóng đưa tình kín; Quán Tiêu
Tương xuân buồn tỏ nỗi riêng.
Hồi 27. Đình Trích Thúy, Dương Phi đùa bướm trắng; Mộ
Mai Hương, Phi Yến khóc hoa tàn.
Hồi 28. Ngọc Hàm tặng thắt lưng, gợi được mối tình; Bảo
Thoa cởi chuỗi thơm, lộ ra vẻ thẹn.
Hồi 29. Người hưởng phúc, phúc nhiều, còn cầu xin thêm
phúc; Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì tình.
Hồi 30. Bảo Thoa mượn cái quạt, nói cạnh cả hai bên; Linh
Quan vạch chữ “Tường”, làm ngây người ngoài cuộc.
Hồi 31. Xé tan cái quạt, nghìn vàng mua lấy một trận cười;
Điềm ứng kỳ lân, hai sao gặp nhau khi đầu bạc.
Hồi 32. Giải bày hết tâm can, Bảo Ngọc đâm ra mê mẩn;
Không chịu được sỉ nhục, Kim Xuyến đành phải liều thân.
Hồi 33. Coi anh như thù, giọng lưỡi ton hót; Đẻ con bất hiếu,
roi vọt dập vùi.
Hồi 34. Mối tình ngổn ngang, thấy tình cô em càng thêm
thấm thía; Lỗi lầm chồng chất, lấy lầm khuyên anh xiết nỗi
buồn rầu.
Hồi 35. Ngọc Xuyến được nếm canh lá sen; Oanh Nhi khéo
tết dây hoa mai.
Hồi 36. Thêu bức uyên ương, hiên Giáng Vân mộng lành báo
trước; Ngẫm đường tình phận, viện Lê Hương duyên đẹp
ồ
định rồi.
Hồi 37. Thu Sảng trai, định mở Xã hải đường; Hành Vu uyển,
đêm nghĩ bài hoa cúc.
Hồi 38. Lâm Tiêu Tương đứng đầu những thơ ngâm cúc; Tiết
Hành Vu mỉa đời trong bài vịnh cua.
Hồi 39. Già nhà quê hay nói huênh hoang; Cậu có tình cứ
tìm ngành ngọn.
Hồi 40. Vườn Đại Quan, Sử Thái Quân hai lần mở tiệc; Gieo
súc sắc, Kim Uyên Ương ra lệnh đố thơ.
Lời giới thiệu
Trong lịch sử văn học Trung Quốc: Hồng Lâu Mộng có một
vị trí đặc biệt. Người Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về
nó1, sáng tác về nó đến nỗi nói:
“Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng,
Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!”
(Mở miệng mà không nói Hồng Lâu Mộng thì đọc hết cả thi
thư cũng vô ích!)
Có một ngành học chuyên nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng,
gọi là Hồng học; gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc in
chuyên san “Hồng Lâu Mộng nghiên cứu”. Có lẽ trên thế giới
chỉ có Shakespeare là có một vinh dự lớn lao như thế, vì có
“Shakespeare học”. Cái gì làm người Trung Quốc say Hồng
Lâu Mộng “như điếu đổ” vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm
đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời đại. Thời nhà Thanh,
dưới thời các hoàng đế Ung Chính, Càn Long (1723 1795) là
thời kinh tế phồn vinh, chẳng những công nghiệp, thủ công
nghiệp, mà cả khai thác mỏ, thương nghiệp… cũng phát
triển mạnh mẽ. Các thành thị lớn như Nam Kinh, Dương
Châu, Võ Xương, Nhạc Châu… buôn bán, sản xuất sầm uất là
những đô thị lớn. Chỉ kể một thị trấn như Thanh Giang bên
bờ Vận Hà thôi mà thời đó đã có hơn nửa triệu dân! Nền
kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa đó trong lòng xã hội phong
kiến chuyên chế mọt ruỗng và đang trên đà tan rã, đã đẻ ra
một tầng lớp người thành thị, những người này có những
nhu cầu thẩm mỹ mới. Tây Sương Ký, Mẫu Đơn Đình, Cổ kim
tiểu thuyết, Liêu Trai… là những tác phẩm tả tình yêu, những
số phận, những buồn vui cá nhân…, chính là sự “thăng hoa”
của cuộc sống đã bắt đầu khác trước về chất của người thành
thị. Hồng Lâu Mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời
đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội
phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều truyền
thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu
đương, giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao
một lý tưởng cho cuộc sống… Tất cả những cái đó có những
mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu Thanh,
nhưng nó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân
đương thời. Giữa những khát vọng sâu xa ấy của con người
thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật, đã có
một cuộc hẹn hò tuyệt diệu qua Hồng Lâu Mộng.
ồ
ế
ầ
Tác giả chính của Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần 1716(?)
1763(?) giống như phần lớn các nhà văn lớn Trung Hoa
trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn”, là để
ký thác những suy tư về con người và thời đại. Ông vốn sinh
ra trong một gia đình đại quý tộc. Từ đời tằng tổ đến đời
cha, thay nhau tập chức “Giang Ninh chức tạo” là một chức
quan to thu thuế. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương
Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào, đủ biết sự sủng ái của nhà
vua với gia đình ông ra sao! Và cũng có thể đoán biết cuộc
sống trong phủ Giang hồi đó xa hoa, vương giả như thế nào!
Trong Hồng Lâu Mộng, Nguyên Phi về thăm nhà có một buổi
mà phải xây cất bao nhiêu đình tạ trong vườn Đại Quan, nữa
là hoàng đế tuần du ngự đến nhà. Nhà ông chẳng những là
hào môn vọng tộc hiển hách như thế, lại còn có truyền thống
văn chương. Ông nội ông, Tào Dần, từng in bộ “Toàn Đường
thi” trứ danh, và là một nhà thơ, tác giả “Luyện đình thi sao”.
Nhưng cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua,
đã tan vỡ. Lúc Tào Tuyết Cần lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau
rồi: cha bị khép tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sản, nhà họ
Tào suy sụp và ông phải về sống ở vùng ngoại ô phía tây
thành Bắc Kinh trong cảnh: “cả nhà rau cháo, rượu thường
mua chịu”. Hồng Lâu Mộng do đó có thể xem là phản quang
những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quý tộc đã tan
vỡ đó. Một mặt, đó là sự nhớ tiếc khôn nguôi những huy
hoàng của vàng son lộng lẫy, cảm thấy tất cả nhuốm màu thê
lương, hư vô, tất cả đều xê dịch về phía bế tắc, hủy diệt, tất cả
đều đáng ân hận, và chỉ có thể cứu chuộc bằng hư vô, bằng
siêu hình, bằng tôn giáo! Nhưng mặt khác, từ trong cuộc
sống nghèo khó hôm nay, quay đầu nhìn lại thì cái khoảng
cách lớn lao đó làm cho ông thấy được rõ hơn, khách quan
hơn, bình tĩnh hơn những gì ông đã thấy, đã nếm trải về
cuộc sống thối nát của giai cấp quý tộc và sự miêu tả khách
quan “những quan hệ hiện thực” này làm ông trở thành một
nhà hiện thực. Chí ít thì về mặt đó, ông đã lay chuyển được
“niềm lạc quan về cái trật tự hiện tồn”, và như thế, ông là sản
phẩm của một thời đại, đồng thời đã nhìn xa hơn thời đại.
Tào Tuyết Cần để 10 năm để viết 80 hồi đầu Hồng Lâu
Mộng: “Xem ra chữ chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười
năm khéo lạ lùng”; năm lần sửa chữa, trong cảnh cùng khốn,
ốm đau không tiền chạy thuốc, trong cảnh đứa con yêu của
ông chết. Và ông đã lìa đời trong cảnh đau khổ dồn dập đó.
Bình sinh, ông vẽ giỏi, hay thơ, thích rượu, cuồng phong.
