GIỚI THIỆU SÁCH BÚP SEN XANH
GIỚI THIỆU SÁCH KÝ ỨC NGƯỜI THẦY
Những chuyện kể về tấm gương trung thực...của Bác Hồ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phùng Thu Hương
Ngày gửi: 16h:50' 29-06-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phùng Thu Hương
Ngày gửi: 16h:50' 29-06-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ
TẤM GƯƠNG TRUNG THỰC, TRÁCH NHIỆM,
GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN CỦA
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịc h Hộ i đồ ng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịc h Hộ i đồ ng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
LÊ TRANG
(Sưu tầm)
NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ
TẤM GƯƠNG TRUNG THỰC, TRÁCH NHIỆM,
GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN CỦA
Chủ tịc h HỒ CHÍ MINH
NHÀ XUẤT BẢN
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong những năm qua, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Sự thật đã xuất bản nhiều cuốn sách tập hợp những
bài viết dưới dạng hồi ký, giản dị nhưng rất cảm động
của cán bộ, chiến sĩ đã từng phục vụ, sống và làm việc
với Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc trong cuộc đời có may
mắn, hạnh phúc được một lần gặp Bác, nhận từ Bác
những chỉ dẫn ân cần và tình thương yêu vô bờ bến.
Từ những cuốn sách đã được công bố, tác giả Lê
Trang đã tuyển chọn một số bài viết và được Nhà xuất
bản Thông tin truyền thông xuất bản thành cuốn sách
Những chuyện kể về tấm gương trung thực, trách
nhiệm, gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cuốn sách này được Hội đồng chỉ đạo xuất bản sách
trang bị cho xã, phường, thị trấn phê duyệt xuất bản
năm 2016.
Từ cách sắp xếp tản mạn trong bản thảo của Nhà
xuất bản Thông tin truyền thông, chúng tôi tổ hợp, cấu
trúc lại, sắp xếp các bài viết có chủ đề gần nhau, chẳng
hạn như Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ, Bác Hồ với miền
Nam, Bác Hồ đi thăm các địa phương đơn vị, những
ngày tháng cuối cùng của Bác Hồ... thành từng cụm để
5
bạn đọc tiện theo dõi. Các bài viết ở từng chủ đề được
đặt theo trật tự thời gian diễn ra câu chuyện.
Xuất bản cuốn sách nhỏ này, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật mong muốn giúp cán bộ ở cơ sở xã,
phường, thị trấn có thêm hiểu biết về cuộc đời, sự nghiệp,
tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần thực
hiện thắng lợi Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của
Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc tiếp tục
thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn
đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
CÓ THỂ CHO NGƯỜI NGHÈO
NHỮNG THỨ ẤY
Khoảng năm 1914, Bác Hồ - lúc bấy giờ gọi là
Nguyễn Tất Thành - đã đến Luân Đôn - Thủ đô
của nước Anh. Ở đây, có thời gian Bác phải làm
phụ bếp cho khách sạn Cáctơn1.
Ở khách sạn Cáctơn, hằng ngày có người phục
vụ dưới bếp. Những người này, sau khi khách ăn
xong, có nhiệm vụ phải thu dọn bát đĩa... và đổ tất
cả thức ăn thừa vào một cái thùng to rồi sau đó
đem đổ đi. Có khi những thức ăn thừa là một
phần tư con gà, hay cả đĩa bánh mỳ và những
miếng bít tết to tướng...
Đến lượt anh Thành làm phụ bếp, những thức ăn
thừa của khách, anh đem để riêng và đậy lại cẩn
thận sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng rồi đưa cho nhà bếp.
Thấy vậy ông đầu bếp Étcốtphie hỏi lại anh:
- Tại sao anh không đem những thức ăn này đổ
vào thùng như những người khác?
____________
1. Một khách sạn nổi tiếng ở Luân Đôn do ông Étcốtphie
người Pháp làm đầu bếp.
7
Anh Thành điềm tĩnh trả lời:
- Không nên đem vứt những thứ này đi. Ông có
thể cho người nghèo những thứ ấy.
Câu nói của anh Thành làm cho ông đầu bếp
rất ngạc nhiên, vì ông thấy từ trước tới nay, chưa
có ai ở khách sạn này nghĩ và nói như anh Thành.
Ông chủ bếp và mọi người nhìn anh biểu hiện
một sự quý mến và khâm phục trước tấm lòng yêu
thương của anh đối với những người nghèo.
Nguồn: Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
8
BÁC QUAN TÂM CHĂM SÓC CÁN BỘ
Tháng 2-1941, Bác Hồ về Pác Bó. Để trực tiếp
chỉ đạo phong trào và bồi dưỡng cán bộ, Bác cho
mấy anh em Huyện ủy Hà Quảng (Cao Bằng) đang
hoạt động bí mật ở cùng với Bác. Ngoài các đồng
chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp... đi
theo Bác, lúc này trong hang có thêm các đồng chí
Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Thuỵ Hùng, Đức Thanh
và tôi.
Hồi ấy, có đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng
Sâm phụ trách bảo vệ cơ quan Bác và tổng Lục
Khu. Còn tôi thì được phân công trực tiếp phụ
trách tổng Hà Quảng (gồm những xã Sóc Hà, Nà
Sắc và vùng mỏ Sắt bấy giờ), kiêm nhiệm vụ kiểm
tra tổng Thông Nông.
Trước khi chúng tôi đi xuống cơ sở công tác, bao
giờ Bác cũng bảo báo cáo chương trình, kế hoạch cụ
thể cho Bác nghe. Bác bổ sung thêm rồi bảo chúng
tôi nhắc lại thật đúng rồi mới cho đi. Do đó, bọn tôi
rất vững dạ, như người đi rừng có địa bàn trong tay.
Cứ mỗi lần có đồng chí rời hang là Bác lại lo lắng:
lo sao anh em được bình yên trở về, thoát khỏi mọi
9
sự bất trắc dọc đường. Khi thấy anh em về, Bác vui
hẳn lên. Câu đầu tiên Bác nói là hỏi han sức khoẻ,
sau đó cho anh em nghỉ ngơi, tắm giặt, rồi mới làm
việc. Lúc ấy, phong trào đang lên, công việc rất
nhiều, nên anh em chúng tôi không ai muốn nghỉ,
đợi được báo cáo tình hình, xong là đi ngay. Nhưng
Bác không đồng ý.
Thỉnh thoảng đi công tác về, chúng tôi lại được
Bác chia cho kẹo. Hỏi đồng chí Cáp mới biết đó là
quà của nhân dân Pác Bó đi chợ mua về biếu Bác.
Bác chỉ ăn một, hai chiếc. Còn bao nhiêu gói lại,
cất vào ống tre, Bác bảo:
- Để dành cho các chú ấy đi công tác về ăn.
Quà của Bác tuy nhỏ, nhưng cử chỉ của Bác là
cả một tình thương, có sức động viên chúng tôi rất
mạnh. Mỗi lần đi lâu ngày mới về, bao giờ Bác
cũng dặn đồng chí cấp dưỡng cố gắng tìm mua
thức ăn về “thết tiệc” anh em. Gọi là tiệc, nhưng
chỉ thêm vài miếng thịt lợn luộc chấm muối.
Ở hang, nhưng hằng ngày Bác vẫn giữ đúng giờ
giấc. Đến giờ, nếu ai ngủ chưa dậy thì Bác khẽ
đánh thức. Song, đối với anh em chúng tôi mới đi
công tác về, Bác bảo anh em khác phải im lặng,
giữ ý từng bước chân, để chúng tôi được ngủ thêm
một lúc.
Tôi còn nhớ một lần, đồng chí Đức Thanh đi
công tác về bị ốm, nằm liệt giường. Bác buồn lắm.
Bác bảo đồng chí Cáp vào rừng lấy lá thuốc về cho
10
đồng chí Thanh uống và xông. Chốc chốc Bác lại
đến sờ trán đồng chí Đức Thanh.
Ngồi làm việc ở một góc hang, tôi im lặng theo
dõi từng cử chỉ của Bác. Nhìn nét mặt lo âu của
Bác, tôi bỗng nhớ đến lúc còn bé, bị ốm chốc chốc
mẹ lại sờ trán tôi, nét mặt vui buồn đều gắn vào
độ nóng, lạnh trong người tôi truyền qua bàn tay
nhăn nheo của mẹ. Cử chỉ của Bác trong lúc này
chẳng khác dáng dấp của mẹ tôi khi xưa.
Những tình cảm sâu sắc của Bác đối với chúng
tôi hơn ruột thịt, đã động viên chúng tôi vượt qua
mọi khó khăn gian khổ những năm tháng sống
trong hang giữa rừng.
Hoàng Tô (nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam Khu tự trị Việt
Bắc) kể.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005,
tr.596-598.
11
BÁC THƯƠNG YÊU CÁN BỘ
Bác thương yêu cán bộ rất chân thực, mộc mạc
và xuất phát từ đáy lòng. Trong tám đồng chí:
Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng,
Lợi thì đồng chí Lợi là người Nùng ở Cao Bằng.
Anh bảo vệ Bác mấy năm thì xin Bác về với gia
đình. Bác tiếc nhưng thông cảm với hoàn cảnh,
biết lưu lại không được nên phải cho đồng chí Lợi
về. Bác luôn luôn nhớ đồng chí Lợi. Hồi đó tôi công
tác tại Cao Bằng. Hai lần được sang báo cáo công
tác với Bác, Bác đều dặn tôi lên nói với địa phương
thăm nom đồng chí Lợi, giúp đỡ khi ốm đau, kể cả
đối với gia đình đồng chí.
Những lúc báo cáo công việc cũng chính là lúc
được Bác giáo dục. Bác giao cho tôi và các đồng chí
Tỉnh ủy Cao Bằng và ủy ban phải khéo giữ yên ổn
vùng biên giới để khỏi bị bọn thân Pháp và phản
động ở biên giới quấy rối ta trong lúc ta đang phải
tập trung chống Pháp.
Nói chung chúng tôi đã thực hiện được lời Bác
dặn. Riêng tôi vì có quan hệ buôn bán với bọn cầm
đầu ở biên giới trong chính quyền và quân đội nên
12
quan hệ đôi bên cũng yên ổn. Có lần tôi về báo cáo
ngắn gọn. Sau khi nghe xong Bác vui vẻ nhận xét
rồi dặn thêm mấy điều mà đến nay tôi còn nhớ
mãi. Bác dặn:
- Bọn đặc vụ thân Pháp đang hoạt động ở biên
giới để tìm hiểu tình hình của ta và phá hoại ta.