Người ta chỉ biết được về ông có thế thôi! Hai mươi tám năm
sau khi ông mất, Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi, đến khoảng 1792
1793 thì Hồng Lâu Mộng được in và lưu truyền khắp Trung
Quốc. Những hồi Cao Ngạc viết tiếp thì không thể hay bằng
những hồi Tào Tuyết Cần viết, nhưng cũng phải nói là Cao
Ngạc đã sống với tác phẩm và tri âm tác giả, nên đã hoàn
ế
ầ
ố
ế
thành dự định của Tào Tuyết Cần và nối tiếp bút lực của
người đi trước, hoàn thành và bộc lộ trọn vẹn tư tưởng của
tác phẩm, khiến cho tác phẩm vẫn giữ được vẻ hấp dẫn
mãnh liệt.2
Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu
trong Hồng Lâu Mộng
Câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuyên
suốt qua toàn bộ tác phẩm, làm nên chủ đề chính của cuốn
tiểu thuyết vĩ đại này. Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, hai
anh em cô cậu ruột, cùng ở chung một nhà từ bé. Lớn lên, vì
Bảo Ngọc được bà nội nuông chiều, riêng cho ở trong vườn
Đại Quan cùng với đám “quần thoa”, nên anh ta và Đại Ngọc
gần gũi nhau. Nhưng đây không phải là câu chuyện “lửa gần
rơm…” Đây cũng không phải chỉ là câu chuyện “tài tử giai
nhân là nợ sẵn”. Tình yêu của họ còn có nguyên cớ sâu xa
hơn nhiều; họ nói như Saint Exupéry: “Yêu nhau không chỉ
là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là họ
“đồng điệu”, “tri âm” lẫn nhau trên những vấn đề có ý nghĩa
cuộc sống. Nói cho đúng, lúc đầu Bảo Ngọc cũng còn có chút
phân vân. Anh ta sống giữa đám a hoàn nhan sắc, những
Tập Nhân, Tình Văn… những người này là những phụ nữ
xuất thân từ tầng lớp dưới, được họ Giả mua về hầu hạ,
nhưng đó là những người có tình, có phẩm chất tốt đẹp. Họ
chính là một bức màn ngăn bụi trần của phủ Vinh quốc đầy
dẫy những hạng đàn ông ô trọc. Bảo Ngọc cảm nhận được
thực chất vị tha, quên mình đầy dịu dàng của họ, anh ta như
một người được vây bọc bởi sự tận tụy, thương yêu… của
những nữ tỳ đồng thời cũng là “nữ thần” này. Do đó không lạ
gì mà Bảo Ngọc đã nêu lên cái “nguyên lý nữ tính” rất xa lạ
với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến:
“Xương thịt con gái là nước kết thành. Xương thịt con trai là
bùn kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ
nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bẩn”.
Trong phủ Giả lúc đó còn có cô em họ Tiết Bảo Thoa ở nhờ.
Bảo Thoa đẹp, đức hạnh, nết na theo đúng nếp nhà phong
kiến. Bảo Ngọc cũng mến Bảo Thoa, gần nàng, anh chàng
đôi lúc cũng thấy xiêu xiêu, quả có như lời Lâm Đại Ngọc
“gần cô chị thì quên khuấy cô em!” Nhưng rồi dần dần, Bảo
Ngọc chỉ yêu có Đại Ngọc thôi. Đại Ngọc kiều diễm, yếu đuối,
là một tâm hồn dễ cảm xúc, một tâm hồn nhạy cảm và
phong phú đó là một tâm hồn thơ đích thực; và đó là điều
mà họ gặp nhau. Quan trọng hơn, là trong khi cả nhà chờ
mong Bảo Ngọc học giỏi thi đỗ, làm quan giữ nếp nhà…, thì
ấ
Bảo Ngọc lại chán ngấy cái con đường mòn nhàm chán đó,
và người hiểu anh duy nhất là Đại Ngọc. Bảo Ngọc, chàng
trai được nhốt trong cái lồng kính quý tộc đầy cao lương
gấm vóc, anh ta được người ta dùng gia giáo, thi giáo, lễ
pháp… để ràng buộc theo con đường vạch sẵn. Giả Bảo Ngọc
bị mất tự do, và anh ta cảm thấy sâu sắc điều đó, nên lúc nào
anh ta cũng vùng vẫy tìm lối thoát, tìm cách phản kháng lại.
Như một con chim khao khát trời xanh rộng lớn bị nhốt vào
cái lồng vàng chật hẹp, Giả Bảo Ngọc sống không yên ổn.
Anh lục lọi sách vở, đi vào triết học cổ, đi vào “tham thiền
ngộ đạo”… nhưng những cái đó không cung cấp được cho
anh một vũ khí tư tưởng nào để tự giải phóng! Mà thực ra,
thì anh cũng lẩn quẩn, loanh quanh; anh ta là một sản phẩm
đầy mâu thuẫn của một xã hội cũng đang chứa đầy mâu
thuẫn, một xã hội đang tìm lối ra nhưng không có lối ra. Rốt
cuộc, anh ta tỏ thái độ hoài nghi những gì “thánh hiền” đã
viết, đã soạn, cho đó là “soạn bậy”, là “bịa”, là “nói tầm bậy”.
Đối với đạo đức phong kiến mà cái cao nhất là “tôi trung con
hiếu”, “sát thân thành nhân”, anh ta dám nói những lời “cách
mệnh”: “Những bọn mày râu dơ bẩn, chỉ biết “quan văn chết
vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc”, là hai cái chết của
kẻ đại trượng phu, thành ra chỉ làm rối lên, nào có biết đâu
có vua ngu mới có bầy tôi chết vì lời can gián; chỉ lo ra công
đánh giặc, liều mình hy sinh, tương lai sẽ bỏ nước cho ai”.
Thật là lời lẽ của kẻ “đại nghịch vô đạo”. Tất nhiên, nói cho
công bằng, đó là một đôi ý nghĩ đột xuất của anh chàng này,
còn như bình thường, anh ta vẫn phải nép mình trong lồng
cũi tuân phục “di huấn thánh nhân”. Trong hoàn cảnh đó,
Lâm Đại Ngọc đã đến. Họ đã đến với nhau không dễ dàng.
Đại Ngọc vì gia cảnh đến ở nhờ trong phủ họ Giả, tuy là cháu
ngoại đấy, nhưng vẫn bị Giả mẫu xem là “người ngoài”: “nữ
nhi ngoại tộc”. Cái mặc cảm “ăn bám ở nhờ” luôn luôn làm
nàng đau khổ nàng vốn là người nhiều tự ái, là người nhạy
cảm, khó hòa hợp với chung quanh và do đó cô đơn. Tình
cảnh của nàng còn bi đát hơn Bảo Ngọc nhiều, vì nàng là con
gái, là phận ở nhờ, mà trong cái xã hội ghê khiếp ấy, thì nàng
chẳng là cái gì cả, nàng chỉ là một cánh bèo dạt, một cánh
hoa rơi! Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, cho
nên nàng luôn buồn thương vô hạn. Tâm hồn nàng như một
sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt mưa thu hay tơ liễu
bay đều âm vang một điệu buồn đứt ruột! Cái yếu đuối, cái
“đa sầu đa cảm” của nàng cũng là một nét tính cách riêng
nhưng xuất phát từ những điều kiện của thời đại. Giả Bảo
Ngọc và Lâm Đại Ngọc đã đến với nhau như thế và đã đến
với nhau rồi, hiểu lòng nhau rồi, họ vẫn sống những ngày
tháng không yên. Trong tình yêu này, họ chưa được hưởng
bao nhiêu hạnh phúc; chưa nếm mật ngọt tình yêu, họ đã
linh cảm thấy mật đắng của đời! Họ luôn luôn bị bủa vây
ế
trong trùng điệp của mạng lưới phong kiến. Họ không phải
là người quyết định được tình yêu của mình. Cuối cùng, Giả
mẫu và bọn phu nhân trong phủ họ Giả đã quyết định! Họ
đã chọn Tiết Bảo Thoa cho Bảo Ngọc. Và một khi đã chọn, họ
đã nhẫn tâm theo kế “đánh tráo” của Phượng Thư. Bảo Ngọc
cứ yên trí là “cưới em Lâm”, hóa ra lúc giở khăn che mặt, lại
là Bảo Thoa; Bảo Ngọc lúc bấy giờ mới bật ngửa, mà Lâm Đại
Ngọc thì sau cơn ốm nặng, đã chết trong niềm đau đớn, oán
hận bằng đốt thơ, đốt khăn tặng trong lúc cả nhà mừng đám
cưới của người mình yêu! Kết thúc tấn bi kịch này, Bảo Ngọc
trốn nhà đi tu; và Bảo Thoa làm một người góa phụ trẻ đau
khổ.
Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
Hồng Lâu Mộng không những đã đưa lại một nội dung mới
mang ý nghĩa thời đại; nó còn làm được một việc vĩ đại nữa
là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn nói: “Từ
khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền
thống đã bị phá vỡ”. Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ
yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc, Thủy hử, Tây
du ký… thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên
ngoài và lời nói của nhân vật. Con người trong những tiểu
thuyết đó, sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp mang
tính chất phương thức sản xuất châu Á, có bề giản đơn, nhất
quán trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường.
Những truyện ngắn “truyền kỳ”, những truyện ngắn trong
Liêu Trai đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân
với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng
vẫn chưa có một thi pháp tiểu thuyết thực sự phản ánh một
cách nhìn mới về con người. Hồng Lâu Mộng đã làm được
việc đó. Dĩ nhiên là trong những hạn chế gay gắt của thời
đại. Dù cho có những nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhân tố kinh
tế hàng hóa, thị trường, thành phố, thị dân… xã hội Trung
Quốc vẫn là xã hội phong kiến, và cái con người “mới” mà
người ta chờ đợi đó đã xuất hiện chưa hoàn chỉnh; thi pháp
tiểu thuyết trong Hồng Lâu Mộng đã mang một số nhân tố
mới của tiểu thuyết cận đại phương Tây, nhưng nó không thể
đi xa hơn nữa. Nó vẫn còn bị giam mình trong cái khung
tiểu thuyết chương hồi truyền thống, lấy “kể việc” làm
phương tiện chủ yếu khám phá của con người. Nhưng, xét
cho kỹ thì phải ghi nhận những yếu tố mới ở Hồng Lâu Mộng
là rất có ý nghĩa. Trước hết, đó là cách nhìn con người trong
sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện chứng, có
chiều sâu đầy kịch tính. Số phận và tính cách của Bảo Ngọc
đã được tác giả miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn
ề
giữa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng nề của gia đình
và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu
như chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như
chẳng làm được gì, chẳng chiến đấu dũng mãnh gì để đoạt
lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi
chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt
tập thơ…, không phải là không có lý! Anh ta chưa bao giờ
xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng, kiên
định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại,
anh ta sinh ra đau thần kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì
suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi kịch. Cuối
cùng giải pháp “đi tu” phản ánh sự từ chối, sự phản kháng
dẫu yếu ớt đã được anh ta chọn lựa. Đi thi và thi đỗ cao để
an ủi gia đình, rồi bỏ trốn đi tu, Bảo Ngọc đã đi hết sự phát
triển tính cách một cách hợp lý và quả là qua số phận anh
ta, như một số nhà nghiên cứu nhận định, có sự gởi gắm, có
sự thể hiện một phần nào bản thân tác giả. Đó đúng là một
số phận tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại của từ này. Lâm
Đại Ngọc là một tính cách thú vị khác. Nàng yêu Bảo Ngọc,
nhưng do thân phận của nàng, mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời là
nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự tuyệt… “Bảo Ngọc
cười nói:
Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh, cô là trang nghiêng nước
nghiêng thành3. Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ
bừng lên, lập tức dựng ngược lông mày, như cau lại mà
không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà không phải
trợn. Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Bảo
Ngọc: Anh nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem những lời lẳng
lơ suồng sã lăng nhăng để khinh nhờn tôi! Tôi về mách cậu
mợ đấy” (hồi 23). Điều đó làm cho nàng trở nên đáng yêu và
tội nghiệp, làm cho nàng trở nên nhiều nữ tính hơn. Không
một nét giả dối, nàng là một nhân vật đã hiện ra với chiều
sâu tâm lý đa dạng, được bộc lộ qua tình ...
Hồng Lâu Mộng Tập 1 by Tào Tuyết Cần
Lời giới thiệu
Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu trong Hồng Lâu
Mộng
Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
Hồi 1. Chân Sĩ Ẩn trong mộng ảo biết đá thiêng; Giả Vũ
Thôn lúc phong trần mơ người đẹp.
Hồi 2. Giả phu nhân tạ thế ở thành Dương Châu; Lãnh
Tử Hưng kể chuyện trong phủ Vinh quốc.
Hồi 3. Nhờ anh vợ, Như Hải đền được ơn dạy bảo; Đón
cháu ngoại, Giả mẫu xót thương trẻ mồ côi.
Hồi 4. Gái bạc mệnh gặp trai bạc mệnh; Sư Hồ Lô xử án
Hồ Lô.
Hồi 5 Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê; Uống
rượu tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc.
Hồi 6. Giả Bảo Ngọc mới thử cuộc mây mưa; Lưu lão lão
đến thăm phủ Vinh quốc.
Hồi 7. Đem biếu cung hoa, Giả Liễn đùa Hy Phượng; Ăn
yến Ninh phủ, Bảo Ngọc gặp Tần Chung.
Hồi 8. So ngọc thông linh, Kim Oanh hơi ngỏ ý; Thăm
dò cô Bảo, Đại Ngọc nếm phải chua.
Hồi 9. Quen nết phong lưu, bạn đa tình cùng vào trường
học; Gây chuyện ngờ vực, tên ngoan đồng làm nhộn thư
đường.
Hồi 10. Kim quả phụ tham lợi chịu nhẫn nhục; Trương
thái y xem bệnh nói gốc nguồn.
Hồi 11. Mừng sinh nhật, phủ Ninh bày tiệc linh đình;
Gặp Hy Phượng, Giả Thụy động lòng dâm dục.
Hồi 12. Vương Hy Phượng độc ác, bày cuộc tương tư;
Giả Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt.
Hồi 13. Tần Khả Khanh chết được phong Long Cẩm Úy;
Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh.
Hồi 14. Lâm Như Hải từ trần ở thành Dương Châu; Giả
Bảo Ngọc giữa đường chào vua Bắc Tĩnh.
Hồi 15. Vương Phượng Thư lộng quyền ở chùa Thủy
Nguyệt; Tần Kình Khanh gặp gái trong am Mạn Đầu.
ồ
ể
Hồi 16. Giả Nguyên Xuân có tài, được tuyển vào cung
Phượng Tảo; Tần Kình Khanh còn trẻ, đã thác xuống
cõi Hoàng Tuyền.
Hồi 17 và 18. Đề câu đối trong vườn Đại Quan, thử tài
Bảo Ngọc; Về thăm nhà ở phủ Vinh quốc, gặp tiết
nguyên tiêu.
Hồi 19. Tình đằm thắm đêm khuya hoa biết nói; Ý triền
miên ngày vắng ngọc thêm hương.
Hồi 20. Phượng Thư thẳng thắn dẹp hẳn thói ghen
tuông; Đại Ngọc tinh ranh nói những câu bỡn cợt.
Hồi 21. Giả cách giận hờn, Tập Nhân răn Bảo Ngọc; Trả
lời khôn khéo, Bình Nhi cứu Giả Liễn.
Hồi 22. Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền; Đánh
đố thơ, Giả Chính lo lời sấm.
Hồi 23. Mượn câu văn Tây Sương Ký, giở giọng giỡn
đùa; Nghe khúc hát Mẫu Đơn Đình, chạnh lòng hờn tủi.
Hồi 24. Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bạc coi
khinh; Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn.
Hồi 25. Mắc phải thuật năm con quỷ, chị em hóa điên
rồ; Nhờ được phép hai vị tiên, ngọc thiêng hết mờ ám.
Hồi 26. Cầu Phong Yêu nói lóng đưa tình kín; Quán
Tiêu Tương xuân buồn tỏ nỗi riêng.
Hồi 27. Đình Trích Thúy, Dương Phi đùa bướm trắng;
Mộ Mai Hương, Phi Yến khóc hoa tàn.
Hồi 28. Ngọc Hàm tặng thắt lưng, gợi được mối tình;
Bảo Thoa cởi chuỗi thơm, lộ ra vẻ thẹn.
Hồi 29. Người hưởng phúc, phúc nhiều, còn cầu xin
thêm phúc; Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì
tình.
Hồi 30. Bảo Thoa mượn cái quạt, nói cạnh cả hai bên;
Linh Quan vạch chữ “Tường”, làm ngây người ngoài
cuộc.
Hồi 31. Xé tan cái quạt, nghìn vàng mua lấy một trận
cười; Điềm ứng kỳ lân, hai sao gặp nhau khi đầu bạc.
Hồi 32. Giải bày hết tâm can, Bảo Ngọc đâm ra mê mẩn;
Không chịu được sỉ nhục, Kim Xuyến đành phải liều
thân.
Hồi 33. Coi anh như thù, giọng lưỡi ton hót; Đẻ con bất
hiếu, roi vọt dập vùi.
ồ
ố
ổ
ấ
Hồi 34. Mối tình ngổn ngang, thấy tình cô em càng
thêm thấm thía; Lỗi lầm chồng chất, lấy lầm khuyên
anh xiết nỗi buồn rầu.
Hồi 35. Ngọc Xuyến được nếm canh lá sen; Oanh Nhi
khéo tết dây hoa mai.
Hồi 36. Thêu bức uyên ương, hiên Giáng Vân mộng
lành báo trước; Ngẫm đường tình phận, viện Lê Hương
duyên đẹp định rồi.
Hồi 37. Thu Sảng trai, định mở Xã hải đường; Hành Vu
uyển, đêm nghĩ bài hoa cúc.
Hồi 38. Lâm Tiêu Tương đứng đầu những thơ ngâm
cúc; Tiết Hành Vu mỉa đời trong bài vịnh cua.
Hồi 39. Già nhà quê hay nói huênh hoang; Cậu có tình
cứ tìm ngành ngọn.
Hồi 40. Vườn Đại Quan, Sử Thái Quân hai lần mở tiệc;
Gieo súc sắc, Kim Uyên Ương ra lệnh đố thơ.
Hồng Lâu Mộng Tập 2 by Tào Tuyết Cần
Hồi 41. Am Lũng Thúy, Bảo Ngọc thưởng trà ngon; Viện
Di Hồng, già Lưu say rượu ngủ.
Hồi 42. Giải mối ngờ, Bảo Thoa ngỏ lời thân thiết; Thêm
vui chuyện, Đại Ngọc nói ý xa xôi.
Hồi 43. Ngồi rỗi bày trò, góp tiền ăn sinh nhật; Mối tình
không dứt, vốc đất viếng oan hồn.
Hồi 44. Chuyện xảy bất ngờ, Phượng Thư đâm ghen;
Mừng ngoài tưởng tượng, Bình Nhi trang điểm.
Hồi 45. Bạn kim lan ngỏ chuyện kim lan; Đêm mưa gió
ngâm bài mưa gió.
Hồi 46. Người liều lĩnh khó thoát việc liều lĩnh; Gái
Uyên Ương thề dứt bạn uyên ương.
Hồi 47. Tiết Bàn đa tình bị đánh, Tương Liên sợ tội trốn
đi.
Hồi 48. Dùng bậy chữ tình, nhầm về tình, chàng đi buôn
bán; Mến yêu gái nhã, gặp cuộc nhã, nàng mải ngâm
thơ.
Hồi 49. Cõi lưu ly mai hồng tuyết trắng; Gái son phấn
ăn sống nuốt tanh.
Hồi 50. Am Lư Tuyết nối nhau thơ tức cảnh; Ổ Noãn
Hương khéo đặt câu đố đèn.
ồ
ế
ổ
ồ
Hồi 51. Cô em họ Tiết làm thơ hoài cổ; Lang băm họ Hồ
dùng thuốc hổ lang.
Hồi 52. Bình Nhi cố tình giấu việc mất vòng vàng; Tình
Văn đương ốm, vùng dậy vá áo cừu.
Hồi 53. Đêm trừ tịch, phủ Ninh tế tổ tiên; Tối nguyên
tiêu, phủ Vinh mở yến tiệc.
Hồi 54. Sử Thái Quân bỏ lối chuyện sáo ngày xưa;
Vương Hy Phượng học đòi áo hoa múa hát.
Hồi 55. Mắng con gái mình, dì Triệu tức nhảm; Khinh
cô chủ bé, mụ Ngô ác ngầm.
Hồi 56. Thám Xuân thông thạo, tìm mối lợi bỏ hẳn lệ
xưa; Bảo Thoa khôn ngoan, ra ơn nhỏ giữ gìn thể thống.
Hồi 57. Tử Quyên khôn ngoan, đặt chuyện thử lòng cậu
Bảo; Dì Tiết hiền hậu, đem lời an ủi cô Lâm.
Hồi 58. Dưới bóng hạnh, phượng giả khóc hão huyền;
Bên cửa the, tình thật nghĩ vơ vẩn.
Hồi 59. Bến Liễu Diệp tủi phận yến oanh; Hiên Giáng
Vân nhờ tay ấn quyết.
Hồi 60. Đem phấn mạt ly thay cho bột tường vi; Biếu
mai quế lộ lòi ra bột phục linh.
Hồi 61. Ném chuột sợ vỡ đồ, Bảo Ngọc đành phải nhận
lỗi; Xét việc thấy oan uổng, Bình Nhi khéo tòng quyền.
Hồi 62. Hồi ương Vân ngây thơ, ngủ trên hoa thược
dược; . Hương Lăng trơ trẽn, cởi tấm quần hồng lăng.
Hồi 63. Viện Di Hồng chị em mở tiệc; Nuốt kim đan, Giả
Kính chết oan.
Hồi 64. Gái buồn rầu đề thơ ngũ mỹ; Trai lẳng lơ tặng
ngọc cửu long.
Hồi 65. Giả Liễn vụng trộm cưới dì Hai; Dì Ba quyết
lòng lấy chàng Liễu.
Hồi 66. Cô bé đa tình, hổ vì tình về nơi địa phủ; Chàng
trai lạnh nhạt, khi quá lạnh vào chốn không môn.
Hồi 67. Thấy đồ thổ nghi, Đại Ngọc nhớ quê cũ; Nghe
việc bí mật, Phượng Thư hỏi người hầu.
Hồi 68. Dì Vưu khổ sở, bị lừa vào vườn Đại Quan; Chị
Phượng ghen tuông, làm nhộn ở phủ Ninh quốc.
Hồi 69. Giở lối khôn vặt, mượn gươm giết người; Biết
gặp hạn đen, nuốt vàng thoát kiếp.
ồ
Hồi 70. Lâm Đại Ngọc mở thi xã Đào Hoa; Sử Tương
Vân điền tiểu từ Liễu Nhứ.
Hồi 71. Người hiềm khích cố ý gây hiềm khích; Gái
Uyên Ương vô tình gặp uyên ương.
Hồi 72. Cậy mình khỏe, Vương Phượng Thư kiêng nói
ốm; Ỷ thần thế, vợ Lai Vượng cố ép duyên.
Hồi 73. A hoàn ngớ ngẩn, nhặt nhầm túi xuân tình; Tiểu
thư ươn hèn, bỏ lơ dây kim phượng.
Hồi 74. Quá nghe gièm hót, khám xét vườn Đại Quan;
Thề giữ đoan nghiêm, rào lấp phủ Ninh quốc.
Hồi 75. Mở tiệc đêm khuya, điềm lạ vẳng nghe tiếng
thảm; Thưởng trăng tháng tám, lời nói thành câu sấm
hay.
Hồi 76. Nhà Đột Bích nghe sáo, cảm nỗi ưu sầu; Quán
Ao Tinh nối thơ, buồn đêm vắng lặng.