Khi sang giao thiệp có gì đáng nói hãy nói, cái gì
không đáng nói thì đừng nói. Ngay trong gia đình
cũng có những việc không nên nói cho bên ngoài
biết. Chú đừng thật thà quá. Đi với Phật phải mặc
áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Các chú giữ yên
biên giới như thế là tốt, nhưng thành ngữ có câu:
“Cư yên tư nguy, cư trị bất vong loạn”1. Chú có
hiểu hai câu đó không?
- Thưa Bác có ạ.
Bác cười. Thế là tôi lại khoác ba lô từ giã Bác
để đi Cao Bằng. Khi đi đường tôi suy nghĩ thấy
Bác thật là một bậc túc nho. Bác thuộc rất nhiều
thành ngữ Hán, sử dụng rất nhuần nhuyễn và
mỗi khi dùng thành ngữ là một lần Bác giáo dục
cán bộ, để cho cán bộ trưởng thành mà không cần
nói dài.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
____________
1. “Cư an tư nguy, cư trị bất vong loạn”: đại ý là lúc
yên, vẫn phải nghĩ đến những mối nguy tiềm ẩn, sống yên
bình phải nghĩ đến lúc nguy biến.
13
HÌNH ẢNH BÁC
HÌNH ẢNH DÂN TỘC
Sau Chiến dịch biên giới, tôi lại có lần được
theo Bác đi công tác. Ở Chiến dịch biên giới, ta có
thu được một ít ô tô quân sự của địch. Bộ Tổng tư
lệnh đã đưa một xe đến để Bác đi công tác. Đây là
lần đầu tiên trong kháng chiến Bác đi công tác
bằng xe ô tô. Để tránh máy bay địch, cứ chập
chiều ô tô mới chạy.
Lái xe là một đồng chí bộ đội trẻ, tính vui nhộn.
Đi công tác, Bác và anh em chúng tôi đều ăn
chung với nhau. Một hôm đồng chí cấp dưỡng tìm
được con chim rất béo, đem quay để phần Bác. Lúc
ăn, Bác lại đem chia đều cho tất cả mọi người và
chỉ nhận cho mình một phần bằng những người
khác. Xong, Bác gắp cái đầu cho đồng chí bác sĩ:
- Chú suy nghĩ nhiều cho cái đầu.
Bác gắp đôi cánh cho đồng chí vận tải:
- Chú mang vác nhiều cho đôi cánh.
Bác gắp cho đồng chí lái xe:
- Chú chạy nhiều cho cái “giò”
14
Hôm sau, trên đường ô tô bị hỏng. Đồng chí lái
xe luống cuống lo lắng.
Bác xuống xe, bảo đồng chí bộ đội lái xe:
- Chú cứ bình tĩnh sửa chữa.
Thấy đồng chí lái xe loay hoay mãi, Bác hỏi:
- Xe hỏng bộ phận nào?
Đồng chí lái xe đáp, rồi tay chỉ vào bộ phận
hỏng. Lát sau chỗ hỏng được chữa. Bác bảo đồng
chí lái xe ngồi vào lái, Bác quay động cơ cho. Nói
rồi Bác lấy ngay chiếc maniven, móc vào đầu máy
quay mạnh một vòng. Chiếc xe nổ ậm ạch rồi tắt.
Bác lại quay mạnh một vòng nữa, chiếc xe nổ máy
giòn tan. Như một phản ứng tự nhiên, tôi liền đưa
máy lên chụp Bác.
Khi về tráng phim, tôi rất mừng. Hình ảnh Bác
quay động cơ ô tô giúp đồng chí bộ đội lái xe, đã
được ghi lại. Bác cui cúi, hai chân vững chãi, cánh
tay rắn khoẻ, chiếc khăn quàng một bên buông
xuống gương mặt Bác chăm chú gần gũi...
Nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định kể,
Đăng Trung ghi.
Nguồn: Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác
phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội,
1980.
15
LÀM SAO LO CHO CÁC CHÁU ĂN NO,
CÓ QUẦN ÁO MẶC
Tháng 8-1945, Ủy ban cách mạng họp ở đình Tân
Trào, có đại biểu khắp nơi đến dự để chuẩn bị cuộc
tổng khởi nghĩa toàn quốc. Bác Hồ và các đại biểu
đang ngồi họp ở đình Tân Trào thì đồng bào địa
phương - đại biểu các dân tộc Tày, Trại, Nùng đến
chào mừng, thăm hỏi. Hôm đó có khoảng hai, ba em
nhỏ chừng ba bốn tuổi trong xóm ra chơi trước đình.
Các em đều xanh gầy, bụng ỏng, đít beo, lại
trần truồng, lấm lem, đi chân đất. Bác Hồ trông
thấy rất thương, xúc động, chỉ các cháu, Bác nói
với đại biểu đến dự đại hội Tân Trào:
Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho các cháu
được ăn no, có quần áo mặc. Câu nói đó của Người
mãi mãi ghi sâu trong trí nhớ mọi người có mặt trong
buổi họp và ai cũng thấy có trách nhiệm thiêng liêng
chăm lo cho đời sống trẻ em được no cơm, ấm áo.
Theo lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Nguồn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm
gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
16
Ở TÂN TRÀO VỚI BÁC
Ở Tân Trào, Bác cũng ở trong lán dựng trước
cửa một cái hang. Với chiếc máy chữ nhỏ đặt trên
cái bàn nứa trong lán, Bác làm việc ở đó, và ăn
ngủ cũng ở đó.
Cây đa Tân Trào.
Bác bận rộn suốt ngày. Các đồng chí trong
Trung ương thường xuyên đến họp bàn, xin ý kiến,
nhận chỉ thị của Bác. Các đoàn thể, đồng bào địa
phương cũng thường lui tới thăm hỏi Bác.
Bác đi tới đâu cũng chiếm được tình cảm của
đồng bào. Chỉ một thời gian ngắn ở Tân Trào mà
từ cụ già đến em nhỏ ai cũng hết sức kính trọng,
thương yêu Bác như chính người ruột thịt của
mình. Đồng bào gọi Bác là ông Ké - ông Ké Nùng,
ông Ké Tày. Có chút thịt rừng săn bắn được, hay
ngọn măng, con cá, mớ rau đồng bào cũng đem
đến biếu Bác. Thường thì Bác chỉ cảm ơn chứ
không nhận. Bác không bao giờ làm phiền đồng
bào. Đôi khi quá nể phải nhận thì Bác bảo nhà
bếp nấu lên, Bác cháu cùng chia ngọt sẻ bùi.
Sinh hoạt quá kham khổ, Bác lại có tuổi mà
phải làm việc quá nhiều, sức khỏe sút kém nên
17
thỉnh thoảng Bác bị sốt. Lần ấy Bác sốt cao, kéo
dài. Chúng tôi rất lo lắng. Thuốc men không có đủ.
Bác sốt vậy mà vẫn cứ làm việc không chịu ngủ.
Tôi ở cái lán bên cạnh lán của Bác. Đêm ấy,
thấy Bác vẫn thức làm việc đến tận khuya mà cơn
sốt vẫn chưa dứt, tôi đánh liều bước vào thưa:
- Thưa Bác, đã khuya rồi Bác lại đang sốt, xin
Bác đi nghỉ.
Bác nhìn tôi âu yếm:
- Đến phiên chú gác à? Bác sợ sốt mà nằm là nó
lấn tới. Phải hoạt động, làm việc, vã được mồ hôi
ra sẽ nhẹ người, rất tốt.
Thế là Bác lại tiếp tục làm việc. Tôi nhìn mà
thương quá. Người Bác gầy đi nhiều. Chòm râu,
mái tóc đã thêm nhiều sợi bạc. Bác cặm cụi bên
ngọn đèn, lúc quá mệt, Người bước ra vươn vai, hít
thở khí trời, đi lại xem anh em chúng tôi ngủ có
ngon lành, canh gác có nghiêm, chặt không. Bác
giắt lại màn, vén lại chăn cho từng người, rồi Bác
lại tiếp tục làm việc.
Bao giờ cũng vậy, chỉ đến khi con chim từ quy
đã kêu quá nửa vòng núi, tức đã gần sáng, Bác
mới đi ngủ.
...
Hôm sau, tôi báo cáo với các đồng chí cấp trên, bàn
phải tìm thầy lang. Ở bản bên cạnh, có một bà lang
có tiếng, chúng tôi mời bà đến thăm bệnh cho Bác.
Bác không phản đối nhưng Bác cũng không nói gì.
Sau khi thăm bệnh nhân, bà lang đã bảo tôi đi
tìm mấy thứ lá cây theo chỉ dẫn của bà đem về.
18
Các loại lá được đun sôi để Bác xông. Nhưng trước
khi xông, bà lang dùng cành lá quay chung quanh
như phù phép. Bác vẫn ngồi điềm nhiên. Tôi
không dám cười. Tôi cứ nghĩ một người cộng sản
như Bác làm sao lại có thể tin vào cái trò phù
phép ấy. Nhưng sao Bác lại cứ để yên cho bà lang
làm như thế, mà không thấy trên nét mặt Bác tỏ
ra một thái độ gì.
Cuối cùng bà lang đã bảo Bác xông và sau đó
uống thuốc nam.
Đúng là xông xong, Bác thấy người nhẹ nhõm,
thoải mái hơn. Bác lại tiếp tục công việc. Mãi đến
giờ nghỉ chiều, hai Bác cháu ra bờ suối tưới rau,
tôi mới dám hỏi Bác chuyện ấy:
- Thưa Bác, bà lang làm phép như vậy có thể
tin không ạ?
Bác cười:
- Bác biết bà lang là người biết cách chữa bệnh
bằng cả phương pháp tâm lý nữa. Mình không nên
làm phật ý người ta. Vận động, tuyên truyền đồng
bào trừ mê tín là việc làm lâu dài, phải kiên trì,
không được nôn nóng.
Nghe lời Bác dạy, tôi mới hiểu thêm bài học về
cách cư xử của Bác với đồng bào địa phương, cách
thức tuyên truyền vận động quần chúng của Bác.
Tôi tự rút ra cho mình một bài học trong quan hệ
với nhân dân.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
19
NHỮNG LỜI BÁC DẠY
Tôi có một niềm hạnh phúc rất lớn là được gặp
và làm việc bên Bác Hồ vào những ngày đầu Cách
mạng Tháng Tám và những tháng đầu năm 1950.
Những kỷ niệm sâu sắc được sống bên Bác không
bao giờ tôi quên.