Hồi 77. A hoàn đẹp, sớm chết oan vì tội phong lưu; Con
hát xinh, cắt tình duyên vào am Thủy Nguyệt.
Hồi 78. Họa sĩ già ra bài từ Quỷ Hoạch; Công tử ngốc
làm văn tế Phù Dung.
Hồi 79. Rước lấy sư tử Hà Đông, Tiết Bàn hối hận; Vớ
phải giống sói Trung Sơn, Nghênh Xuân nhầm to.
Hồi 80. Gặp anh chồng phũ, Hương Lăng bị trận đòn
oan; Chữa đàn bà ghen, đạo sĩ kê bài thuốc nhảm.
Hồng Lâu Mộng Tập 3 by Tào Tuyết Cần
Hồi 81. Bốn chị câu cá chơi, xem ai tốt số; Hai lần vào
trường học, vâng theo lời cha.
Hồi 82. Lấy nghĩa sách giảng bày, cụ đồ già dạy răn
chàng bướng; Thấy ác mộng kinh khủng, gái Tiêu
Tương hoảng sợ ngây hồn.
Hồi 83. Vào cung Vị, thăm Nguyên Phi bị ốm; Nhộn nhà
cửa, làm Bảo Thoa nghẹn lời.
Hồi 84. Thử tài học, Bảo Ngọc được nhắc đến việc hôn
nhân; Thăm cháu ốm, Giả Hoàn càng gây thêm mối thù
oán.
Hồi 85. Giả Chính được thăng chức lang trung; Tiết Bàn
lại gây nên tù tội.
Hồi 86. Ăn của đút, quan già thay án kiện; Gửi tình
riêng, gái trẻ giảng cầm thư.
ồ
ấ
ồ
Hồi 87. Cảm thấy gió thu, gảy đàn buồn thương chuyện
cũ; Say ngồi nhập định, tà hỏa lẩn vào trong tim.
Hồi 88. Muốn bà vui, Bảo Ngọc khen cháu bé mồ côi;
Nghiêm phép nhà, Giả Trân đánh người hầu cứng cổ.
Hồi 89. Người đâu vật còn đây, công tử làm bài từ; Bóng
cung ngỡ là rắn, Tần Khanh đành tuyệt thực.
Hồi 90. Mất áo bông, gái nghèo ngấm ngầm bực bội;
Đưa hoa quả, chú em nghĩ ngợi vẩn vơ.
Hồi 91. Định thỏa lòng dâm, Bảo Thiềm bày mưu kế;
Bày ra nghi trận, Bảo Ngọc bàn đạo thiền.
Hồi 92. Bàn chuyện gái hiền, Xảo Thư mến người trinh
thục; Xem hạt châu lớn, Giả Chính tính chuyện hợp tan.
Hồi 93. Người họ Chân đến nương nhờ họ Giả; Am Thủy
Nguyệt vỡ lở án gió trăng.
Hồi 94. Giả mẫu bày tiệc, thưởng Hải Đường nở hoa;
Bảo Ngọc mất ngọc, biết tai ương sắp đến.
Hồi 95. Tin đồn không sai, Nguyên Phi đã mất; Giả thực
lẫn lộn, Bảo Ngọc hoá ngây.
Hồi 96. Giấu hẳn tăm hơi, Phượng Thư bày kế lạ; Cơ
mưu đã lộ, Đại Ngọc mất tính thường.
Hồi 97. Đốt cảo thơ, Đại Ngọc dứt tình si; Về nhà chồng,
Bảo Thoa thành lễ lớn.
Hồi 98. Giáng Châu đau buồn, hồn về nơi ly hận; Thần
Anh mang bệnh, lệ tràn cõi tương tư.
Hồi 99. Giữ phép công bọn hầu ác cùng nhau phá lệ;
Xem tin báo ông cậu già đâm ra lo phiền.
Hồi 100. Làm hỏng mất dịp tốt, Hương Lăng gây mối
oán thù; Thương em lấy chồng xa, Bảo Ngọc cảm tình ly
biệt.
Hồi 101. Vườn Đại Quan đêm trăng rợn hồn ma; Chùa
Tán Hoa quẻ thần ghê điềm lạ.
Hồi 102. Phủ Ninh quốc, ruột thịt bị tai ương; Vườn Đại
Quan, phù thủy trừ yêu quái.
Hồi 103. Giở kế độc ác, Kim Quế tự giết mình; Không
hiểu đạo thiền, Vũ Thôn gặp người cũ.
Hồi 104. Kim cương say, cá nhỏ gây thành sóng lớn;
Công tử ngốc, thương thừa nhớ lại tình xưa.
Hồi 105. Quân Cẩm y khám biên phủ Ninh quốc; Quan
ngự sử tâu hặc châu Bình An.
ồ
ế
ổ
Hồi 106. Gây tai ương, Vương Hy Phượng xiết bao hổ
thẹn; Tránh họa hoạn, Giả Thái Quân cầu khấn phật
trời.
Hồi 107. Cho của thừa, Giả mẫu hiểu nghĩa lớn; Phục
chức cũ, Giả Chính đội ơn trời.
Hồi 108. Tiệc bày vui gượng, viện Hoành Vu mừng ngày
sinh; Chết vẫn say đời, quán Tiêu Tương nghe quỉ khóc.
Hồi 109. Hồn thơm chờ đợi, con Năm may được yêu
nhầm; Oan án trả xong, Nghênh Xuân trở về cõi lạc.
Hồi 110. Sử Thái Quân tuổi già về nơi địa phủ; Vương
Hy Phượng sức kiệt làm mất lòng người.
Hồi 111. Gái Uyên Ương theo chủ lên chầu trời; Hầu
chó lớn đem người về cướp của.
Hồi 112. Sống đầy oan nghiệt, Diệu Ngọc bị giặc cướp
đi; Chết vì hiềm thù, dì Triệu sa xuống âm phủ.
Hồi 113. Ăn năn lỗi trước, Phượng Thư nhờ cậy già Lưu;
Quên hẳn hiềm xưa, Tử Quyên cảm thương Bảo Ngọc.
Hồi 114. Vương Hy Phượng trải qua cơn ảo nhớ lại Kim
Lăng; Chân Ứng Gia được đội ơn vua về chầu ngọc
khuyết.
Hồi 115. Tri lời thiên lệnh, Tích Xuân thề vẫn giữ chí
xưa; Tên người dù giống nhau, Bảo Ngọc không coi là
tri kỷ.
Hồi 116. Được ngọc thiêng, nhận thấy duyên tiên nơi
Ảo Cảnh; Trọn đạo hiếu, đưa linh cữu mẹ về cố hương.
Hồi 117. Ngăn việc tu hành, hai gái đẹp cố giữ viên
ngọc; Thích họp bạn xấu, một con hư coi giữ việc nhà.
Hồi 118. Nhớ hiềm xưa, ông cậu lừa gái nhỏ; Sợ nói
nhảm, vợ hầu can chàng ngây.
Hồi 119. Đỗ hương khôi, Bảo Ngọc rũ sạch duyên trần;
Đội ơn vua, họ Giả dồi dào hưởng phúc.
Hồi 120. Chân Sĩ Ẩn kể rõ cảnh Thái Hư; Giả Vũ Thôn
kết thúc Hồng Lâu Mộng.
TÀO TUYẾT CẦN
CAO NGẠC
HỒNG LÂU MỘNG
Tập 1
Hình minh họa: Đới Đôn Bảng
Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Doãn Địch, Nguyễn
Thọ dịch
Thông tin sách:
Tên sách: Hồng Lâu Mộng
Tác giả: Tào Tuyết Cần, Cao Ngạc
Nhóm dịch giả: Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Doãn Địch, Nguyễn
Thọ
Nguồn sách: vnthuquan.net
do các thành viên Tiểu Hồ Tiên, Thất Sơn anh hùng, Nữ Hiệp
Dễ Thương, Lat Dat, Hoa tuy lip đen thực hiện phần phiên
âm, thơ, từ, … sưu tầm được trên mạng (thivien.net, v.v.)