Hồi đầu Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội chuẩn
bị đón quân Đồng minh vào tiếp nhận phát xít
Nhật đầu hàng. Các đồng chí ở Văn hoá cứu quốc
trao trách nhiệm cho đồng chí Nguyễn Huy Tưởng
và tôi phụ trách các khẩu hiệu treo ở đường phố.
Thủ đô Hà Nội trong những ngày ấy rợp màu đỏ
của cờ và khẩu hiệu. Các khẩu hiệu trên băng đỏ,
chữ vàng chói lọi bằng các thứ tiếng Việt, Nga,
Anh, Pháp với nội dung:
“Nước Việt Nam của người Việt Nam”
“Độc lập hay là chết!”
“Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta”.
Một hôm, Nguyễn Huy Tưởng cùng đi với tôi
trên các hè phố Hà Nội, anh cười bảo tôi: “Khoa
này, những khẩu hiệu và cờ như choàng cho Thủ
đô chiếc áo ngày cưới”.
20
Đến tối, chúng tôi được biết Bác Hồ chỉ thị phải
bỏ khẩu hiệu: “Hoan hô những người giải phóng
cho chúng ta”. Bác bảo: Cách mạng Tháng Tám do
Đảng ta lãnh đạo chúng ta đấu tranh gian khổ với
thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành lại chính
quyền, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có
ai đến giải phóng cho chúng ta đâu mà các chú
làm khẩu hiệu “Hoan hô những người giải phóng
cho chúng ta”.
Nguyễn Huy Tưởng và tôi ngay đêm hôm ấy
mượn cái xe cam nhông của Toà Thị chính Hà Nội
để đi các phố gỡ những khẩu hiệu non yếu về
chính trị của chúng tôi.
Bác Hồ của chúng cháu! Chúng cháu nhớ mãi
kỷ niệm này của đời một người cán bộ cách mạng:
Độc lập, Tự do không nhờ ai đem đến cho mình
được. Phải có Đảng lãnh đạo, phải đem xương
máu của dân tộc mình ra giành lấy và bảo vệ lấy.
Sau đó, tôi được Đảng điều đến làm việc ở văn
phòng Bác. Hôm đến làm việc với Bác, một cử chỉ
rất thân mật của Bác làm tôi xúc động, nước mắt
cứ trào ra. Bác để tay lên vai tôi, và một tay Bác
cài chiếc khuy cổ áo sơ mi cho tôi. Tôi ăn mặc cũng
chỉnh tề lắm, nhưng chiếc khuy cổ áo quên không
cài. Bác bảo: “Chú làm công tác với những người
nước ngoài phải nhớ ăn mặc cho tươm tất”. Lời nói
của Bác như một người cha dạy đứa con nhỏ. Năm
ấy tôi đã 30 tuổi và cho đến ngày nay và mãi mãi,
21
mỗi khi nghĩ đến cử chỉ thân mật của Bác Hồ, tôi
vẫn giữ niềm vui như một đứa trẻ nhỏ được người
cha già chăm nom săn sóc cho từng ly từng tí.
Những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, bao
nhiêu khó khăn gian khổ: giặc ngoài thù trong giở
đủ trò đủ quẻ, ra sức phá hoại cách mạng. Trong
những ngày sóng gió như thế, Bác Hồ đã vững tay
lái, đưa dân tộc ta qua bao nỗi khó khăn, hiểm
nghèo. Tôi nhớ hồi đó, một buổi sáng, đồng chí T. lại
đến báo cáo tình hình với Bác. Bọn giặc làm lắm
điều ức không thể chịu được. Bọn phản động trong
nước cũng ra sức hoành hành. Đồng chí T. gặp phải
nhiều khó khăn quá cũng phải lắc đầu. Bác Hồ bình
tĩnh bảo: “Cái đầu của chú trong lúc này không được
lắc. Để giành được cái to lớn và quý báu, tạm thời
chúng quấy nhiễu đòi hỏi gì cũng phải gật”.
Câu nói của Bác đến nay tôi vẫn còn nhớ như
in. Bác đã dạy cho những người yêu nước một
nhân sinh quan cách mạng: nếu cứu được nước thì
dù bao nhiêu cay đắng cũng phải chịu. Càng nghĩ
đến câu nói ngày ấy của Bác, cháu càng thấy
thấm thía lời Bác dạy ngày nay: Không có gì quý
hơn Độc lập, Tự do.
Năm 1950, tôi lại có dịp được Đảng giao cho đi
công tác bên Bác Hồ. Trong khi đi đường, Bác hỏi
tôi: Chú Khoa làm công tác văn nghệ có thuộc
Chinh phụ ngâm không? Tôi trả lời: Thưa Bác,
cháu thuộc từng đoạn thôi ạ.
22
Bác bảo tôi: “Làm công tác văn nghệ mà không
tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được
đâu”. Và từ hôm ấy trong khi đi đường, mỗi buổi
sáng, Bác dạy tôi bốn câu trong Chinh phụ ngâm,
buổi chiều Bác bảo tôi đọc lại, rồi Bác lại dạy tôi
bốn câu tiếp. Cứ thế trong mấy chục ngày đường
đi bộ, Bác dạy tôi thuộc lòng cuốn Chinh phụ
ngâm từ đầu đến cuối.
Thỉnh thoảng Bác lại hỏi tôi xem có hiểu nghĩa
câu văn cho thực sâu không, và Bác bảo tôi ngâm
những đoạn Bác thích. Thỉnh thoảng Bác động viên
tôi: “Giọng chú ngâm cũng khá đấy!”. Hai Bác cháu
cùng cười. Bác bảo: “Đi đường ngâm nga như thế
vừa vui vừa quên cái mệt”. Bác đi bộ khoẻ lắm. Có
giờ Bác đi tới sáu cây số. Trên những quãng đường
vắng của núi rừng Việt Bắc, một ông già mặc bộ
quần áo chàm, đầu đội chiếc nón, vai khoác chiếc
túi vải xanh trong đựng một cuốn sổ tay, một hộp
thuốc lá, một chiếc bật lửa và một chiếc khăn mặt,
đó là hình ảnh Hồ Chủ tịch đi bộ hàng chục ngày
đường trèo đèo, lội suối để làm việc cho Tổ quốc
trong những ngày lịch sử vô cùng trọng đại của
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Bác Hồ đã vĩnh biệt chúng ta! Bác ơi, ngồi viết
lại những dòng hồi ký này trong đêm khuya tĩnh
mịch, nước mắt cháu trào ra vì đau thương, vì nhớ
Bác. Những ngày cháu được công tác bên Bác,
cháu đã được nghe Bác kể chuyện những ngày Bác
23
bị tù trong tay bọn Quốc dân Đảng Tưởng Giới
Thạch. Cả cuộc đời Bác là của giai cấp, của dân
tộc, của Tổ quốc. Bác đã dạy dỗ cháu, dìu dắt
cháu. Mỗi lần chúng cháu làm xong một phim và
được vinh dự đem chiếu để Bác xem, Bác chỉ bảo
cho chúng cháu: người làm công tác nghệ thuật
phải làm thế nào phục vụ nhân dân được tốt, phải
làm gì cho xứng đáng là nghệ sĩ cách mạng.
Chúng cháu nguyện nghe theo lời Bác, cố gắng
đấu tranh với bản thân mình, trau dồi đạo đức
cách mạng, trau dồi nghệ thuật để xứng đáng
đứng trong hàng ngũ những người nghệ sĩ cách
mạng, dưới ngọn cờ của Bác.
Nguồn: Người là Hồ Chí Minh (Tập hồi ký),
Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995.
24
BÁC HỒ VÀ TẾT BÍNH TUẤT NĂM 1946
Không hiểu từ bao giờ, Tết Âm lịch đã trở nên
thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Tết
Bính Tuất đến chỉ sau ngày Bác tuyên bố khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hơn
năm tháng. Vì vậy không chỉ người dân Hà Nội
mà mọi người dân trong cả nước đều nghĩ đến Tết
độc lập đầu tiên sớm hơn mọi năm. Một tuần nữa
mới tới ngày ông Táo lên trời mà mọi nhà đã sửa
soạn cả rồi. Đối với Bác Hồ, mặc dù bận trăm công
nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng vẫn không
quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.
Tối ngày 19-1-1946, Bác hỏi tôi:
- Chú Cần xem sắp đến ngày Tết ông Táo
chưa nhỉ?
- Thưa Bác, hôm nay mới là 18 tháng Chạp,
còn năm ngày nữa ạ.
Đêm đó, Bác trằn trọc không ngủ. Nghe tiếng cựa
mình, tôi biết Bác còn thức. Chắc giờ này Bác
đang nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ cả nước.
Sáng 20, Bác gọi tôi lại, bảo lấy giấy bút, Bác đọc
cho viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến.
25
Thư ngắn gọn và tôi cứ tưởng như Bác đang nói
chuyện với mọi người: “Tôi kêu gọi đồng bào và các
đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân
mừng Tết với:
Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,
Những gia quyến các chiến sĩ,
Những đồng bào nghèo nàn,
Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui
về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”1.
Ngay chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi thanh
niên và nhi đồng. Bác gửi riêng cho thanh niên và
nhi đồng bởi đây là những chủ nhân tương lai của
đất nước, cả nước đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ
mà thư trước Bác chưa nhắc đến. Bác đọc chậm
rãi cho tôi viết và cẩn thận sửa lại một số từ mà
Bác chưa vừa lòng. Lời so sánh trong thư làm cho
bất cứ bạn trẻ nào khi đọc, khi nghe cũng đều
thấy một sức xuân phơi phới trong mình: “Một
năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ
tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”2. Thư
Bác khuyên bảo: “Năm mới, chúng ta thực hành
đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng
đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”3.
Ngày 1-2-1946, tức 30 Tết, từ sáng sớm anh Cả
(tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) mang đến hai
____________
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2015, t.4, tr.186, 194.
26
bọc nói là Bác đã dặn. Chiều lúc đi làm về, Bác nói
với tôi:
- Tối nay chú đưa Bác đến thăm một số gia
đình Tết nghèo, Tết vừa, Tết khá, Tết sang. Chú
không phải báo trước cho bất cứ ai.
Bác lại dặn chỉ cần hai bảo vệ, một lái xe đi cùng
nên tôi rất lo lắng, bởi ta vừa giành được chính
quyền, các thế lực phản động vẫn đang rắp tâm phá
hoại cách mạng. Thấy tôi không yên tâm Bác giải
thích và động viên: “Chú có biết cách bảo vệ tốt nhất
là gì không? Bảo vệ tốt nhất là bí mật và bất ngờ!”.
Bác nói thêm:
- Dân ta rất tốt. Chú phải tin vào dân.
Lời nói của Bác làm tôi bình tĩnh hơn, nhưng
vẫn chưa hết lo. Là một cán bộ hoạt động bí mật ở
Hà Nội, tôi hiểu khá tường tận các đường phố nên
sắp sẵn trong đầu những chỗ sẽ đến, những phố sẽ
đi qua làm thế nào để đường đi ngắn và an toàn.
19 giờ ngày 30 Tết, trời tối đen. Cái tối đêm 30.
Trời rét ngọt. Năm Bác cháu lên xe. Xe chạy qua
từng phố vắng vẻ. Cái ồn ào, sôi động của không
khí đón Tết giờ này đã chuyển vào trong từng ngôi
nhà, để lại cho đường phố một vẻ yên tĩnh lạ
thường. Xe dừng lại ở đầu ngõ Hàng Đũa, phố
Sinh Từ. Bác cháu lần mò vào trong ngõ. Đường
mấp mô, có lúc phải bật đèn pin. Tôi đưa Bác vào
một nhà ở cuối ngõ, gọi cửa không thấy tiếng trả
lời. Không cài then, tôi đẩy cửa vào một căn phòng
27
hẹp lạnh lẽo. Ngọn đèn dầu nhỏ không đủ soi
sáng. Tôi hỏi to:
- Nhà có ai không?
Chỉ có tiếng rên từ một chiếc võng tre kê sát
vách. Lại gần thấy một người đắp chiếu đang rên.
Tôi ghé vào đầu giường nói:
- Cụ Hồ đến chúc Tết đấy!
Không thấy tiếng đáp lại, nhưng tiếng rên
không to nữa. Tôi rờ tay lên trán chủ nhà thấy sốt
nóng. Bác bảo kéo chiếu kín cho chủ nhà, rồi Bác
cháu lặng lẽ đi ra, khép kín cửa lại. Ngồi trên xe
Bác nói khẽ như nói với chính mình: “30 Tết mà
không có Tết”. Không khí trong xe lặng đi. Chỉ
nghe thấy tiếng động cơ xe chạy. Bác dặn tôi: “Mai
chú nhớ mang thuốc, quà và thiếp chúc Tết đến
thăm hỏi” (Sáng hôm sau, khi mang thuốc, quà và
thiếp chúc Tết đến thăm, chúng tôi mới biết chủ
nhà là người tỉnh khác về Hà Nội làm phu kéo xe
không đủ tiền để về quê ăn Tết với gia đình).
Xe dừng lại trước cửa một nhà ở phố Hàng Lọng
gần ga Hàng Cỏ (nay là phố Lê Duẩn), gọi cửa có
người ra mở ngay. Khi nhận ra Cụ Hồ, mọi người
luýnh quýnh kéo vội quần áo đang phơi trên dây
chăng ngang nhà. Đây là nhà của một viên chức
nghèo. Cụ Hồ chúc Tết, thăm hỏi gia đình. Gia
đình vui sướng quây quần quanh Bác, quên cả chúc
Tết Cụ Hồ. Xe tới phố Hàng Vải Thâm. Phố vắng
tanh và lạnh, đèn điện sáng lờ mờ. Nhưng khi cánh
28
cửa nhà hé mở thì ánh điện trong nhà sáng loé.
Căn nhà hẹp nhưng sâu. Gian bên ngoài kê một bộ
sa lông bằng gỗ nghiến trạm trổ, mặt bàn bằng đá
vân mây, lọ độc bình cao to cắm cành đào như cả
một cây, nụ to, hoa nở đỏ thắm choán cả lối đi. Bên
kia là một chậu quất, quả chín mọng. Cạnh đó là
mấy chậu cúc vàng. Sâu vào bên trong có một chiếc
giường gụ chân quỳ kê sát tủ chè lồng kính. Bên
trên là bàn thờ, đỉnh đồng sáng bóng, khói trầm
nghi ngút, bày mâm cỗ, bánh chưng và ngũ quả,
trong đó có bưởi và phật thủ. Cụ Hồ chúc Tết gia
đình và gia đình cũng chúc Cụ Hồ năm mới sống
lâu mạnh khỏe!
Tới mấy nhà buôn bán to và quan lại cũ, gọi
cửa không thấy mở. Bác ngồi trên xe thấy lâu, ra
hiệu thôi. Bác cháu trở về nhà.
Nhắc lại chuyện cũ, tôi nhớ câu thơ của Tố Hữu:
“Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”
Người Hà Nội có thói quen đón Tết trong ngôi
nhà ấm cúng của gia đình cho nên đường phố
vắng teo. Lúc đó đã là 21 giờ 30 phút. Vừa về đến
nhà (số 8 Lê Thái Tổ), Bác bảo riêng tôi lên phòng,
bàn chương trình đón giao thừa. Tôi mở hai gói lúc
sáng anh Cả chuyển đến. Đó là quần áo dành cho
Bác và tôi cải trang đi đón giao thừa ở đền Ngọc
Sơn. Bác mặc thử: khăn xếp, áo the, quần trắng,
29
giầy Gia Định, kèm theo chiếc mục kỉnh đeo trễ
xuống, trông Bác như một cụ đồ nhà quê. Tôi mặc
quần trắng, áo láng đen, chân đi dép da, đầu tóc
để trần, trông hệt như con nhà nền nếp. Mặc thử
xong Bác bảo tôi:
- Trước 12 giờ, hai Bác cháu đi bộ ra đền Ngọc
Sơn hái lộc đón giao thừa.
Bác dặn thêm:
- Không cần bảo vệ đi theo.
Lúc này tôi lo lắng thật sự.
Bác nhắc lại câu: “Bảo vệ tốt nhất là bất ngờ và
bí mật”. Và nhớ lại câu nói của Bác “Dân ta rất
tốt”, “Chú phải tin ở dân”, nỗi lo trong tôi vơi đi
phần nào. Trước lúc ra khỏi nhà tôi giấu Bác giắt
khẩu súng ngắn trong cạp quần cho yên tâm.
Chập tối, các đường phố vắng vẻ là thế, mà lúc
này, người người nối đuôi nhau trên các nẻo
đường đổ về hồ Hoàn Kiếm đón giao thừa. Cầu
Thê Húc, đền Ngọc Sơn chật ních người. Tôi đi
trước tay trái dắt Bác, tay phải rẽ người chen vào
đám đông. Trông Bác lúc này giống hệt ông cụ
nhà quê ra ăn Tết với con cháu ở Hà Nội. Người
Thủ đô vốn có tiếng là thanh lịch, nhưng đêm giao
thừa đó, khi dắt Bác chen qua đám trai thanh gái
lịch, tôi vẫn nghe thấy tiếng đầy bực dọc: “Hai ông
cháu nhà quê đi đâu mà lớ ngớ, không cúng lễ mà
cũng chẳng hái lộc”! Bác như đang hòa vào không
khí vui xuân với người dân Hà Nội, còn tôi chỉ lo
30
lạc Bác. Lúc trở ra qua được cầu Thê Húc, hai Bác
cháu nhìn nhau mỉm cười. Có lẽ thấy được sự lo
lắng của tôi thể hiện trên nét mặt nên Bác nói:
- Tôi trông chú thấy buồn cười quá. Bây giờ
chưa về ngay đâu, hai Bác cháu đi dọc thêm phố
Hàng Đào xem mọi người đón Tết ra sao.
Cảm giác lo lắng theo tôi suốt dọc đường. Chỉ
khi về đến nhà tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi gọi
điện cho Giám đốc Sở Liêm phóng, báo tin hai Bác
cháu vừa đi đón giao thừa ở đền Ngọc Sơn. Giám
đốc Sở Liêm phóng được một phen hú vía. Cũng
như Giám đốc Sở dân chính Hà Nội, không ai biết
đêm giao thừa đầu tiên của nước Việt Nam độc
lập, Cụ Hồ đã cùng nhân dân Thủ đô chen vai sát
cánh đón Tết Độc lập.
Sáng mồng một Tết, Bác dậy sớm. Chưa đến
giờ làm việc, Bác đã bảo tôi đem giấy ra viết khai
bút. Bác bảo tôi viết to cho dễ đọc: “Hôm nay là
ngày mồng một Tết năm Bính Tuất. Ngày Tết đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Tôi
thấy mình nhỏ bé lại như những ngày đi học trước
kia, chẳng khác lúc thầy đọc cho viết chính tả. Bác
chúc đồng bào cả nước, chúc các chiến sĩ ngoài
mặt trận, chúc gia quyến các chiến sĩ ở hậu
phương, năm mới vui vẻ, khoẻ mạnh và thắng lợi.
Viết xong, Bác bảo tôi:
- Chú báo chú Hưng, 7 giờ đến gặp Bác ở Bắc
Bộ phủ.
31
Đồng chí Trần Duy Hưng có mặt tại phòng làm
việc của Bác trước 7 giờ. Bác nói:
- Bác đã viết thư kêu gọi trước Tết ông Táo mà
các chú không tổ chức làm cho nhiều gia đình
không có Tết. Các chú có khuyết điểm không thực
hiện thư Bác. Thế các chú sửa khuyết điểm này
như thế nào?
Chúng tôi đứng lặng nhìn nhau, chưa biết nói
thế nào, Bác nói tiếp:
- Thôi thế này, các chú cùng đội tuyên truyền
xuống các đường phố, xem nhà nào chưa có Tết thì
vận động hai nhà bên cạnh biếu họ chiếc bánh
chưng và quả cam.
Chúng tôi làm theo lời Bác. Tết năm ấy, những
gia đình nghèo cũng được hưởng Tết, đón Xuân.
Đồng chí Vũ Kỳ kể.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
32
“MUỐN VẬN ĐỘNG CÓ KẾT QUẢ,
MÌNH PHẢI LÀM GƯƠNG!”
Hôm đó là ngày 19-5-1946. Chúng tôi đến chúc
thọ Hồ Chủ tịch cùng mấy đoàn thể. Giới thiệu
đến Ủy ban Đời sống mới, Cụ bỗng hỏi như níu lại:
- Đời sống mới là ai?
Đóng khung câu chuyện, Cụ hỏi dồn dập, chăm
chú, không cho chúng tôi lảng sang vấn đề khác.
Buổi chúc thọ Hồ Chủ tịch bỗng biến thành cuộc
thảo luận ráo riết và thân mật về đời sống mới.
- Chú cho tôi biết cuộc vận động đời sống mới
đến đâu rồi?
- Thưa Cụ, - tôi đáp, - chúng tôi đã bắt đầu
bằng sự chia ra các ban nghiên cứu, tổ chức, v.v..