Ebook này không đúng hoàn toàn với nguyên bản.
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu trong Hồng Lâu
Mộng
Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
Hồi 1. Chân Sĩ Ẩn trong mộng ảo biết đá thiêng; Giả Vũ
Thôn lúc phong trần mơ người đẹp.
Hồi 2. Giả phu nhân tạ thế ở thành Dương Châu; Lãnh Tử
Hưng kể chuyện trong phủ Vinh quốc.
Hồi 3. Nhờ anh vợ, Như Hải đền được ơn dạy bảo; Đón cháu
ngoại, Giả mẫu xót thương trẻ mồ côi.
Hồi 4. Gái bạc mệnh gặp trai bạc mệnh; Sư Hồ Lô xử án Hồ
Lô.
Hồi 5 Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê; Uống rượu
tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc.
Hồi 6. Giả Bảo Ngọc mới thử cuộc mây mưa; Lưu lão lão đến
thăm phủ Vinh quốc.
Hồi 7. Đem biếu cung hoa, Giả Liễn đùa Hy Phượng; Ăn yến
Ninh phủ, Bảo Ngọc gặp Tần Chung.
Hồi 8. So ngọc thông linh, Kim Oanh hơi ngỏ ý; Thăm dò cô
Bảo, Đại Ngọc nếm phải chua.
Hồi 9. Quen nết phong lưu, bạn đa tình cùng vào trường học;
Gây chuyện ngờ vực, tên ngoan đồng làm nhộn thư đường.
Hồi 10. Kim quả phụ tham lợi chịu nhẫn nhục; Trương thái y
xem bệnh nói gốc nguồn.
Hồi 11. Mừng sinh nhật, phủ Ninh bày tiệc linh đình; Gặp Hy
Phượng, Giả Thụy động lòng dâm dục.
Hồi 12. Vương Hy Phượng độc ác, bày cuộc tương tư; Giả
Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt.
Hồi 13. Tần Khả Khanh chết được phong Long Cẩm Úy;
Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh.
Hồi 14. Lâm Như Hải từ trần ở thành Dương Châu; Giả Bảo
Ngọc giữa đường chào vua Bắc Tĩnh.
Hồi 15. Vương Phượng Thư lộng quyền ở chùa Thủy Nguyệt;
Tần Kình Khanh gặp gái trong am Mạn Đầu.
Hồi 16. Giả Nguyên Xuân có tài, được tuyển vào cung
Phượng Tảo; Tần Kình Khanh còn trẻ, đã thác xuống cõi
Hoàng Tuyền.
ồ
ề
ố
Hồi 17 và 18. Đề câu đối trong vườn Đại Quan, thử tài Bảo
Ngọc; Về thăm nhà ở phủ Vinh quốc, gặp tiết nguyên tiêu.
Hồi 19. Tình đằm thắm đêm khuya hoa biết nói; Ý triền
miên ngày vắng ngọc thêm hương.
Hồi 20. Phượng Thư thẳng thắn dẹp hẳn thói ghen tuông;
Đại Ngọc tinh ranh nói những câu bỡn cợt.
Hồi 21. Giả cách giận hờn, Tập Nhân răn Bảo Ngọc; Trả lời
khôn khéo, Bình Nhi cứu Giả Liễn.
Hồi 22. Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền; Đánh đố thơ,
Giả Chính lo lời sấm.
Hồi 23. Mượn câu văn Tây Sương Ký, giở giọng giỡn đùa;
Nghe khúc hát Mẫu Đơn Đình, chạnh lòng hờn tủi.
Hồi 24. Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bạc coi
khinh; Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn.
Hồi 25. Mắc phải thuật năm con quỷ, chị em hóa điên rồ;
Nhờ được phép hai vị tiên, ngọc thiêng hết mờ ám.
Hồi 26. Cầu Phong Yêu nói lóng đưa tình kín; Quán Tiêu
Tương xuân buồn tỏ nỗi riêng.
Hồi 27. Đình Trích Thúy, Dương Phi đùa bướm trắng; Mộ
Mai Hương, Phi Yến khóc hoa tàn.
Hồi 28. Ngọc Hàm tặng thắt lưng, gợi được mối tình; Bảo
Thoa cởi chuỗi thơm, lộ ra vẻ thẹn.
Hồi 29. Người hưởng phúc, phúc nhiều, còn cầu xin thêm
phúc; Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì tình.
Hồi 30. Bảo Thoa mượn cái quạt, nói cạnh cả hai bên; Linh
Quan vạch chữ “Tường”, làm ngây người ngoài cuộc.
Hồi 31. Xé tan cái quạt, nghìn vàng mua lấy một trận cười;
Điềm ứng kỳ lân, hai sao gặp nhau khi đầu bạc.
Hồi 32. Giải bày hết tâm can, Bảo Ngọc đâm ra mê mẩn;
Không chịu được sỉ nhục, Kim Xuyến đành phải liều thân.
Hồi 33. Coi anh như thù, giọng lưỡi ton hót; Đẻ con bất hiếu,
roi vọt dập vùi.
Hồi 34. Mối tình ngổn ngang, thấy tình cô em càng thêm
thấm thía; Lỗi lầm chồng chất, lấy lầm khuyên anh xiết nỗi
buồn rầu.
Hồi 35. Ngọc Xuyến được nếm canh lá sen; Oanh Nhi khéo
tết dây hoa mai.
Hồi 36. Thêu bức uyên ương, hiên Giáng Vân mộng lành báo
trước; Ngẫm đường tình phận, viện Lê Hương duyên đẹp
ồ
định rồi.
Hồi 37. Thu Sảng trai, định mở Xã hải đường; Hành Vu uyển,
đêm nghĩ bài hoa cúc.
Hồi 38. Lâm Tiêu Tương đứng đầu những thơ ngâm cúc; Tiết
Hành Vu mỉa đời trong bài vịnh cua.
Hồi 39. Già nhà quê hay nói huênh hoang; Cậu có tình cứ
tìm ngành ngọn.
Hồi 40. Vườn Đại Quan, Sử Thái Quân hai lần mở tiệc; Gieo
súc sắc, Kim Uyên Ương ra lệnh đố thơ.
Lời giới thiệu
Trong lịch sử văn học Trung Quốc: Hồng Lâu Mộng có một
vị trí đặc biệt. Người Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về
nó1, sáng tác về nó đến nỗi nói:
“Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng,
Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!”
(Mở miệng mà không nói Hồng Lâu Mộng thì đọc hết cả thi
thư cũng vô ích!)
Có một ngành học chuyên nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng,
gọi là Hồng học; gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc in
chuyên san “Hồng Lâu Mộng nghiên cứu”. Có lẽ trên thế giới
chỉ có Shakespeare là có một vinh dự lớn lao như thế, vì có
“Shakespeare học”. Cái gì làm người Trung Quốc say Hồng
Lâu Mộng “như điếu đổ” vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm
đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời đại. Thời nhà Thanh,
dưới thời các hoàng đế Ung Chính, Càn Long (1723 1795) là
thời kinh tế phồn vinh, chẳng những công nghiệp, thủ công
nghiệp, mà cả khai thác mỏ, thương nghiệp… cũng phát
triển mạnh mẽ. Các thành thị lớn như Nam Kinh, Dương
Châu, Võ Xương, Nhạc Châu… buôn bán, sản xuất sầm uất là
những đô thị lớn. Chỉ kể một thị trấn như Thanh Giang bên
bờ Vận Hà thôi mà thời đó đã có hơn nửa triệu dân! Nền
kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa đó trong lòng xã hội phong
kiến chuyên chế mọt ruỗng và đang trên đà tan rã, đã đẻ ra
một tầng lớp người thành thị, những người này có những
nhu cầu thẩm mỹ mới. Tây Sương Ký, Mẫu Đơn Đình, Cổ kim
tiểu thuyết, Liêu Trai… là những tác phẩm tả tình yêu, những
số phận, những buồn vui cá nhân…, chính là sự “thăng hoa”
của cuộc sống đã bắt đầu khác trước về chất của người thành
thị. Hồng Lâu Mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời
đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội
phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều truyền
thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu
đương, giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao
một lý tưởng cho cuộc sống… Tất cả những cái đó có những
mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu Thanh,
nhưng nó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân
đương thời. Giữa những khát vọng sâu xa ấy của con người
thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật, đã có
một cuộc hẹn hò tuyệt diệu qua Hồng Lâu Mộng.