Nhưng công việc chính là định rõ cái hướng cho
đời sống mới. Mấy khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm,
chính” chúng tôi xét ...
TẤM GƯƠNG TRUNG THỰC, TRÁCH NHIỆM,
GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN CỦA
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịc h Hộ i đồ ng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịc h Hộ i đồ ng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO
LÊ TRANG
(Sưu tầm)
NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ
TẤM GƯƠNG TRUNG THỰC, TRÁCH NHIỆM,
GẮN BÓ VỚI NHÂN DÂN CỦA
Chủ tịc h HỒ CHÍ MINH
NHÀ XUẤT BẢN
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong những năm qua, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Sự thật đã xuất bản nhiều cuốn sách tập hợp những
bài viết dưới dạng hồi ký, giản dị nhưng rất cảm động
của cán bộ, chiến sĩ đã từng phục vụ, sống và làm việc
với Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc trong cuộc đời có may
mắn, hạnh phúc được một lần gặp Bác, nhận từ Bác
những chỉ dẫn ân cần và tình thương yêu vô bờ bến.
Từ những cuốn sách đã được công bố, tác giả Lê
Trang đã tuyển chọn một số bài viết và được Nhà xuất
bản Thông tin truyền thông xuất bản thành cuốn sách
Những chuyện kể về tấm gương trung thực, trách
nhiệm, gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cuốn sách này được Hội đồng chỉ đạo xuất bản sách
trang bị cho xã, phường, thị trấn phê duyệt xuất bản
năm 2016.
Từ cách sắp xếp tản mạn trong bản thảo của Nhà
xuất bản Thông tin truyền thông, chúng tôi tổ hợp, cấu
trúc lại, sắp xếp các bài viết có chủ đề gần nhau, chẳng
hạn như Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ, Bác Hồ với miền
Nam, Bác Hồ đi thăm các địa phương đơn vị, những
ngày tháng cuối cùng của Bác Hồ... thành từng cụm để
5
bạn đọc tiện theo dõi. Các bài viết ở từng chủ đề được
đặt theo trật tự thời gian diễn ra câu chuyện.
Xuất bản cuốn sách nhỏ này, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật mong muốn giúp cán bộ ở cơ sở xã,
phường, thị trấn có thêm hiểu biết về cuộc đời, sự nghiệp,
tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần thực
hiện thắng lợi Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của
Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc tiếp tục
thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn
đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
CÓ THỂ CHO NGƯỜI NGHÈO
NHỮNG THỨ ẤY
Khoảng năm 1914, Bác Hồ - lúc bấy giờ gọi là
Nguyễn Tất Thành - đã đến Luân Đôn - Thủ đô
của nước Anh. Ở đây, có thời gian Bác phải làm
phụ bếp cho khách sạn Cáctơn1.
Ở khách sạn Cáctơn, hằng ngày có người phục
vụ dưới bếp. Những người này, sau khi khách ăn
xong, có nhiệm vụ phải thu dọn bát đĩa... và đổ tất
cả thức ăn thừa vào một cái thùng to rồi sau đó
đem đổ đi. Có khi những thức ăn thừa là một
phần tư con gà, hay cả đĩa bánh mỳ và những
miếng bít tết to tướng...
Đến lượt anh Thành làm phụ bếp, những thức ăn
thừa của khách, anh đem để riêng và đậy lại cẩn
thận sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng rồi đưa cho nhà bếp.
Thấy vậy ông đầu bếp Étcốtphie hỏi lại anh:
- Tại sao anh không đem những thức ăn này đổ
vào thùng như những người khác?
____________
1. Một khách sạn nổi tiếng ở Luân Đôn do ông Étcốtphie
người Pháp làm đầu bếp.
7
Anh Thành điềm tĩnh trả lời:
- Không nên đem vứt những thứ này đi. Ông có
thể cho người nghèo những thứ ấy.
Câu nói của anh Thành làm cho ông đầu bếp
rất ngạc nhiên, vì ông thấy từ trước tới nay, chưa
có ai ở khách sạn này nghĩ và nói như anh Thành.
Ông chủ bếp và mọi người nhìn anh biểu hiện
một sự quý mến và khâm phục trước tấm lòng yêu
thương của anh đối với những người nghèo.
Nguồn: Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
8
BÁC QUAN TÂM CHĂM SÓC CÁN BỘ
Tháng 2-1941, Bác Hồ về Pác Bó. Để trực tiếp
chỉ đạo phong trào và bồi dưỡng cán bộ, Bác cho
mấy anh em Huyện ủy Hà Quảng (Cao Bằng) đang
hoạt động bí mật ở cùng với Bác. Ngoài các đồng
chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp... đi
theo Bác, lúc này trong hang có thêm các đồng chí
Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Thuỵ Hùng, Đức Thanh
và tôi.
Hồi ấy, có đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng
Sâm phụ trách bảo vệ cơ quan Bác và tổng Lục
Khu. Còn tôi thì được phân công trực tiếp phụ
trách tổng Hà Quảng (gồm những xã Sóc Hà, Nà
Sắc và vùng mỏ Sắt bấy giờ), kiêm nhiệm vụ kiểm
tra tổng Thông Nông.
Trước khi chúng tôi đi xuống cơ sở công tác, bao
giờ Bác cũng bảo báo cáo chương trình, kế hoạch cụ
thể cho Bác nghe. Bác bổ sung thêm rồi bảo chúng
tôi nhắc lại thật đúng rồi mới cho đi. Do đó, bọn tôi
rất vững dạ, như người đi rừng có địa bàn trong tay.
Cứ mỗi lần có đồng chí rời hang là Bác lại lo lắng:
lo sao anh em được bình yên trở về, thoát khỏi mọi
9
sự bất trắc dọc đường. Khi thấy anh em về, Bác vui
hẳn lên. Câu đầu tiên Bác nói là hỏi han sức khoẻ,
sau đó cho anh em nghỉ ngơi, tắm giặt, rồi mới làm
việc. Lúc ấy, phong trào đang lên, công việc rất
nhiều, nên anh em chúng tôi không ai muốn nghỉ,
đợi được báo cáo tình hình, xong là đi ngay. Nhưng
Bác không đồng ý.
Thỉnh thoảng đi công tác về, chúng tôi lại được
Bác chia cho kẹo. Hỏi đồng chí Cáp mới biết đó là
quà của nhân dân Pác Bó đi chợ mua về biếu Bác.
Bác chỉ ăn một, hai chiếc. Còn bao nhiêu gói lại,
cất vào ống tre, Bác bảo:
- Để dành cho các chú ấy đi công tác về ăn.
Quà của Bác tuy nhỏ, nhưng cử chỉ của Bác là
cả một tình thương, có sức động viên chúng tôi rất
mạnh. Mỗi lần đi lâu ngày mới về, bao giờ Bác
cũng dặn đồng chí cấp dưỡng cố gắng tìm mua
thức ăn về “thết tiệc” anh em. Gọi là tiệc, nhưng
chỉ thêm vài miếng thịt lợn luộc chấm muối.
Ở hang, nhưng hằng ngày Bác vẫn giữ đúng giờ
giấc. Đến giờ, nếu ai ngủ chưa dậy thì Bác khẽ
đánh thức. Song, đối với anh em chúng tôi mới đi
công tác về, Bác bảo anh em khác phải im lặng,
giữ ý từng bước chân, để chúng tôi được ngủ thêm
một lúc.
Tôi còn nhớ một lần, đồng chí Đức Thanh đi
công tác về bị ốm, nằm liệt giường. Bác buồn lắm.
Bác bảo đồng chí Cáp vào rừng lấy lá thuốc về cho
10
đồng chí Thanh uống và xông. Chốc chốc Bác lại
đến sờ trán đồng chí Đức Thanh.
Ngồi làm việc ở một góc hang, tôi im lặng theo
dõi từng cử chỉ của Bác. Nhìn nét mặt lo âu của
Bác, tôi bỗng nhớ đến lúc còn bé, bị ốm chốc chốc
mẹ lại sờ trán tôi, nét mặt vui buồn đều gắn vào
độ nóng, lạnh trong người tôi truyền qua bàn tay
nhăn nheo của mẹ. Cử chỉ của Bác trong lúc này
chẳng khác dáng dấp của mẹ tôi khi xưa.
Những tình cảm sâu sắc của Bác đối với chúng
tôi hơn ruột thịt, đã động viên chúng tôi vượt qua
mọi khó khăn gian khổ những năm tháng sống
trong hang giữa rừng.
Hoàng Tô (nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam Khu tự trị Việt
Bắc) kể.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005,
tr.596-598.
11
BÁC THƯƠNG YÊU CÁN BỘ
Bác thương yêu cán bộ rất chân thực, mộc mạc
và xuất phát từ đáy lòng. Trong tám đồng chí:
Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng,
Lợi thì đồng chí Lợi là người Nùng ở Cao Bằng.
Anh bảo vệ Bác mấy năm thì xin Bác về với gia
đình. Bác tiếc nhưng thông cảm với hoàn cảnh,
biết lưu lại không được nên phải cho đồng chí Lợi
về. Bác luôn luôn nhớ đồng chí Lợi. Hồi đó tôi công
tác tại Cao Bằng. Hai lần được sang báo cáo công
tác với Bác, Bác đều dặn tôi lên nói với địa phương
thăm nom đồng chí Lợi, giúp đỡ khi ốm đau, kể cả
đối với gia đình đồng chí.
Những lúc báo cáo công việc cũng chính là lúc
được Bác giáo dục. Bác giao cho tôi và các đồng chí
Tỉnh ủy Cao Bằng và ủy ban phải khéo giữ yên ổn
vùng biên giới để khỏi bị bọn thân Pháp và phản
động ở biên giới quấy rối ta trong lúc ta đang phải
tập trung chống Pháp.
Nói chung chúng tôi đã thực hiện được lời Bác
dặn. Riêng tôi vì có quan hệ buôn bán với bọn cầm
đầu ở biên giới trong chính quyền và quân đội nên
12
quan hệ đôi bên cũng yên ổn. Có lần tôi về báo cáo
ngắn gọn. Sau khi nghe xong Bác vui vẻ nhận xét
rồi dặn thêm mấy điều mà đến nay tôi còn nhớ
mãi. Bác dặn:
- Bọn đặc vụ thân Pháp đang hoạt động ở biên
giới để tìm hiểu tình hình của ta và phá hoại ta.
Khi sang giao thiệp có gì đáng nói hãy nói, cái gì
không đáng nói thì đừng nói. Ngay trong gia đình
cũng có những việc không nên nói cho bên ngoài
biết. Chú đừng thật thà quá. Đi với Phật phải mặc
áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Các chú giữ yên
biên giới như thế là tốt, nhưng thành ngữ có câu:
“Cư yên tư nguy, cư trị bất vong loạn”1. Chú có
hiểu hai câu đó không?
- Thưa Bác có ạ.
Bác cười. Thế là tôi lại khoác ba lô từ giã Bác
để đi Cao Bằng. Khi đi đường tôi suy nghĩ thấy
Bác thật là một bậc túc nho. Bác thuộc rất nhiều
thành ngữ Hán, sử dụng rất nhuần nhuyễn và
mỗi khi dùng thành ngữ là một lần Bác giáo dục
cán bộ, để cho cán bộ trưởng thành mà không cần
nói dài.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
____________
1. “Cư an tư nguy, cư trị bất vong loạn”: đại ý là lúc
yên, vẫn phải nghĩ đến những mối nguy tiềm ẩn, sống yên
bình phải nghĩ đến lúc nguy biến.
13
HÌNH ẢNH BÁC
HÌNH ẢNH DÂN TỘC
Sau Chiến dịch biên giới, tôi lại có lần được
theo Bác đi công tác. Ở Chiến dịch biên giới, ta có
thu được một ít ô tô quân sự của địch. Bộ Tổng tư
lệnh đã đưa một xe đến để Bác đi công tác. Đây là
lần đầu tiên trong kháng chiến Bác đi công tác
bằng xe ô tô. Để tránh máy bay địch, cứ chập
chiều ô tô mới chạy.
Lái xe là một đồng chí bộ đội trẻ, tính vui nhộn.
Đi công tác, Bác và anh em chúng tôi đều ăn
chung với nhau. Một hôm đồng chí cấp dưỡng tìm
được con chim rất béo, đem quay để phần Bác. Lúc
ăn, Bác lại đem chia đều cho tất cả mọi người và
chỉ nhận cho mình một phần bằng những người
khác. Xong, Bác gắp cái đầu cho đồng chí bác sĩ:
- Chú suy nghĩ nhiều cho cái đầu.
Bác gắp đôi cánh cho đồng chí vận tải:
- Chú mang vác nhiều cho đôi cánh.
Bác gắp cho đồng chí lái xe:
- Chú chạy nhiều cho cái “giò”
14
Hôm sau, trên đường ô tô bị hỏng. Đồng chí lái
xe luống cuống lo lắng.
Bác xuống xe, bảo đồng chí bộ đội lái xe:
- Chú cứ bình tĩnh sửa chữa.
Thấy đồng chí lái xe loay hoay mãi, Bác hỏi:
- Xe hỏng bộ phận nào?
Đồng chí lái xe đáp, rồi tay chỉ vào bộ phận
hỏng. Lát sau chỗ hỏng được chữa. Bác bảo đồng
chí lái xe ngồi vào lái, Bác quay động cơ cho. Nói
rồi Bác lấy ngay chiếc maniven, móc vào đầu máy
quay mạnh một vòng. Chiếc xe nổ ậm ạch rồi tắt.
Bác lại quay mạnh một vòng nữa, chiếc xe nổ máy
giòn tan. Như một phản ứng tự nhiên, tôi liền đưa
máy lên chụp Bác.
Khi về tráng phim, tôi rất mừng. Hình ảnh Bác
quay động cơ ô tô giúp đồng chí bộ đội lái xe, đã
được ghi lại. Bác cui cúi, hai chân vững chãi, cánh
tay rắn khoẻ, chiếc khăn quàng một bên buông
xuống gương mặt Bác chăm chú gần gũi...
Nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định kể,
Đăng Trung ghi.
Nguồn: Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác
phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội,
1980.
15
LÀM SAO LO CHO CÁC CHÁU ĂN NO,
CÓ QUẦN ÁO MẶC
Tháng 8-1945, Ủy ban cách mạng họp ở đình Tân
Trào, có đại biểu khắp nơi đến dự để chuẩn bị cuộc
tổng khởi nghĩa toàn quốc. Bác Hồ và các đại biểu
đang ngồi họp ở đình Tân Trào thì đồng bào địa
phương - đại biểu các dân tộc Tày, Trại, Nùng đến
chào mừng, thăm hỏi. Hôm đó có khoảng hai, ba em
nhỏ chừng ba bốn tuổi trong xóm ra chơi trước đình.
Các em đều xanh gầy, bụng ỏng, đít beo, lại
trần truồng, lấm lem, đi chân đất. Bác Hồ trông
thấy rất thương, xúc động, chỉ các cháu, Bác nói
với đại biểu đến dự đại hội Tân Trào:
Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho các cháu
được ăn no, có quần áo mặc. Câu nói đó của Người
mãi mãi ghi sâu trong trí nhớ mọi người có mặt trong
buổi họp và ai cũng thấy có trách nhiệm thiêng liêng
chăm lo cho đời sống trẻ em được no cơm, ấm áo.
Theo lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Nguồn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm
gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
16
Ở TÂN TRÀO VỚI BÁC
Ở Tân Trào, Bác cũng ở trong lán dựng trước
cửa một cái hang. Với chiếc máy chữ nhỏ đặt trên
cái bàn nứa trong lán, Bác làm việc ở đó, và ăn
ngủ cũng ở đó.
Cây đa Tân Trào.
Bác bận rộn suốt ngày. Các đồng chí trong
Trung ương thường xuyên đến họp bàn, xin ý kiến,
nhận chỉ thị của Bác. Các đoàn thể, đồng bào địa
phương cũng thường lui tới thăm hỏi Bác.
Bác đi tới đâu cũng chiếm được tình cảm của
đồng bào. Chỉ một thời gian ngắn ở Tân Trào mà
từ cụ già đến em nhỏ ai cũng hết sức kính trọng,
thương yêu Bác như chính người ruột thịt của
mình. Đồng bào gọi Bác là ông Ké - ông Ké Nùng,
ông Ké Tày. Có chút thịt rừng săn bắn được, hay
ngọn măng, con cá, mớ rau đồng bào cũng đem
đến biếu Bác. Thường thì Bác chỉ cảm ơn chứ
không nhận. Bác không bao giờ làm phiền đồng
bào. Đôi khi quá nể phải nhận thì Bác bảo nhà
bếp nấu lên, Bác cháu cùng chia ngọt sẻ bùi.
Sinh hoạt quá kham khổ, Bác lại có tuổi mà
phải làm việc quá nhiều, sức khỏe sút kém nên
17
thỉnh thoảng Bác bị sốt. Lần ấy Bác sốt cao, kéo
dài. Chúng tôi rất lo lắng. Thuốc men không có đủ.
Bác sốt vậy mà vẫn cứ làm việc không chịu ngủ.
Tôi ở cái lán bên cạnh lán của Bác. Đêm ấy,
thấy Bác vẫn thức làm việc đến tận khuya mà cơn
sốt vẫn chưa dứt, tôi đánh liều bước vào thưa:
- Thưa Bác, đã khuya rồi Bác lại đang sốt, xin
Bác đi nghỉ.
Bác nhìn tôi âu yếm:
- Đến phiên chú gác à? Bác sợ sốt mà nằm là nó
lấn tới. Phải hoạt động, làm việc, vã được mồ hôi
ra sẽ nhẹ người, rất tốt.
Thế là Bác lại tiếp tục làm việc. Tôi nhìn mà
thương quá. Người Bác gầy đi nhiều. Chòm râu,
mái tóc đã thêm nhiều sợi bạc. Bác cặm cụi bên
ngọn đèn, lúc quá mệt, Người bước ra vươn vai, hít
thở khí trời, đi lại xem anh em chúng tôi ngủ có
ngon lành, canh gác có nghiêm, chặt không. Bác
giắt lại màn, vén lại chăn cho từng người, rồi Bác
lại tiếp tục làm việc.
Bao giờ cũng vậy, chỉ đến khi con chim từ quy
đã kêu quá nửa vòng núi, tức đã gần sáng, Bác
mới đi ngủ.
...
Hôm sau, tôi báo cáo với các đồng chí cấp trên, bàn
phải tìm thầy lang. Ở bản bên cạnh, có một bà lang
có tiếng, chúng tôi mời bà đến thăm bệnh cho Bác.
Bác không phản đối nhưng Bác cũng không nói gì.
Sau khi thăm bệnh nhân, bà lang đã bảo tôi đi
tìm mấy thứ lá cây theo chỉ dẫn của bà đem về.
18
Các loại lá được đun sôi để Bác xông. Nhưng trước
khi xông, bà lang dùng cành lá quay chung quanh
như phù phép. Bác vẫn ngồi điềm nhiên. Tôi
không dám cười. Tôi cứ nghĩ một người cộng sản
như Bác làm sao lại có thể tin vào cái trò phù
phép ấy. Nhưng sao Bác lại cứ để yên cho bà lang
làm như thế, mà không thấy trên nét mặt Bác tỏ
ra một thái độ gì.
Cuối cùng bà lang đã bảo Bác xông và sau đó
uống thuốc nam.
Đúng là xông xong, Bác thấy người nhẹ nhõm,
thoải mái hơn. Bác lại tiếp tục công việc. Mãi đến
giờ nghỉ chiều, hai Bác cháu ra bờ suối tưới rau,
tôi mới dám hỏi Bác chuyện ấy:
- Thưa Bác, bà lang làm phép như vậy có thể
tin không ạ?
Bác cười:
- Bác biết bà lang là người biết cách chữa bệnh
bằng cả phương pháp tâm lý nữa. Mình không nên
làm phật ý người ta. Vận động, tuyên truyền đồng
bào trừ mê tín là việc làm lâu dài, phải kiên trì,
không được nôn nóng.
Nghe lời Bác dạy, tôi mới hiểu thêm bài học về
cách cư xử của Bác với đồng bào địa phương, cách
thức tuyên truyền vận động quần chúng của Bác.
Tôi tự rút ra cho mình một bài học trong quan hệ
với nhân dân.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
19
NHỮNG LỜI BÁC DẠY
Tôi có một niềm hạnh phúc rất lớn là được gặp
và làm việc bên Bác Hồ vào những ngày đầu Cách
mạng Tháng Tám và những tháng đầu năm 1950.
Những kỷ niệm sâu sắc được sống bên Bác không
bao giờ tôi quên.
Hồi đầu Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội chuẩn
bị đón quân Đồng minh vào tiếp nhận phát xít
Nhật đầu hàng. Các đồng chí ở Văn hoá cứu quốc
trao trách nhiệm cho đồng chí Nguyễn Huy Tưởng
và tôi phụ trách các khẩu hiệu treo ở đường phố.