ồ
ế
ầ
Tác giả chính của Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần 1716(?)
1763(?) giống như phần lớn các nhà văn lớn Trung Hoa
trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn”, là để
ký thác những suy tư về con người và thời đại. Ông vốn sinh
ra trong một gia đình đại quý tộc. Từ đời tằng tổ đến đời
cha, thay nhau tập chức “Giang Ninh chức tạo” là một chức
quan to thu thuế. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương
Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào, đủ biết sự sủng ái của nhà
vua với gia đình ông ra sao! Và cũng có thể đoán biết cuộc
sống trong phủ Giang hồi đó xa hoa, vương giả như thế nào!
Trong Hồng Lâu Mộng, Nguyên Phi về thăm nhà có một buổi
mà phải xây cất bao nhiêu đình tạ trong vườn Đại Quan, nữa
là hoàng đế tuần du ngự đến nhà. Nhà ông chẳng những là
hào môn vọng tộc hiển hách như thế, lại còn có truyền thống
văn chương. Ông nội ông, Tào Dần, từng in bộ “Toàn Đường
thi” trứ danh, và là một nhà thơ, tác giả “Luyện đình thi sao”.
Nhưng cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua,
đã tan vỡ. Lúc Tào Tuyết Cần lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau
rồi: cha bị khép tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sản, nhà họ
Tào suy sụp và ông phải về sống ở vùng ngoại ô phía tây
thành Bắc Kinh trong cảnh: “cả nhà rau cháo, rượu thường
mua chịu”. Hồng Lâu Mộng do đó có thể xem là phản quang
những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quý tộc đã tan
vỡ đó. Một mặt, đó là sự nhớ tiếc khôn nguôi những huy
hoàng của vàng son lộng lẫy, cảm thấy tất cả nhuốm màu thê
lương, hư vô, tất cả đều xê dịch về phía bế tắc, hủy diệt, tất cả
đều đáng ân hận, và chỉ có thể cứu chuộc bằng hư vô, bằng
siêu hình, bằng tôn giáo! Nhưng mặt khác, từ trong cuộc
sống nghèo khó hôm nay, quay đầu nhìn lại thì cái khoảng
cách lớn lao đó làm cho ông thấy được rõ hơn, khách quan
hơn, bình tĩnh hơn những gì ông đã thấy, đã nếm trải về
cuộc sống thối nát của giai cấp quý tộc và sự miêu tả khách
quan “những quan hệ hiện thực” này làm ông trở thành một
nhà hiện thực. Chí ít thì về mặt đó, ông đã lay chuyển được
“niềm lạc quan về cái trật tự hiện tồn”, và như thế, ông là sản
phẩm của một thời đại, đồng thời đã nhìn xa hơn thời đại.
Tào Tuyết Cần để 10 năm để viết 80 hồi đầu Hồng Lâu
Mộng: “Xem ra chữ chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười
năm khéo lạ lùng”; năm lần sửa chữa, trong cảnh cùng khốn,
ốm đau không tiền chạy thuốc, trong cảnh đứa con yêu của
ông chết. Và ông đã lìa đời trong cảnh đau khổ dồn dập đó.
Bình sinh, ông vẽ giỏi, hay thơ, thích rượu, cuồng phong.
Người ta chỉ biết được về ông có thế thôi! Hai mươi tám năm
sau khi ông mất, Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi, đến khoảng 1792
1793 thì Hồng Lâu Mộng được in và lưu truyền khắp Trung
Quốc. Những hồi Cao Ngạc viết tiếp thì không thể hay bằng
những hồi Tào Tuyết Cần viết, nhưng cũng phải nói là Cao
Ngạc đã sống với tác phẩm và tri âm tác giả, nên đã hoàn
ế
ầ
ố
ế
thành dự định của Tào Tuyết Cần và nối tiếp bút lực của
người đi trước, hoàn thành và bộc lộ trọn vẹn tư tưởng của
tác phẩm, khiến cho tác phẩm vẫn giữ được vẻ hấp dẫn
mãnh liệt.2
Bi kịch tình yêu & Ý nghĩa tình yêu
trong Hồng Lâu Mộng
Câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuyên
suốt qua toàn bộ tác phẩm, làm nên chủ đề chính của cuốn
tiểu thuyết vĩ đại này. Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, hai
anh em cô cậu ruột, cùng ở chung một nhà từ bé. Lớn lên, vì
Bảo Ngọc được bà nội nuông chiều, riêng cho ở trong vườn
Đại Quan cùng với đám “quần thoa”, nên anh ta và Đại Ngọc
gần gũi nhau. Nhưng đây không phải là câu chuyện “lửa gần
rơm…” Đây cũng không phải chỉ là câu chuyện “tài tử giai
nhân là nợ sẵn”. Tình yêu của họ còn có nguyên cớ sâu xa
hơn nhiều; họ nói như Saint Exupéry: “Yêu nhau không chỉ
là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là họ
“đồng điệu”, “tri âm” lẫn nhau trên những vấn đề có ý nghĩa
cuộc sống. Nói cho đúng, lúc đầu Bảo Ngọc cũng còn có chút
phân vân. Anh ta sống giữa đám a hoàn nhan sắc, những
Tập Nhân, Tình Văn… những người này là những phụ nữ
xuất thân từ tầng lớp dưới, được họ Giả mua về hầu hạ,
nhưng đó là những người có tình, có phẩm chất tốt đẹp. Họ
chính là một bức màn ngăn bụi trần của phủ Vinh quốc đầy
dẫy những hạng đàn ông ô trọc. Bảo Ngọc cảm nhận được
thực chất vị tha, quên mình đầy dịu dàng của họ, anh ta như
một người được vây bọc bởi sự tận tụy, thương yêu… của
những nữ tỳ đồng thời cũng là “nữ thần” này. Do đó không lạ
gì mà Bảo Ngọc đã nêu lên cái “nguyên lý nữ tính” rất xa lạ
với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến:
“Xương thịt con gái là nước kết thành. Xương thịt con trai là
bùn kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ
nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bẩn”.
Trong phủ Giả lúc đó còn có cô em họ Tiết Bảo Thoa ở nhờ.
Bảo Thoa đẹp, đức hạnh, nết na theo đúng nếp nhà phong
kiến. Bảo Ngọc cũng mến Bảo Thoa, gần nàng, anh chàng
đôi lúc cũng thấy xiêu xiêu, quả có như lời Lâm Đại Ngọc
“gần cô chị thì quên khuấy cô em!” Nhưng rồi dần dần, Bảo
Ngọc chỉ yêu có Đại Ngọc thôi. Đại Ngọc kiều diễm, yếu đuối,
là một tâm hồn dễ cảm xúc, một tâm hồn nhạy cảm và
phong phú đó là một tâm hồn thơ đích thực; và đó là điều
mà họ gặp nhau. Quan trọng hơn, là trong khi cả nhà chờ
mong Bảo Ngọc học giỏi thi đỗ, làm quan giữ nếp nhà…, thì
ấ
Bảo Ngọc lại chán ngấy cái con đường mòn nhàm chán đó,
và người hiểu anh duy nhất là Đại Ngọc. Bảo Ngọc, chàng
trai được nhốt trong cái lồng kính quý tộc đầy cao lương
gấm vóc, anh ta được người ta dùng gia giáo, thi giáo, lễ
pháp… để ràng buộc theo con đường vạch sẵn. Giả Bảo Ngọc
bị mất tự do, và anh ta cảm thấy sâu sắc điều đó, nên lúc nào
anh ta cũng vùng vẫy tìm lối thoát, tìm cách phản kháng lại.
Như một con chim khao khát trời xanh rộng lớn bị nhốt vào
cái lồng vàng chật hẹp, Giả Bảo Ngọc sống không yên ổn.