Thủ đô Hà Nội trong những ngày ấy rợp màu đỏ
của cờ và khẩu hiệu. Các khẩu hiệu trên băng đỏ,
chữ vàng chói lọi bằng các thứ tiếng Việt, Nga,
Anh, Pháp với nội dung:
“Nước Việt Nam của người Việt Nam”
“Độc lập hay là chết!”
“Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta”.
Một hôm, Nguyễn Huy Tưởng cùng đi với tôi
trên các hè phố Hà Nội, anh cười bảo tôi: “Khoa
này, những khẩu hiệu và cờ như choàng cho Thủ
đô chiếc áo ngày cưới”.
20
Đến tối, chúng tôi được biết Bác Hồ chỉ thị phải
bỏ khẩu hiệu: “Hoan hô những người giải phóng
cho chúng ta”. Bác bảo: Cách mạng Tháng Tám do
Đảng ta lãnh đạo chúng ta đấu tranh gian khổ với
thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành lại chính
quyền, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có
ai đến giải phóng cho chúng ta đâu mà các chú
làm khẩu hiệu “Hoan hô những người giải phóng
cho chúng ta”.
Nguyễn Huy Tưởng và tôi ngay đêm hôm ấy
mượn cái xe cam nhông của Toà Thị chính Hà Nội
để đi các phố gỡ những khẩu hiệu non yếu về
chính trị của chúng tôi.
Bác Hồ của chúng cháu! Chúng cháu nhớ mãi
kỷ niệm này của đời một người cán bộ cách mạng:
Độc lập, Tự do không nhờ ai đem đến cho mình
được. Phải có Đảng lãnh đạo, phải đem xương
máu của dân tộc mình ra giành lấy và bảo vệ lấy.
Sau đó, tôi được Đảng điều đến làm việc ở văn
phòng Bác. Hôm đến làm việc với Bác, một cử chỉ
rất thân mật của Bác làm tôi xúc động, nước mắt
cứ trào ra. Bác để tay lên vai tôi, và một tay Bác
cài chiếc khuy cổ áo sơ mi cho tôi. Tôi ăn mặc cũng
chỉnh tề lắm, nhưng chiếc khuy cổ áo quên không
cài. Bác bảo: “Chú làm công tác với những người
nước ngoài phải nhớ ăn mặc cho tươm tất”. Lời nói
của Bác như một người cha dạy đứa con nhỏ. Năm
ấy tôi đã 30 tuổi và cho đến ngày nay và mãi mãi,
21
mỗi khi nghĩ đến cử chỉ thân mật của Bác Hồ, tôi
vẫn giữ niềm vui như một đứa trẻ nhỏ được người
cha già chăm nom săn sóc cho từng ly từng tí.
Những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, bao
nhiêu khó khăn gian khổ: giặc ngoài thù trong giở
đủ trò đủ quẻ, ra sức phá hoại cách mạng. Trong
những ngày sóng gió như thế, Bác Hồ đã vững tay
lái, đưa dân tộc ta qua bao nỗi khó khăn, hiểm
nghèo. Tôi nhớ hồi đó, một buổi sáng, đồng chí T. lại
đến báo cáo tình hình với Bác. Bọn giặc làm lắm
điều ức không thể chịu được. Bọn phản động trong
nước cũng ra sức hoành hành. Đồng chí T. gặp phải
nhiều khó khăn quá cũng phải lắc đầu. Bác Hồ bình
tĩnh bảo: “Cái đầu của chú trong lúc này không được
lắc. Để giành được cái to lớn và quý báu, tạm thời
chúng quấy nhiễu đòi hỏi gì cũng phải gật”.
Câu nói của Bác đến nay tôi vẫn còn nhớ như
in. Bác đã dạy cho những người yêu nước một
nhân sinh quan cách mạng: nếu cứu được nước thì
dù bao nhiêu cay đắng cũng phải chịu. Càng nghĩ
đến câu nói ngày ấy của Bác, cháu càng thấy
thấm thía lời Bác dạy ngày nay: Không có gì quý
hơn Độc lập, Tự do.
Năm 1950, tôi lại có dịp được Đảng giao cho đi
công tác bên Bác Hồ. Trong khi đi đường, Bác hỏi
tôi: Chú Khoa làm công tác văn nghệ có thuộc
Chinh phụ ngâm không? Tôi trả lời: Thưa Bác,
cháu thuộc từng đoạn thôi ạ.
22
Bác bảo tôi: “Làm công tác văn nghệ mà không
tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được
đâu”. Và từ hôm ấy trong khi đi đường, mỗi buổi
sáng, Bác dạy tôi bốn câu trong Chinh phụ ngâm,
buổi chiều Bác bảo tôi đọc lại, rồi Bác lại dạy tôi
bốn câu tiếp. Cứ thế trong mấy chục ngày đường
đi bộ, Bác dạy tôi thuộc lòng cuốn Chinh phụ
ngâm từ đầu đến cuối.
Thỉnh thoảng Bác lại hỏi tôi xem có hiểu nghĩa
câu văn cho thực sâu không, và Bác bảo tôi ngâm
những đoạn Bác thích. Thỉnh thoảng Bác động viên
tôi: “Giọng chú ngâm cũng khá đấy!”. Hai Bác cháu
cùng cười. Bác bảo: “Đi đường ngâm nga như thế
vừa vui vừa quên cái mệt”. Bác đi bộ khoẻ lắm. Có
giờ Bác đi tới sáu cây số. Trên những quãng đường
vắng của núi rừng Việt Bắc, một ông già mặc bộ
quần áo chàm, đầu đội chiếc nón, vai khoác chiếc
túi vải xanh trong đựng một cuốn sổ tay, một hộp
thuốc lá, một chiếc bật lửa và một chiếc khăn mặt,
đó là hình ảnh Hồ Chủ tịch đi bộ hàng chục ngày
đường trèo đèo, lội suối để làm việc cho Tổ quốc
trong những ngày lịch sử vô cùng trọng đại của
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Bác Hồ đã vĩnh biệt chúng ta! Bác ơi, ngồi viết
lại những dòng hồi ký này trong đêm khuya tĩnh
mịch, nước mắt cháu trào ra vì đau thương, vì nhớ
Bác. Những ngày cháu được công tác bên Bác,
cháu đã được nghe Bác kể chuyện những ngày Bác
23
bị tù trong tay bọn Quốc dân Đảng Tưởng Giới
Thạch. Cả cuộc đời Bác là của giai cấp, của dân
tộc, của Tổ quốc. Bác đã dạy dỗ cháu, dìu dắt
cháu. Mỗi lần chúng cháu làm xong một phim và
được vinh dự đem chiếu để Bác xem, Bác chỉ bảo
cho chúng cháu: người làm công tác nghệ thuật
phải làm thế nào phục vụ nhân dân được tốt, phải
làm gì cho xứng đáng là nghệ sĩ cách mạng.
Chúng cháu nguyện nghe theo lời Bác, cố gắng
đấu tranh với bản thân mình, trau dồi đạo đức
cách mạng, trau dồi nghệ thuật để xứng đáng
đứng trong hàng ngũ những người nghệ sĩ cách
mạng, dưới ngọn cờ của Bác.
Nguồn: Người là Hồ Chí Minh (Tập hồi ký),
Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995.
24
BÁC HỒ VÀ TẾT BÍNH TUẤT NĂM 1946
Không hiểu từ bao giờ, Tết Âm lịch đã trở nên
thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Tết
Bính Tuất đến chỉ sau ngày Bác tuyên bố khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hơn
năm tháng. Vì vậy không chỉ người dân Hà Nội
mà mọi người dân trong cả nước đều nghĩ đến Tết
độc lập đầu tiên sớm hơn mọi năm. Một tuần nữa
mới tới ngày ông Táo lên trời mà mọi nhà đã sửa
soạn cả rồi. Đối với Bác Hồ, mặc dù bận trăm công
nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng vẫn không
quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.
Tối ngày 19-1-1946, Bác hỏi tôi:
- Chú Cần xem sắp đến ngày Tết ông Táo
chưa nhỉ?
- Thưa Bác, hôm nay mới là 18 tháng Chạp,
còn năm ngày nữa ạ.
Đêm đó, Bác trằn trọc không ngủ. Nghe tiếng cựa
mình, tôi biết Bác còn thức. Chắc giờ này Bác
đang nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ cả nước.
Sáng 20, Bác gọi tôi lại, bảo lấy giấy bút, Bác đọc
cho viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến.
25
Thư ngắn gọn và tôi cứ tưởng như Bác đang nói
chuyện với mọi người: “Tôi kêu gọi đồng bào và các
đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân
mừng Tết với:
Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,
Những gia quyến các chiến sĩ,
Những đồng bào nghèo nàn,
Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui
về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”1.
Ngay chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi thanh
niên và nhi đồng. Bác gửi riêng cho thanh niên và
nhi đồng bởi đây là những chủ nhân tương lai của
đất nước, cả nước đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ
mà thư trước Bác chưa nhắc đến. Bác đọc chậm
rãi cho tôi viết và cẩn thận sửa lại một số từ mà
Bác chưa vừa lòng. Lời so sánh trong thư làm cho
bất cứ bạn trẻ nào khi đọc, khi nghe cũng đều
thấy một sức xuân phơi phới trong mình: “Một
năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ
tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”2. Thư
Bác khuyên bảo: “Năm mới, chúng ta thực hành
đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng
đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”3.
Ngày 1-2-1946, tức 30 Tết, từ sáng sớm anh Cả
(tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) mang đến hai
____________
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2015, t.4, tr.186, 194.
26
bọc nói là Bác đã dặn. Chiều lúc đi làm về, Bác nói
với tôi:
- Tối nay chú đưa Bác đến thăm một số gia
đình Tết nghèo, Tết vừa, Tết khá, Tết sang. Chú
không phải báo trước cho bất cứ ai.
Bác lại dặn chỉ cần hai bảo vệ, một lái xe đi cùng
nên tôi rất lo lắng, bởi ta vừa giành được chính
quyền, các thế lực phản động vẫn đang rắp tâm phá
hoại cách mạng. Thấy tôi không yên tâm Bác giải
thích và động viên: “Chú có biết cách bảo vệ tốt nhất
là gì không? Bảo vệ tốt nhất là bí mật và bất ngờ!”.
Bác nói thêm:
- Dân ta rất tốt. Chú phải tin vào dân.
Lời nói của Bác làm tôi bình tĩnh hơn, nhưng
vẫn chưa hết lo. Là một cán bộ hoạt động bí mật ở
Hà Nội, tôi hiểu khá tường tận các đường phố nên
sắp sẵn trong đầu những chỗ sẽ đến, những phố sẽ
đi qua làm thế nào để đường đi ngắn và an toàn.
19 giờ ngày 30 Tết, trời tối đen. Cái tối đêm 30.
Trời rét ngọt. Năm Bác cháu lên xe. Xe chạy qua
từng phố vắng vẻ. Cái ồn ào, sôi động của không
khí đón Tết giờ này đã chuyển vào trong từng ngôi
nhà, để lại cho đường phố một vẻ yên tĩnh lạ
thường. Xe dừng lại ở đầu ngõ Hàng Đũa, phố
Sinh Từ. Bác cháu lần mò vào trong ngõ. Đường
mấp mô, có lúc phải bật đèn pin. Tôi đưa Bác vào
một nhà ở cuối ngõ, gọi cửa không thấy tiếng trả
lời. Không cài then, tôi đẩy cửa vào một căn phòng
27
hẹp lạnh lẽo. Ngọn đèn dầu nhỏ không đủ soi
sáng. Tôi hỏi to:
- Nhà có ai không?
Chỉ có tiếng rên từ một chiếc võng tre kê sát
vách. Lại gần thấy một người đắp chiếu đang rên.
Tôi ghé vào đầu giường nói:
- Cụ Hồ đến chúc Tết đấy!
Không thấy tiếng đáp lại, nhưng tiếng rên
không to nữa. Tôi rờ tay lên trán chủ nhà thấy sốt
nóng. Bác bảo kéo chiếu kín cho chủ nhà, rồi Bác
cháu lặng lẽ đi ra, khép kín cửa lại. Ngồi trên xe
Bác nói khẽ như nói với chính mình: “30 Tết mà
không có Tết”. Không khí trong xe lặng đi. Chỉ
nghe thấy tiếng động cơ xe chạy. Bác dặn tôi: “Mai
chú nhớ mang thuốc, quà và thiếp chúc Tết đến
thăm hỏi” (Sáng hôm sau, khi mang thuốc, quà và
thiếp chúc Tết đến thăm, chúng tôi mới biết chủ
nhà là người tỉnh khác về Hà Nội làm phu kéo xe
không đủ tiền để về quê ăn Tết với gia đình).
Xe dừng lại trước cửa một nhà ở phố Hàng Lọng
gần ga Hàng Cỏ (nay là phố Lê Duẩn), gọi cửa có
người ra mở ngay. Khi nhận ra Cụ Hồ, mọi người
luýnh quýnh kéo vội quần áo đang phơi trên dây
chăng ngang nhà. Đây là nhà của một viên chức
nghèo. Cụ Hồ chúc Tết, thăm hỏi gia đình. Gia
đình vui sướng quây quần quanh Bác, quên cả chúc
Tết Cụ Hồ. Xe tới phố Hàng Vải Thâm. Phố vắng
tanh và lạnh, đèn điện sáng lờ mờ. Nhưng khi cánh
28
cửa nhà hé mở thì ánh điện trong nhà sáng loé.
Căn nhà hẹp nhưng sâu. Gian bên ngoài kê một bộ
sa lông bằng gỗ nghiến trạm trổ, mặt bàn bằng đá
vân mây, lọ độc bình cao to cắm cành đào như cả
một cây, nụ to, hoa nở đỏ thắm choán cả lối đi. Bên
kia là một chậu quất, quả chín mọng. Cạnh đó là
mấy chậu cúc vàng. Sâu vào bên trong có một chiếc
giường gụ chân quỳ kê sát tủ chè lồng kính. Bên
trên là bàn thờ, đỉnh đồng sáng bóng, khói trầm
nghi ngút, bày mâm cỗ, bánh chưng và ngũ quả,
trong đó có bưởi và phật thủ. Cụ Hồ chúc Tết gia
đình và gia đình cũng chúc Cụ Hồ năm mới sống
lâu mạnh khỏe!
Tới mấy nhà buôn bán to và quan lại cũ, gọi
cửa không thấy mở. Bác ngồi trên xe thấy lâu, ra
hiệu thôi. Bác cháu trở về nhà.
Nhắc lại chuyện cũ, tôi nhớ câu thơ của Tố Hữu:
“Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”
Người Hà Nội có thói quen đón Tết trong ngôi
nhà ấm cúng của gia đình cho nên đường phố
vắng teo. Lúc đó đã là 21 giờ 30 phút. Vừa về đến
nhà (số 8 Lê Thái Tổ), Bác bảo riêng tôi lên phòng,
bàn chương trình đón giao thừa. Tôi mở hai gói lúc
sáng anh Cả chuyển đến. Đó là quần áo dành cho
Bác và tôi cải trang đi đón giao thừa ở đền Ngọc
Sơn. Bác mặc thử: khăn xếp, áo the, quần trắng,
29
giầy Gia Định, kèm theo chiếc mục kỉnh đeo trễ
xuống, trông Bác như một cụ đồ nhà quê. Tôi mặc
quần trắng, áo láng đen, chân đi dép da, đầu tóc
để trần, trông hệt như con nhà nền nếp. Mặc thử
xong Bác bảo tôi:
- Trước 12 giờ, hai Bác cháu đi bộ ra đền Ngọc
Sơn hái lộc đón giao thừa.
Bác dặn thêm:
- Không cần bảo vệ đi theo.
Lúc này tôi lo lắng thật sự.
Bác nhắc lại câu: “Bảo vệ tốt nhất là bất ngờ và
bí mật”. Và nhớ lại câu nói của Bác “Dân ta rất
tốt”, “Chú phải tin ở dân”, nỗi lo trong tôi vơi đi
phần nào. Trước lúc ra khỏi nhà tôi giấu Bác giắt
khẩu súng ngắn trong cạp quần cho yên tâm.
Chập tối, các đường phố vắng vẻ là thế, mà lúc
này, người người nối đuôi nhau trên các nẻo
đường đổ về hồ Hoàn Kiếm đón giao thừa. Cầu
Thê Húc, đền Ngọc Sơn chật ních người. Tôi đi
trước tay trái dắt Bác, tay phải rẽ người chen vào
đám đông. Trông Bác lúc này giống hệt ông cụ
nhà quê ra ăn Tết với con cháu ở Hà Nội. Người
Thủ đô vốn có tiếng là thanh lịch, nhưng đêm giao
thừa đó, khi dắt Bác chen qua đám trai thanh gái
lịch, tôi vẫn nghe thấy tiếng đầy bực dọc: “Hai ông
cháu nhà quê đi đâu mà lớ ngớ, không cúng lễ mà
cũng chẳng hái lộc”! Bác như đang hòa vào không
khí vui xuân với người dân Hà Nội, còn tôi chỉ lo
30
lạc Bác. Lúc trở ra qua được cầu Thê Húc, hai Bác
cháu nhìn nhau mỉm cười. Có lẽ thấy được sự lo
lắng của tôi thể hiện trên nét mặt nên Bác nói:
- Tôi trông chú thấy buồn cười quá. Bây giờ
chưa về ngay đâu, hai Bác cháu đi dọc thêm phố
Hàng Đào xem mọi người đón Tết ra sao.
Cảm giác lo lắng theo tôi suốt dọc đường. Chỉ
khi về đến nhà tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi gọi
điện cho Giám đốc Sở Liêm phóng, báo tin hai Bác
cháu vừa đi đón giao thừa ở đền Ngọc Sơn. Giám
đốc Sở Liêm phóng được một phen hú vía. Cũng
như Giám đốc Sở dân chính Hà Nội, không ai biết
đêm giao thừa đầu tiên của nước Việt Nam độc
lập, Cụ Hồ đã cùng nhân dân Thủ đô chen vai sát
cánh đón Tết Độc lập.
Sáng mồng một Tết, Bác dậy sớm. Chưa đến
giờ làm việc, Bác đã bảo tôi đem giấy ra viết khai
bút. Bác bảo tôi viết to cho dễ đọc: “Hôm nay là
ngày mồng một Tết năm Bính Tuất. Ngày Tết đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Tôi
thấy mình nhỏ bé lại như những ngày đi học trước
kia, chẳng khác lúc thầy đọc cho viết chính tả. Bác
chúc đồng bào cả nước, chúc các chiến sĩ ngoài
mặt trận, chúc gia quyến các chiến sĩ ở hậu
phương, năm mới vui vẻ, khoẻ mạnh và thắng lợi.
Viết xong, Bác bảo tôi:
- Chú báo chú Hưng, 7 giờ đến gặp Bác ở Bắc
Bộ phủ.
31
Đồng chí Trần Duy Hưng có mặt tại phòng làm
việc của Bác trước 7 giờ. Bác nói:
- Bác đã viết thư kêu gọi trước Tết ông Táo mà
các chú không tổ chức làm cho nhiều gia đình
không có Tết. Các chú có khuyết điểm không thực
hiện thư Bác. Thế các chú sửa khuyết điểm này
như thế nào?
Chúng tôi đứng lặng nhìn nhau, chưa biết nói
thế nào, Bác nói tiếp:
- Thôi thế này, các chú cùng đội tuyên truyền
xuống các đường phố, xem nhà nào chưa có Tết thì
vận động hai nhà bên cạnh biếu họ chiếc bánh
chưng và quả cam.
Chúng tôi làm theo lời Bác. Tết năm ấy, những
gia đình nghèo cũng được hưởng Tết, đón Xuân.
Đồng chí Vũ Kỳ kể.
Nguồn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
32
“MUỐN VẬN ĐỘNG CÓ KẾT QUẢ,
MÌNH PHẢI LÀM GƯƠNG!”
Hôm đó là ngày 19-5-1946. Chúng tôi đến chúc
thọ Hồ Chủ tịch cùng mấy đoàn thể. Giới thiệu
đến Ủy ban Đời sống mới, Cụ bỗng hỏi như níu lại:
- Đời sống mới là ai?
Đóng khung câu chuyện, Cụ hỏi dồn dập, chăm
chú, không cho chúng tôi lảng sang vấn đề khác.
Buổi chúc thọ Hồ Chủ tịch bỗng biến thành cuộc
thảo luận ráo riết và thân mật về đời sống mới.
- Chú cho tôi biết cuộc vận động đời sống mới
đến đâu rồi?
- Thưa Cụ, - tôi đáp, - chúng tôi đã bắt đầu
bằng sự chia ra các ban nghiên cứu, tổ chức, v.v..
Nhưng công việc chính là định rõ cái hướng cho
đời sống mới. Mấy khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm,
chính” chúng tôi xét ...
 