Anh lục lọi sách vở, đi vào triết học cổ, đi vào “tham thiền
ngộ đạo”… nhưng những cái đó không cung cấp được cho
anh một vũ khí tư tưởng nào để tự giải phóng! Mà thực ra,
thì anh cũng lẩn quẩn, loanh quanh; anh ta là một sản phẩm
đầy mâu thuẫn của một xã hội cũng đang chứa đầy mâu
thuẫn, một xã hội đang tìm lối ra nhưng không có lối ra. Rốt
cuộc, anh ta tỏ thái độ hoài nghi những gì “thánh hiền” đã
viết, đã soạn, cho đó là “soạn bậy”, là “bịa”, là “nói tầm bậy”.
Đối với đạo đức phong kiến mà cái cao nhất là “tôi trung con
hiếu”, “sát thân thành nhân”, anh ta dám nói những lời “cách
mệnh”: “Những bọn mày râu dơ bẩn, chỉ biết “quan văn chết
vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc”, là hai cái chết của
kẻ đại trượng phu, thành ra chỉ làm rối lên, nào có biết đâu
có vua ngu mới có bầy tôi chết vì lời can gián; chỉ lo ra công
đánh giặc, liều mình hy sinh, tương lai sẽ bỏ nước cho ai”.
Thật là lời lẽ của kẻ “đại nghịch vô đạo”. Tất nhiên, nói cho
công bằng, đó là một đôi ý nghĩ đột xuất của anh chàng này,
còn như bình thường, anh ta vẫn phải nép mình trong lồng
cũi tuân phục “di huấn thánh nhân”. Trong hoàn cảnh đó,
Lâm Đại Ngọc đã đến. Họ đã đến với nhau không dễ dàng.
Đại Ngọc vì gia cảnh đến ở nhờ trong phủ họ Giả, tuy là cháu
ngoại đấy, nhưng vẫn bị Giả mẫu xem là “người ngoài”: “nữ
nhi ngoại tộc”. Cái mặc cảm “ăn bám ở nhờ” luôn luôn làm
nàng đau khổ nàng vốn là người nhiều tự ái, là người nhạy
cảm, khó hòa hợp với chung quanh và do đó cô đơn. Tình
cảnh của nàng còn bi đát hơn Bảo Ngọc nhiều, vì nàng là con
gái, là phận ở nhờ, mà trong cái xã hội ghê khiếp ấy, thì nàng
chẳng là cái gì cả, nàng chỉ là một cánh bèo dạt, một cánh
hoa rơi! Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, cho
nên nàng luôn buồn thương vô hạn. Tâm hồn nàng như một
sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt mưa thu hay tơ liễu
bay đều âm vang một điệu buồn đứt ruột! Cái yếu đuối, cái
“đa sầu đa cảm” của nàng cũng là một nét tính cách riêng
nhưng xuất phát từ những điều kiện của thời đại. Giả Bảo
Ngọc và Lâm Đại Ngọc đã đến với nhau như thế và đã đến
với nhau rồi, hiểu lòng nhau rồi, họ vẫn sống những ngày
tháng không yên. Trong tình yêu này, họ chưa được hưởng
bao nhiêu hạnh phúc; chưa nếm mật ngọt tình yêu, họ đã
linh cảm thấy mật đắng của đời! Họ luôn luôn bị bủa vây
ế
trong trùng điệp của mạng lưới phong kiến. Họ không phải
là người quyết định được tình yêu của mình. Cuối cùng, Giả
mẫu và bọn phu nhân trong phủ họ Giả đã quyết định! Họ
đã chọn Tiết Bảo Thoa cho Bảo Ngọc. Và một khi đã chọn, họ
đã nhẫn tâm theo kế “đánh tráo” của Phượng Thư. Bảo Ngọc
cứ yên trí là “cưới em Lâm”, hóa ra lúc giở khăn che mặt, lại
là Bảo Thoa; Bảo Ngọc lúc bấy giờ mới bật ngửa, mà Lâm Đại
Ngọc thì sau cơn ốm nặng, đã chết trong niềm đau đớn, oán
hận bằng đốt thơ, đốt khăn tặng trong lúc cả nhà mừng đám
cưới của người mình yêu! Kết thúc tấn bi kịch này, Bảo Ngọc
trốn nhà đi tu; và Bảo Thoa làm một người góa phụ trẻ đau
khổ.
Thi pháp nhân vật Hồng Lâu Mộng
Hồng Lâu Mộng không những đã đưa lại một nội dung mới
mang ý nghĩa thời đại; nó còn làm được một việc vĩ đại nữa
là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn nói: “Từ
khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền
thống đã bị phá vỡ”. Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ
yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc, Thủy hử, Tây
du ký… thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên
ngoài và lời nói của nhân vật. Con người trong những tiểu
thuyết đó, sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp mang
tính chất phương thức sản xuất châu Á, có bề giản đơn, nhất
quán trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường.
Những truyện ngắn “truyền kỳ”, những truyện ngắn trong
Liêu Trai đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân
với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng
vẫn chưa có một thi pháp tiểu thuyết thực sự phản ánh một
cách nhìn mới về con người. Hồng Lâu Mộng đã làm được
việc đó. Dĩ nhiên là trong những hạn chế gay gắt của thời
đại. Dù cho có những nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhân tố kinh
tế hàng hóa, thị trường, thành phố, thị dân… xã hội Trung
Quốc vẫn là xã hội phong kiến, và cái con người “mới” mà
người ta chờ đợi đó đã xuất hiện chưa hoàn chỉnh; thi pháp
tiểu thuyết trong Hồng Lâu Mộng đã mang một số nhân tố
mới của tiểu thuyết cận đại phương Tây, nhưng nó không thể
đi xa hơn nữa. Nó vẫn còn bị giam mình trong cái khung
tiểu thuyết chương hồi truyền thống, lấy “kể việc” làm
phương tiện chủ yếu khám phá của con người. Nhưng, xét
cho kỹ thì phải ghi nhận những yếu tố mới ở Hồng Lâu Mộng
là rất có ý nghĩa. Trước hết, đó là cách nhìn con người trong
sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện chứng, có
chiều sâu đầy kịch tính. Số phận và tính cách của Bảo Ngọc
đã được tác giả miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn
ề
giữa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng nề của gia đình
và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu
như chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như
chẳng làm được gì, chẳng chiến đấu dũng mãnh gì để đoạt
lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi
chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt
tập thơ…, không phải là không có lý! Anh ta chưa bao giờ
xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng, kiên
định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại,
anh ta sinh ra đau thần kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì
suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi kịch. Cuối
cùng giải pháp “đi tu” phản ánh sự từ chối, sự phản kháng
dẫu yếu ớt đã được anh ta chọn lựa. Đi thi và thi đỗ cao để
an ủi gia đình, rồi bỏ trốn đi tu, Bảo Ngọc đã đi hết sự phát
triển tính cách một cách hợp lý và quả là qua số phận anh
ta, như một số nhà nghiên cứu nhận định, có sự gởi gắm, có
sự thể hiện một phần nào bản thân tác giả. Đó đúng là một
số phận tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại của từ này. Lâm
Đại Ngọc là một tính cách thú vị khác. Nàng yêu Bảo Ngọc,
nhưng do thân phận của nàng, mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời là
nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự tuyệt… “Bảo Ngọc
cười nói:
Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh, cô là trang nghiêng nước
nghiêng thành3. Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ
bừng lên, lập tức dựng ngược lông mày, như cau lại mà
không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà không phải
trợn. Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Bảo
Ngọc: Anh nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem những lời lẳng
lơ suồng sã lăng nhăng để khinh nhờn tôi! Tôi về mách cậu
mợ đấy” (hồi 23). Điều đó làm cho nàng trở nên đáng yêu và
tội nghiệp, làm cho nàng trở nên nhiều nữ tính hơn. Không
một nét giả dối, nàng là một nhân vật đã hiện ra với chiều
sâu tâm lý đa dạng, được bộc lộ qua tình ...
 





